Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

CHƯƠNG III_NHÂN CHỨNG CUỐI CÙNG


CHƯƠNG III


Thanh tra cảnh sát Minh tới ngay chiều hôm ấy trong sự tiếp đón nồng nhiệt và lòng hy vọng của mọi người. Ông Minh khoảng gần năm mươi tuổi, người trầm lặng ít nói, cặp mắt sáng, hơi dữ biểu lộ một nghị lực mạnh mẽ. Bàn tay trái cụt mấy ngón út, dấu tích của những lần chạm trán gay go với bọn bất lương. Trước hết ông nhờ Nguyễn Phương thuật lại mọi việc kỳ dị xảy ra trong mấy ngày qua rồi dạo quanh biệt thự nhiều lần để quan sát địa thế. Biệt thự Hồng Hoa khá rộng, cây cối um tùm, lại ở chỗ vắng vẻ nhưng nhờ có đàn chó nên kẻ gian cũng khó đột nhập. Tuy thế ông Minh vẫn có vẻ lo ngại về điểm trong nhà có nội ứng.
 

- Lê Mai, nếu anh thật tình là nạn nhân của một âm mưu mờ ám thì anh hãy cho tôi biết những bí mật của vụ án 02-10-60.
 

Ông Lê Mai lắc đầu:
 

- Tôi xác nhận chắc chắn với anh rằng không hề có một uẩn khúc nào trong vụ án đó. Tôi nhờ anh đến đây với tư cách một người bạn để tạm thời ngăn chặn bọn gian trong khoảng một tuần lễ thôi. Sau đó, tôi sẽ thu xếp mọi việc êm đẹp.
 

- Thôi được. Tôi sẽ nhúng tay vào vụ này vì tình bạn, dù là mới quen biết và vì vụ này có rất nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn.
 

- Cám ơn anh. Anh còn cần gì nữa không?
 

- À, Lê Mai, anh có nghi ngờ người nào trong nhà là người của bọn bí mật không?
 

- Không, tất cả đều đáng tin cậy.
 

Mọi người đều im lặng một chút, Nguyễn Phương chợt lên tiếng:
 

- Thưa ông thanh tra, chừng nào ông mới có thế chặn đứng những vở kịch kinh dị trong nhà này?
 

Ông Minh nở nụ cười bí mật:
 

- Rồi cậu xem, trong vòng năm ngày nữa tôi sẽ còng tay bọn chúng. Chắc chắn là như vậy.
 

Nguyễn Phương toan hỏi tiếp nhưng câu chuyện bị cắt ngang lúc đó bởi bữa ăn chiều. Sau đấy, ông Minh lên phòng đọc sách, xem xét cái bàn có để hai bức thư đầu tiên do bàn tay vô hình đem lại rồi ra tựa cửa sổ nhìn ra ngoài. Bây giờ là lúc hoàng hôn, bầu trời thật sự rực rỡ với những đám mây nhiều màu sắc và mặt trời đỏ ối ở phương xa rọi những tia nắng nhạt báo hiệu màn đêm sắp buông xuống. Đây đó, những cánh chim đang bay về tổ tạo cho bức tranh thiên nhiên một vẻ sống động tuyệt vời. Ông Minh lên tiếng:
 

- Trời hôm nay đẹp quá! Nhất là những cánh chim bay lượn tượng trưng cho sự tự do.
 

Nguyễn Phương hơi ngạc nhiên. Ông Minh mà cũng để ý tới cảnh vật ngoài trời và còn định làm văn sĩ tả cảnh nữa.
 

Chàng họa sĩ định trả lời thì ông Minh đã hỏi:
 

- Với mắt một nhà họa sĩ, cậu thấy những con chim bồ câu ra sao?
 

- Thưa ông thanh tra, ông định bàn đến vấn đề mỹ thuật hay sao? Chim bồ câu có thể là tượng trưng cho hòa bình và là một... món ăn ngon.
 

Ông Minh phá lên cười đáp:
 

- Nhưng dưới mắt một người trong nghề nghiệp như tôi thì chim bồ câu là giống vật được dùng để đưa thư lúc ngành bưu điện chưa phát triển.
 

- Thưa ông thanh tra, ông ngụ ý gì khi bàn tới chim bồ câu?
 

- Cậu khá thông minh đó. Tôi trở lại vấn đề ngôi biệt thự Hồng Hoa này một chút. Căn cứ vào những lời tường thuật lại, tôi kết luận rằng có lẽ bọn gian đã dùng chim bồ câu, theo lối cửa sổ này để mang tới hai bức thư có giọt máu đỏ và hình con quạ đen chứ không có người nào có thể thực hiện việc đó.
 

- A!
 

Nguyễn Phương reo lên thích thú. Giải thích như vậy thật giản dị và hợp lý. Tiếng ông Minh lại nổi lên:
 

- Nếu cậu để ý thêm một chút nữa thì sẽ tấy trên mặt bàn gỗ bóng loáng có vài vết xước nhỏ và hơi mờ, có lẽ do móng chân chim tạo nên khi đậu xuống để bức thư.
 

- Nhưng thưa ông thanh tra, thường thường thư được buộc vào chân chim bồ câu và phải có người tháo ra mới được chứ?
 

- Đó cũng là một vấn đề nhưng không phải là khó khăn. Ở đây có thể là một loài chim khác không phải chim bồ câu và nó ngậm thư ở mỏ được nếu quãng đường bay không dài lắm.
 

Ngừng một chút ông Minh tiếp:
 

- Còn bức thư thứ ba có dằn con dao thì chắc chắn phải do người mang lại chứ không loài chim nào đủ sức mang con dao quá nặng. Tôi cũng nghĩ rằng trong nhà này có nội ứng nhưng chưa biết kẻ ấy là ai.
 

Nguyễn Phương nghe nói, thầm phục ông Minh. Nhận xét của một ông thanh tra cảnh sát cũng có khác, ông Lê Mai từ nãy ngồi ủ rũ ở góc phòng cũng lên tinh thần một chút, cất tiếng khen;
 

- Anh nhận xét tài lắm. Có lẽ bọn gian không ghê gớm như chúng ta tưởng. Chúng chỉ có những tiểu xảo nho nhỏ mà trong lúc bối rối ta không khám phá được mà thôi.
 

- Rồi anh xem tôi sẽ lôi tất cả bí mật ra ánh sáng.
 

Ông Minh đáp với vẻ tự tin.
 

Không khí trong phòng nhờ thành công của ông Minh tươi sáng lên được một chút và uy tín ông Minh cũng tăng lên gấp bội. Nguyễn Phương huýt sáo một điệu nhạc vui trong khi ông Lê Mai thấy tương lai sáng sủa hẳn lên. Lúc ấy chợt bác quản gia chạy vào báo:
 

- Thưa ông chủ, có một người khách muốn gặp ông chủ.
 

- Khách? Ông ta xưng tên gì? Già hay trẻ?
 

- Thưa, ông ta không nói tên, nhưng mặc một bộ đồ đen, kể cả cái áo choàng nữa và đặc biệt có một con quạ đen đậu trên vai.
 

Nghe đến con quạ, ông Lê Mai biến sắc mặt thấy như khó thở và hơi mệt. Ông Minh bình tĩnh hơn nói:
 

- Bác cứ mời người khách ấy vào, tôi sẽ lo liệu mọi chuyện.
 

Nhưng khi bác quản gia ra ngoài thì người khách không còn ở đó nữa. Ông ta đã bỏ đi một cách khó hiểu và kỳ cục. Ông quản gia đang ngơ ngác thì một giọng nói cất lên:
 

- Thế nào? Ông chủ anh trả lời ra sao?
 

Ông Hai hơi giật mình. À, thì ra người khách đứng nép sau tàng cây lớn trước cổng chứ chưa đi mất. 
Mặt ông ta lúc này trông lạnh như tiền, phảng phất có một mùi gì độc ác và tàn nhẫn...
 

- Thưa, mời ông vào. Xin ông thứ lỗi cho vì phải đợi hơi lâu nhưng mấy ngày nay ở đây gặp chuyện rắc rối nên rất cẩn thận đối với khách đến thăm.
 

Ông khách gật đầu, thả con quạ đậu lên một nhánh cây rồi vào nhàn. Vừa lúc đó ông Lê Mai cũng vừa trên lầu đi xuống phòng khách. Ông chợt ngạc nhiên sững sờ, nhìn người khách với vẻ mừng rỡ rồi buột miệng:
 

- Lâm đó phải không?
 

Ông khách bình tĩnh:
 

- Phải. Đoàn Văn Lâm đây.
 

Lúc này ông Lê Mai không còn nén được cảm xúc nữa. Ông chạy lại ôm chầm lấy khách và nói như trong một giấc mơ.
 

- Lâm, anh về đây mà tôi ngỡ là mộng ảo chứ không phải sự thực. Tôi tưởng anh đã chết ngoài đó chứ đâu còn về đây được.
 

- Phải, tôi đã nhiều phen suýt chết nhưng bây giờ thì cuộc thử thách đã chấm dứt trong dĩ vãng.
 

Ông Lê Mai buông bạn ra, nhìn đăm đăm, rồi vụt hỏi:
 

- Sao anh lại ăn mặc thế này? Đem thêm con quạ nữa làm tôi hết hồn.
 

- Lê Mai, anh hiểu cho rằng tôi phải cải trang như vậy thì khi tới đây mới khỏi lộ tông tích.
 

- Anh nói vậy nghĩa là sao?
 

Ông Lâm ngồi xuống ghế, nhìn quanh quất rồi hỏi bạn:
 

- Liệu chỗ này có kín đáo không? Câu chuyện này không thể lọt vào tai người thứ hai được.
 

- Vậy chúng ta lên phòng riêng của tôi, ở đó chắc chắn không có ai rình rập.
 

Và lúc hai người lên phòng của ông Lê Mai rồi, ông Lâm bắt đầu câu chuyện:
 

- Anh còn nhớ Phạm Ngọc Cảnh và vụ án 02-10-60 không?
 

Ông Lê Mai hoảng hốt:
 

- Trời ơi, cũng vụ đó nữa sao? Tôi đang điên đầu và lo sợ mấy hôm nay vì việc đó.
 

Ông Lâm yên lặng một chút rồi đáp:
 

- Lê Mai à, thú thật với anh là thời gian gàn đây, tôi bị khủng hoảng tinh thần không ít. Tên Phạm Ngọc Cảnh đã trở về và quyết tâm trả thù kẻ hại hắn ngày xưa, trong đó tôi là nạn nhân đầu tiên. Tôi tìm đến anh hôm nay cũng vì việc ấy.
 

- Nhưng hắn định làm gì anh chứ?
 

- Có ba bốn bức thư hăm dọa và những việc kinh dị liên tiếp xảy ra ở nhà tôi và mới hai ngày trước, tôi bị ám sát bằng súng nhưng may mắn là không việc gì.
 

Ông Lê Mai lặng người, cất giọng hơi run:
 

- Nếu vậy thì hắn đã quyết giết chúng ta. Tôi cũng không hơn gì anh và cũng sắp mất trí luôn. Nhưng lỗi đó không phải của tôi tất cả.
 

- Sao lại không phải ở anh tất cả? Tôi chỉ là đồng lõa thôi mà bây giờ cũng muốn chết đi sống lại với lối trả thù quá rùng rợn ấy.
 

- Lúc này anh không cần biết rõ làm chi mà chỉ nên hiểu rằng trong vụ án 02-10-60 còn rất nhiều uẩn khúc. Việc cần thiết trước mắt là đối phó với tên Phạm Ngọc Cảnh. Tôi không muốn chết lần mòn trong tình trạng khủng hoảng này.
 

- Anh cứ nói những uẩn khúc đó đi.
 

- Không được. Nhưng một ngày nào đó anh cũng sẽ biết.
 

Tới đây, ông Lê Mai đổi đề tài:
 

- Trước khi anh tới đây, tôi đã có ý định trốn sang Thái Lan nhưng chưa có cơ hội ra khỏi biệt thự Hồng Hoa để thu xếp công việc. Bây giờ, anh có thể thay tôi làm công việc đó và cả hai chúng ta sẽ cùng trốn một lượt. Gia tài của tôi đủ đảm bảo một đời sống vương giả.
 

- Nhưng liệu chúng ta trốn đi có kịp hay không?
 

- Thật ra cũng khó kịp lắm nhưng còn nước thì còn tát. Chúng ta phải phấn đấu đến giây phút cuối cùng.
 

- Cũng được.
 

- Vậy thì bây giờ tôi ký cho anh một chi phiếu năm triệu. Anh ra ngân hàng lĩnh rồi dùng tiền đó thu xếp cuộc trốn tránh. Nhớ là đi được càng sớm càng tốt.
 

- Vậy tôi đi ngay bây giờ anh nhé.
 

- Khoan đã, để tôi giới thiệu anh với mọi người trong biệt thự Hồng Hoa để từ rày về sau, anh lui tới được dễ dàng. À, anh đang ở đâu nhỉ?
 

- Khách sạn Mai Lan, phòng số 13.
 

Sau khi giới thiệu ông Lâm, ông Lê Mai tiễn khách ra tận cửa, không quên chúc bạn:
 

- Chúc anh thành công mỹ mãn, cuộc đời mới đang chờ đón chúng ta.
 

Và ông Lê Mai quay vào nhà với sự vui vẻ và hy vọng. Một tia sáng đã lóe lên mang lại niềm tin tưởng cho kẻ sắp tuyệt vọng. Phòng khách lúc ấy có đủ mặt mọi người, ông Minh, bác quản gia và cả Nguyễn Phương nữa. Ông Lê Mai lên tiếng:
 

- Ông Lâm vừa rồi là một người bạn tốt.
 

Nguyễn Phương không để ý đến câu nói mà chú ý đến một vấn đề khác:
 

- Thưa bác, ông Lâm có mang một con quạ đen, vậy có dính líu gì đến bọn bí mật phá khuấy nhà này không?
 

- À, không đâu cháu. Đó chỉ là một sự tình cờ thôi.
 

Ông Minh cắt ngang câu chuyện:
 

- Thôi, bây giờ cũng tối rồi, mà ở đây lại không có điện thì tất nhiên sẽ là môi trường tốt cho bọn bí mật giở trò ma quỷ. Tôi muốn rằng suốt đêm nay phải có người ở biệt thự luân phiên canh chừng để phản ứng kịp thời đối với những chuyện lạ xảy ra.
 

- Thưa ông thanh tra, nhà này rộng quá làm sao một vài người canh gác hết được?
 

- Không cần để mắt khắp nơi làm gì, các bạn cứ...
 

Giữa lúc ấy một giọng nói rất lớn, lạnh như băng ngắt ngang lời ông Minh:
 

- LÊ MAI!
 

Mọi người giật mình quay ra nhưng trong phòng không có ai lạ cả. Vậy tiếng nói đó phát ra từ đâu? Chẳng lẽ có ma quỷ hiện ra thật sao? Ông Minh do dự rồi nói nhanh:
 

- Tiếng nói đó từ phòng bên cạnh phát ra.
 

Mọi người chạy ùa sang phòng bên. Phòng ấy cũng vắng lặng không có một bóng người. Nhưng ở trên bàn, Nguyễn Phương thấy chiếc máy hát được ai cho chạy và có lẽ phát ra tiếng vừa rồi. Ông thanh tra Minh lại gần xem xét thì giọng nói lúc nãy lại cất lên, tiếp tục lời nói vừa rồi:
 

"Tôi đã tha chết cho anh mấy lần nhưng không ngờ anh lại không biết hối hận, không biết thân phận cá trên thớt của mình mà còn dám mời ông thanh tra Minh tới đây để chống lại tôi. Đó là một thách thức quá đáng mà tôi sẽ không bao giờ bỏ qua. Ngày xưa, hàng chục năm về trước, anh đã giết vợ tôi và đẩy tôi vào vòng lao lý hơn mười năm trời. Món nợ ấy anh đã vay và sẽ phải trả trong một ngày gần đây. Nhưng tôi muốn anh chết trong một cái chết thật từ từ, ghê gớm và kinh khiếp để bù lại những tội ác đã gây ra. Tôi sẽ thành công trong việc làm ấy vì một hồn ma bao giờ cũng vô hình, một con ác quỷ báo oán bao giờ cũng thắng người nhân thế. Tôi nhắc lại một lần nữa cho anh nhớ rằng quyền lực của tôi là quyền lực tối thượng mà tất cả các kẻ kháng cự lại đều phải chết một cách thê thảm. Tiện đây, tôi nhắn luôn với ông thanh tra Minh, hãy liệu hồn mà cút đi chứ ở lại mà làm tôi nổi giận thì cũng phải chịu hình phạt tương xứng. Chào anh."
 

Đĩa hát chỉ quay đến đó là hết nhưng gây ra những phản ứng mãnh liệt và khác nhau. Bác quản gia và Nguyễn Phương thì đứng chết trân một chỗ, miệng há hốc không nói được lời nào. Ông Lê Mai thì tái xanh mặt vì giận, quát lớn: "Láo, toàn một lũ láo khoét. Ta không bao giờ giết người!" Trong khi ông Minh là người nóng nảy hơn cả, không nói gì nhưng trong lúc quá giận, nắm tay đấm mạnh làm chiếc đĩa hát vỡ tan tành.
 

Sau hơn một phút yên lặng, mọi người bắt đầu lấy lại bình tĩnh, Nguyễn Phương lên tiếng:
 

- Đáng lẽ ông không nên đập chiếc đĩa hát như vậy. Biết đâu nhờ nó chúng ta chẳng phăng lần ra thủ phạm?
 

Ông Minh thở dài đáp:
 

- Cậu nói có lý lắm. Tại lúc nãy tôi giận quá. Hơn hai mươi năm trong nghề, chưa có kẻ nào dám nói như vậy.
 

Ông Lê Mai lên tiếng giọng thiểu não:
 

- Xin các bạn đừng tin lời trong đĩa hát. Tôi bị vu oan một cách trắng trợn.
 

Bác quản gia quay sang hỏi ông Minh:
 

- Tôi không hiểu tại sao đĩa hát có thể bật một cách tự nhiên như vậy được. Không lẽ có ma thật hay sao?
 

- Thời đại nguyên tử này thì làm gì có ma quỉ. Tôi đã biết kẻ bí mật dùng cách nào để thực hiện trò quỉ thuật lúc nãy. Hắn đã làm thế nào vậy cháu?
 

Nguyễn Phương nói một cách hãnh diện:
 

- Thưa bác, không có gì lạ cả. Cháu nghĩ đĩa hát chỉ có tiếng nói ở đoạn giữa, còn khúc đầu thì không có. Vậy kẻ ấy chỉ cần vào phòng cho máy chạy, nhưng vì đoạn đầu không có tiếng nên không có ai nghe thấy. Đợi khoảng vài phút sau, tới đoạn có tiếng nói thì hắn đã đủ thì giờ cao chạy xa bay.
 

Ông Lê Mai buột miệng khen:
 

- Cháu khá lắm đó.
 

Nguyễn Phương thêm một câu lửng lơ:
 

- Cháu còn biết kẻ nào là tác giả vụ đĩa hát lúc nãy nhưng còn phải kiểm chứng lại cho chắc chắn.
*

Sáng hôm sau, Nguyễn Phương thức dậy một cách thoải mái nhờ đêm qua rất yên tĩnh, không có chuyện gì xảy ra nữa. Chàng họa sĩ thấy yêu đời như vừa hoàn thành một họa phẩm đắc ý. A! Trời hôm nay cũng đẹp mặc dầu hơi buồn, một cái buồn thi sĩ với những ánh mây xám nhạt, những tia nắng dịu và những cơn gió nhẹ thoảng khắp nơi. Lúc ấy, Nguyễn Phương chợt nghe thấy tiếng đàn dương cầm từ phòng bác Lê Mai vọng qua. Tiếng đàn hôm nay sao nghe buồn bã, ray rứt và thảm não quá. Chàng họa sĩ thở dài khi nhớ đến thực tại và bỗng có ý nghĩ sẽ hết sức giúp ông Lê Mai thoát khỏi cảnh ám ảnh này.
 

Nhưng có lẽ con người khó mà ngờ được tương lai...
 

Và trong bữa điểm tâm sáng hôm đó, mọi người đều có một vẻ im lặng, tư lự. Món bánh mì với cà ri gà cũng không ngon miệng như mọi ngày. Ông Lê Mai dợm đứng lên thì chuông điện thoại reo vang và bác Hai chạy vào báo:
 

- Thưa ông thanh tra, có người gọi điện thoại cho ông!
 

Ông Minh đứng lên, xuống phòng khách và một lát sau trở vào với một vẻ mặt hơi tái:
 

- Người lạ gọi dây nói bảo tôi rằng hãy ra ngoài biệt thự, theo con đường vắng vẻ Trương Lân sẽ nhận được một món quà.
 

- Thế anh có định đi không?
 

- Tôi cũng đang phân vân vì biết đâu nơi đó chẳng là một cạm bẫy nguy hiểm. Hai nữa là bọn bí mật có thể dùng kế điệu hổ ly sơn dụ tôi ra đó để thực hiện một mưu toan gì mờ ám tại biệt thư Hồng Hoa.
 

Nguyễn Phương lắng nghe, thầm phục lý luận chặt chẽ của ông Minh. Chàng họa sĩ đề nghị:
 

- Hay cả ba người cùng đi. Như vậy an toàn mà cũng là một cơ hội đổi gió. Mấy ngày nay sống trong nhà này tựa như địa ngục trần gian vậy.
 

Ông Lê Mai gật đầu, bằng lòng. Thế là ông Minh, ông Lê Mai và Nguyễn Phương ra đi, chàng họa sĩ cũng không quên dắt hai con chó berger theo để phòng bất trắc.
 

Trương Lân là tên một con đường nhỏ chạy ngang hông biệt thự Hồng Hoa vắng vẻ, khá nhiều cây cối và cỏ dại mọc lan tràn hai bên đường. Ba người di chuyển thật cẩn thận. Ông Minh đi trước, dẫn một con berger dò đường, Nguyễn Phương đi sau cùng canh chừng cho cả toán. Thời gian trôi qua thật chậm với sự hồi hộp của mọi người. Ông Lê Mai luôn lấy khăn tay lau mồ hôi dù thời tiết đang êm mát trong khi ông Minh cũng sờ tay vào bá súng dắt ở ngang hông. Tình thế có vẻ căng thẳng và nặng nề. Sau cùng, con chó Tô Tô trong tay ông Minh sủa dữ dội và lồng về phía trước. Ông Minh ghìm dây xích lại, đưa mắt nhìn ông Lê Minh và Nguyễn Phương. Lúc đó, một cơn gió mạnh ngược chiều thổi tới mang theo một mùi tanh. Chàng họa sĩ kêu lên:
 

- Mùi máu!
 

Và cả ba người rảo bước về phía trước. Cách đấy vài thước là một xác chết nằm sấp, và máu khô đọng thành từng vũng bên xác nạn nhân. Ông Minh bình tĩnh hơn cả, giao dây xích con Tô Tô cho Nguyễn Phương:
 

- Cậu giữ con chó để tôi lại gần xem người thật hay hình nhân như lần trước?
 

Và khi ông Minh lật ngửa xác chết, khuôn mặt nạn nhân hơi tái và quen thuộc. Ông Lê Mai hét lên:
 

- Trời ơi, Lâm!
 

Và sau đó, vì xúc động quá mức ông Lê Mai ngã quị xuống ngất đi. Nguyễn Phương thì mặt mày cũng tái xanh, quên cả đỡ ông Lê Mai dậy. Mãi tới khi hai con chó thấy chủ ngã, lồng lên thì chàng họa sĩ mới sực tỉnh và cúi xuống. Tim ông Lê Mai vẫn còn đập đều nhưng hơi yếu. Nguyễn Phương quay sang ông Minh giải thích:
 

- Bác Mai bị bệnh đau tim từ lâu rồi. Có lẽ mấy hôm nay lại tái phát.
 

- Tôi biết điều đó.
 

Câu nói của ông Minh làm Nguyễn Phương hơi ngạc nhiên nhưng chàng họa sĩ không còn đủ giờ suy nghĩ nữa. Còn nhiều việc cấp bách trước phải làm.
 

- Cậu hãy lo thoa bóp cho anh Mai tỉnh dậy rồi vực về nhà. Tôi sẽ ở đây để gọi cảnh sát tới lo liệu thủ tục về vụ án này. À, cậu cũng nên biết luôn chi tiết này: trên xác nạn nhân có ghim một mảnh giấy như sau: Đây là hình phạt nhẹ nhất cho những kẻ độc ác ngày xưa.
 

Nguyễn Phương tuân lời ông Minh như một cái máy. Vài phút sau ông Lê Minh tỉnh dậy nhưng mất hết thần sắc, người rủ xuống như cây cổ thụ gãy ngang sau một cơn mưa bão, bước đi cũng không nổi. Chàng họa sĩ nhìn ông với vẻ ái ngại:
 

- Bác để cháu gọi bác sĩ tới săn sóc cho bác nhé.
 

- Thôi, không cần đâu Phương. Cứ mỗi lần gặp cơn xúc động, bệnh tim tái phát thì bác hơi mệt vậy thôi. Chỉ cần nằm nghỉ chừng nửa tiếng là hết.
 

Ông Lê Mai dừng lại để thở rồi nói tiếp:
 

- Bác biết cháu đang lo lắng cho bác. Nhưng thôi, chúng ta về nhà.
 

Nguyễn Phương không làm sao hơn được, đành dìu ông về. Con đường Trương Lân lúc này sao dài dằng dặc và đầy vẻ tăm tối mặc dầu trên cây, chim chóc hót vang lừng những điệu nhạc vui tươi của buổi sáng.
 

Nhưng cũng may là không có chuyện gì xảy ra ở dọc đường.
 

Bác quản gia ra tận cổng đón, tiếp tay với Nguyễn Phương đỡ ông Lê Mai lên phòng.
 

- Chuyện gì xảy ra vậy cậu?
 

- Ông Đoàn văn Lâm đã bị chết nhưng câu chuyện còn dài lắm, để lát nữa kể kỹ hơn. Ở nhà có chuyện gì không bác?
 

- Không. Tất cả đều yên tĩnh và tốt đẹp.
 

Nghe thế, Nguyễn Phương yên trí dìu ông Lê Mai lên phòng. Chàng họa sĩ chợt có cảm giác hơi lạ tựa hồ như sắp có chuyện nguy hiểm xảy ra. Lúc ấy, tiếng thở phì phì ở đầu giường làm Nguyễn Phương quay phắt lại. Trên cái bàn nhỏ đặt ở đầu giường ông Lê Mai, chàng họa sĩ thấy pho tượng bán thân của một người đàn bà được đặt ở đấy từ lúc nào, nhưng ghê rợn hơn là có... con rắn lục đang cuộn chung quanh bức tượng, hả cái miệng to lớn và đỏ lòm một cách đe dọa. Nhanh như cắt, chàng họa sĩ rút con dao găm đeo trong người nhưng con rắn cũng chẳng vừa gì, phóng người đến tấn công. Một cuộc ác chiến dữ dội xảy ra, con rắn dường như đã được huấn luyện nên rất nhanh nhẹn tinh khôn làm Nguyễn Phương mấy lần suýt bị cắn trúng nhưng sau cùng với một lòng can đảm vô biên, một ý chí quyết đấu, chàng họa sĩ đã chém đứt đầu con rắn lục. Thời gian trong phòng như ngưng lại và Nguyễn Phương ném con dao, thở dốc cho đỡ mệt. Ông Lê Mai cất tiếng:
 

- Cháu can đảm lắm, đáng tiếc là bác đang mệt nên không giúp gì được cho cháu.
 

Nguyễn Phương ngửng lên:
 

- Cháu không ngờ kẻ bí mật lại bỏ rắn vào phòng. Nọc của rắn nguy hiểm đến chết nếu không được cứu chữa kịp thời.
 

Ông Lê Mai không đáp, bước lại đầu giường xem xét pho tượng. Tượng người đàn bà khá đẹp với cặp mắt lớn, cái mũi thẳng và khuôn mặt trái xoan trông giống hệt như người thật vậy. Nguyễn Phương thấy tay ông run run nên lên tiếng hỏi:
 

- Tượng của ai vậy bác?
 

- Bác cũng... không rõ và đang tự hỏi kẻ bí mật đặt pho tượng ở đây với mục đích gì?
 

Nguyễn Phương nghe nói có vẻ không tin lắm mà sự thực cũng là ông Lê Mai nói dối. Ông đã nhận ra đó là tượng của bà Nguyễn thị Ngọc Lệ, nạn nhân bị giết chết trong vụ án 02-10-60, 13 năm về trước. Đầu óc ông Lê Mai lúc này bối rối chưa từng có. Kẻ bí mật vẫn lộng hành và sự can thiệp của ông thanh tra Minh không có hiệu quả bao nhiêu. Hơn nữa, cái chết của ông Lâm cũng kéo theo hy vọng cuối cùng xuống tuyền đài. Từ nay, ông Lê Mai thực sự là kẻ cô đơn, mang mối hận mà không biết ngỏ cùng ai, tương lai có lẽ chỉ là cái chết mà thôi.
 

- Trong nhà này vừa xảy ra chuyện gì vậy?
 

Đó là tiếng của ông Minh. Nguyễn Phương đáp:
 

- Có kẻ thả rắn lục vào phòng bác Mai nhưng đã giết được con rắn đó. Còn cái chết của ông Lâm thì sao, thưa ông thanh tra?
 

- À, cảnh sát đã tới lập biên bản và đem xác ông Lâm về khám nghiệm. Chắc vài ngày nữa sẽ có kết quả.
 

Nguyễn Phương lên tiếng:
 

- Nếu cảnh sát điều tra ra thủ phạm giết ông Lâm thì tốt lắm. Họ sẽ tóm cổ bọn bí mật và như vậy thì mối đe dọa ở nhà này đương nhiên được trừ khử.
 

Nhưng ông Lê Mai hiểu rằng mọi chuyện không thể êm xuôi một cách dễ dàng như thế. Kẻ bí mật dư sức giết ông trước khi bị cảnh sát còng tay.
 

- Phương, cháu xuống phòng để thuốc lấy cho bác chai thuốc tim Coramine lên đây. Bác mệt quá rồi.
 

Nguyễn Phương vâng lời ông Lê Mai. Lúc chàng họa sĩ trở lên thì thoáng nghe tiếng ông Minh:
 

- Anh Mai, tôi nghi rằng chính Nguyễn Phương là nội ứng cho bọn gian. Chỉ có nó là người hoạt động dễ dàng và hữu hiệu nhất.
 

- Có lẽ anh nghi lầm rồi. Nguyễn Phương là một người tốt và không bao giờ làm điều mờ ám ấy.
 

Nếu câu nói của ông minh làm chàng họa sĩ tức giận bao nhiêu thì câu trả lời của ông Lê Mai an ủi chàng bấy nhiêu. Bỗng chốc, sự kính nể dành cho ông Minh từ trước đến nay tan biến hết để thế bằng sự căm giận. Tiếng của ông Minh lại thoảng qua:
 

- Nhưng dù sao, tôi cũng khuyên anh nên coi chừng vì một bề ngoài hiền lành đôi lúc là tấm bình phong hoa mỹ che đậy những tội ác tày trời.
 

Ông Lê Mai chưa trả lời thì Nguyễn Phương đã bước vào. Chàng họa sĩ làm tỉnh như không hay biết gì:
 

- Hồi nãy, cháu tìm mãi mới được chai Coramine nên bác phải chờ hơi lâu.
 

Nói xong, Nguyễn Phương đặt chai thuốc ở bàn rồi tiếp:
 

- Cháu lên phòng một chút!
 

Rồi chàng họa sĩ bỏ về phòng. Lúc này chàng đang cần một nơi yên tĩnh để suy nghĩ chứ nếu còn ở đây thì tính nóng nảy có thể làm hư hết mọi chuyện. Việc này quá bất ngờ và làm đảo lộn cả kế hoạch đã dự liệu từ trước nhưng có lẽ cũng chưa đến nỗi nào. Nguyễn Phương có một quan niệm rằng tình thương bao giờ cũng thắng bạo lực và tội ác, điều trái bao giờ cũng là kẻ chiến bại... Thời gian trôi qua, ánh nắng gay gắt chiếu qua khung cửa sổ như hâm nóng bầu không khí trong phòng làm Nguyễn Phương thấy nực nội. Chàng họa sĩ mở vali định lấy áo thay thì phát giác ra một vụ lạ lùng. Quần áo của Nguyễn Phương đã bị... lục tung và tuy có sắp xếp lại mà vẫn không đúng hẳn. Chàng họa sĩ ngẩn người suy nghĩ. Chàng đâu có dính líu gì đến vụ án 02-10-60 hoặc bất cứ điều gì mờ ám mà cũng bị kẻ bí mật lục lọi vali? Hay lại sắp có một trò quái đản nào khác? Nguyễn Phương nghĩ thế nên vội vàng kiểm soát lại và tìm được... ba con quạ, bằng sắt nằm dưới đáy vali. Quạ đen là dấu hiệu của kẻ bí mật mà lại được bỏ thêm vào đây với mục đích gì? Chàng họa sĩ thắc mắc mãi mà vẫn không tìm ra. Lúc ấy tiếng của ông Minh chợt thoáng qua trí nhớ làm lóe lên một tia sáng. Đúng rồi, ba con quạ này có thể nhằm âm mưu vu oan cho Nguyễn Phương có liên lạc với kẻ bí mật và như vậy thì trùng hợp với lời tố cáo của ông Minh. Đây là một sự ngẫu nhiên hay chính ông Minh cũng tham dự vào âm mưu ấy? Ý nghi ngờ về ông thanh tra chợt nảy ra trong đầu óc Nguyễn Phương và chàng họa sĩ quyết định sẽ làm một cái gì để chứng minh mình vô tội.
 _____________________________________________________________________  
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

CHƯƠNG II_NHÂN CHỨNG CUỐI CÙNG


CHƯƠNG II


Tối hôm đó, một buổi tối đầy vẻ yên lặng và đe dọa. Ánh nến leo lét, chập chờn trong biệt thự tạo nên một bầu không khí ghê rợn. Ngoài vườn, thỉnh thoảng một vài cơn gió cuốn theo những chiếc lá rơi tạo thành một âm thanh xào xạc. Mặc dầu đã có tới năm con chó berger canh gác quanh nhà nhưng mọi người trong biệt thự Hồng Hoa đều thấy hồi hộp, lo lắng. Họ có ấn tượng rằng trong lúc này, bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra như một vụ án mạng hoặc phá hoại chẳng hạn. Riêng chỉ có ông Lê Mai là ở lì trong phòng cả ngày hôm nay, không ăn một miếng nào và người ta có thể ngửi thấy mùi rượu nồng nặc bốc ra.
 

Đến gần mười một giờ đêm ấy, trong phòng ông Lê Mai chợt vọng ra tiếng đàn dương cầm. Tiếng đàn thật day dứt đứt đoạn và mang vẻ tuyệt vọng như người sắp chết đuối giữa đại dương bao la. Những âm thanh ấy chứng tỏ chủ nhân đang ở trong cơn khủng hoảng tinh thần làm Nguyễn Phương rối trí không ít. Buổi sáng nay, mặc dầu sợ hãi, ông Lê Mai còn cố tạo ra một vẻ bình tĩnh giả tạo nhưng từ khi nhận được hai bức thư do bàn tay vô hình mang lại, ông có vẻ bất cần mọi việc. Không chừng ngày xưa, ông Lê Mai cũng có nhúng tay làm điều gì phi pháp và phải chăng kẻ bí mật chỉ là người tới đòi món nợ hận thù? Giữa bầu không khí khó thở ấy, mọi người chợt nghe tiếng gọi cửa gấp rút và tiếng chó sủa dữ dội. Nguyễn Phương đưa mắt nhìn bác quản gia như để hỏi ý kiến về việc người khách đến vào giờ quá khuya và có ý ngần ngại, nhưng sau vì tiếng gọi cửa dồn dập quá nên chàng họa sĩ đành miễn cưỡng ra mở cổng. Dưới ánh lửa yếu ớt, Nguyễn Phương thấy khách trạc độ gần bốn mươi, để râu tóc hơi dài, khoác một cái áo par-dessus và có vẻ từ phương xa mới tới. Ông ta cất tiếng, giọng nghe chát chúa và chói tai:
 

- Xin lỗi, tôi đến giờ này quá trễ nhưng ông Lê Mai có nhà không nhỉ?
 

Nguyễn Phương đang bực mình nhưng giữ ôn hòa:
 

- Bác Mai có nhà, nhưng không được khỏe lắm. Mời ông vào trong, cháu sẽ nói bác Hai lên báo cho bác Mai biết.
 

- À, cứ nói có luật sư Kiệt tới. Ông Lê Mai chắc chắn sẽ biết ngay.
 

Nguyễn Phương yên lặng dẫn khách vào nhà. Luật sư Kiệt lên tiếng:
 

- Nhà sao lại phải đốt nến vậy nhỉ?
 

- Thưa ông, hôm qua hệ thống điện mới bị hư chưa sửa chữa kịp nên phải đốt nến.
 

Lúc đó, bác Hai cũng từ trên lầu xuống, nói lễ phép:
 

- Nghe tới tên ông, chủ tôi mừng lắm. Xin mời ông lên phòng riêng của chủ tôi ngay bây giờ.
 

Khách lên rồi, Nguyễn Phương nhìn theo với vẻ ngờ vực và thiếu thiện cảm. Xem chừng ông khách này cũng có vẻ gì bí mật và đáng ngờ.
 

Trong khi ấy, lúc nghe thấy tên luật sư Kiệt, quả thật ông Lê Mai mừng lắm. Luật sư Kiệt tới đây rất đúng lúc và ông Lê Mai tin rằng mọi việc rắc rối từ tối qua sẽ được luật sư Kiệt giải quyết dễ dàng. Nhưng khi khách bước vào thì từ chỗ vui vẻ ông Lê Mai biến thành tức giận, quát lớn:
 

- Ông là ai? Tại sao lại mạo nhận là luật sư Kiệt chứ?
 

Người khách lạ thản nhiên:
 

- Ông hãy bình tĩnh, tôi chưa bao giờ nói dối ông cả. Chỉ có điều tôi là Nguyễn Trọng Kiệt chứ không phải Lê Tuấn Kiệt.
 

Nghe tới đó ông Lê Mai biến sắc mặt:
 

- Ông cũng biết Lê Tuấn Kiệt? Hiện giờ ông ta ở đâu?
 

- Xin báo cho ông một tin buồn: ông ta đã chết cách đây sáu tháng!
 

"Chết rồi". Hai tiếng đó thật bất ngờ và ghê gớm. Người chết là hết nhưng cái chết của luật sư Kiệt là bản án tử hình cho ông Lê Mai vì sẽ không còn ai là chứng cớ cho vụ án năm xưa. Những hy vọng cuối cùng đã tắt và ông Lê Mai thấy mình như người sắp chết đuối, cố vùng vẫy nhưng không có nơi nào để bám víu trong khi thần chết với lưỡi hái sáng quắc cứ tiến lại thật từ từ, chậm chạp. Cảm giác ấy kéo dài cho đến mấy phút sau, ông Lê Mai mới cất tiếng, giọng đứt đoạn và yếu ớt:
 

- Hôm nay ông tới đây làm gì?
 

- Tôi tìm đến đây do sự ủy thác của ông Tuấn Kiệt trước khi chết.
 

- Sự ủy thác?
 

- Phải. Cách đây khoảng tám tháng, ông Tuấn Kiệt có vận động để đem vụ án ngày xưa ra tòa xử lại nhưng công việc chưa xúc tiến thì ông ta mất, giao lại cho tôi việc đó.
 

- Nhưng đó là vụ án nào?
 

- Vụ án 02-10-60 ông nhớ chứ?
 

- Không... không. Tôi không nhớ gì cả, nhất là những việc xa xưa từ 13 năm về trước.
 

- Vậy để tôi nhắc cho ông nhớ. Vụ án đó là ông Phạm Ngọc Cảnh bị tố cáo giết vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ, bà ấy cũng là chị vợ của ông Tuấn Kiệt.
 

Ông Lê Mai quát lên:
 

- Ông nói láo. Tuấn Kiệt không bao giờ muốn đem vụ án đó ra xử lại vì...
 

Nói đến đây, ông Lê Mai chợt ngừng lại trong khi khách gằn giọng:
 

- Vậy là ông đã bắt đầu nhớ lại một phần nào. Tôi nói để ông biết, bằng mọi giá vụ án cũng phải được đem ra xử lại một ngày gần đây.
 

- Đó là việc của riêng ông. Tôi không cần biết.
 

Người khách đột nhiên dịu giọng:
 

- Xin lỗi ông, tôi nóng nảy quá. Việc tôi lặn lội từ Sàigòn lên đây hôm nay là để xin ông cho biết một vài chi tiết của vụ án năm xưa.
 

- Tôi không nhớ gì cả. Muốn gì ông cứ lục hồ sơ lưu trữ chứ sao lại hỏi tôi.
 

- Vì tôi tin rằng ông biết nhiều điều bí mật trong vụ án.
 

Ông Lê Mai đứng bật dậy, thái độ có vẻ hoảng hốt, nhưng trấn tĩnh ngay được.
 

- Nếu ông đến đây với mục đích đó thì ông đi không sẽ lại về không. Tôi không có gì để nói cả.
 

- Thế ông không sợ một vài tháng nữa sẽ phải ra tòa với tư cách bị cáo hay sao?
 

- Ông nói thế là nghĩa lý gì?
 

Người khách đổi giọng nghiêm trang nói:
 

- Thôi, từ nãy tôi đùa giỡn với ông như vậy là quá đủ rồi, bây giờ tôi xin đi thẳng vào vấn đề. Trước hết, ông phải hiểu rằng tôi đã nắm được 7/10 sự thật trong vụ án. Vì vậy ông có thể vào tù bất cứ lúc nào và tôi là kẻ đang nắm giữ chìa khóa mọi việc.
 

- Ông muốn gì?
 

- Tôi cần một số tiền khoảng 10 triệu.
 

Ông Lê Mai giật mình:
 

- 10 triệu?
 

- Phải, tưởng ông cũng không nên tiếc, vì số tiền đó đâu có thấm gì đối với một nhà tỷ phú như ông.
 

Ông Lê Mai chợt bình tĩnh hẳn lại:
 

- Vậy ra ông muốn tống tiền tôi.
 

- Đừng dùng chữ tống tiền nghe có vẻ ghê gớm quá. Đây chỉ là một sự trao đổi công bằng và hợp lý.
 

- Công bằng và hợp lý? Nói nghe thật mỉa mai nhưng thôi, ông hãy về đi và đừng bao giờ trở lại đây nữa. Tôi là kẻ vô tội và không sợ bất cứ điều gì.
 

- Được rồi. Nếu vậy, tôi sẽ làm theo ý nguyện của người chết là đem vụ án đó ra ánh sáng.
 

- Ý nguyện của người chết cái gì? Hắn chỉ là một tên khốn nạn cũng như ông là một tên lưu manh.
 

Khách đứng dậy, bình tĩnh:
 

- Dầu sao ông cũng không nên nặng lời với người đã chết. Tôi sẽ cho ông biết hậu quả của việc mình làm.
 

- Ông đừng hăm dọa vô ích.
 

- Chờ xem.
 

Nói xong, khách bước nhanh ra cửa, không thèm chào một tiếng. Ông Lê Mai suy nghĩ rồi gọi lại:
 

- Khoan đã, mời ông vào đây uống ly rượu để tôi suy nghĩ lại.
 

Người khách quay lại, nở một nụ cười thỏa mãn:
 

- Ít ra cũng phải như vậy.
 

- Ông đừng đắc ý vội. Tôi mời ông vào đây để cho ông biết rằng tôi đã thâu băng cuộc đối thoại vừa rồi. Do đó, ông cũng có thể vào tù vì tội tống tiền.
 

Khách tái mặt, ông Lê Mai nói tiếp:
 

- Nhưng chuyện đó không có ích gì cho cả đôi bên. Tôi muốn điều đình lại với ông.
 

Người khách im lặng chờ đợi trong khi ông Lê Mai đi lại trong phòng suy nghĩ. Năm phút đồng hồ nặng nề trôi qua, người khách chợt thấy choáng váng cả mặt mày, đánh rơi ly rượu đã vơi một nửa xuống sàn gạch. Ông ta cất giọng hoảng hốt:
 

- Ông bỏ thuốc mê vào rượu!
 

Ông Lê Mai không đáp, theo dõi phản ứng cho đến khi người khách đã quị xuống, ông mới nói cho chính mình nghe:
 

- Những người nói quá nhiều thì chỉ có vào chứ không có ra. Ông sẽ phải ở đây chừng vài tuần lễ nữa cho đến khi ta lên phi cơ sang Thái Lan sống nốt cuộc đời yên ổn, chắc chắn.
 

Và đến 3 giờ sáng hôm sau, lúc mọi người trong biệt thự Hồng Hoa đã yên giấc, ông Lê Mai mới vác người khách trên lưng, mang xuống căn phòng bỏ trống trong biệt thự đã lâu. Ông kéo mạnh cánh tay bức tượng hoen rỉ đặt ở gần cửa mấy cái thì một nắp hầm lộ ra, dưới có cái cầu thang bằng đá gập ghềnh. Ông Lê Mai mang người khách xuống hầm, vào một căn phòng khá rộng. Sau đó ông trói người khách vào cái ghế bành rồi mỉm cười, lẩm bẩm:
 

- Ta sẽ chẳng giết người làm gì nhưng ta phải tự bảo vệ quyền lợi và không muốn mình đang từ trên lầu cao phải ngã xuống vũng bùn đen. Ngày mai, một vụ trộm giả tạo cũng đủ giải thích sự vắng mặt của người khách lạ đêm khuya.
 

Nhưng ông Lê Mai còn quên một điểm là chính trong biệt thự Hồng Hoa cũng có đồng bọn của người khách lạ!
*

Cũng trong đêm đó, lúc ông Lê Mai đã lên phòng an giấc được khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ thì có một bóng đen lẻn vào phòng khách biệt thự rồi lên lầu, tới phòng làm việc của ông Lê Mai. Hắn rút ra một chiếc chìa khóa giả, mở cửa và lẻn vào dễ dàng. Có lẽ đã thông thuộc đường lối trong phòng, bóng người tới thẳng bàn viết định tìm quyển nhật ký của ông Lê Mai. Nhưng tìm mãi không thấy đâu mà trên mặt đất chỉ còn sót lại những mẩu tro tàn. Có lẽ ông Lê Mai đã đốt quyển nhật ký để tiêu hủy các bằng chứng. Thất vọng, bóng người quay ra nhưng chân hắn bỗng đá phải cái ly rượu bể dưới đất. Ly rượu nhắc cho hắn nhớ tới người khách lạ tự xưng là luật sư Kiệt lúc nãy. "Ông ta đâu rồi nhỉ?" Bóng đen tự hỏi như thế nhưng chỉ một thoáng do dự, hắn bỏ ra không quên dằn lại trên bàn một bức thư và con dao găm đẫm máu.
 

Nhưng bóng người ấy không ngờ mọi hành động của mình đã bị một đôi mắt nhân chứng nhìn thấy tất cả. Đó là Nguyễn Phương! Chàng họa sĩ sau một cơn ác mộng, bừng tỉnh dậy thì nghe tiếng chân người nên lẻn ra và bắt gặp từ đầu tới cuối. Đáng lẽ Nguyễn Phương đã la lên và bắt quả tang nhưng chàng họa sĩ không làm thế vì đã biết được hắn là ai. Đó là một người quen thuộc trong biệt thự Hồng Hoa và Nguyễn Phương định sẽ dùng hắn làm một quân cờ, một đầu mối để phăng lần ra chính phạm.
 

Và sáng hôm sau, Nguyễn Phương thức dậy hơi trễ vì đêm qua thiếu ngủ nhưng lại thấy rất sảng khoái và vui vẻ. Màn bí mật đã hé mở phần nào và chẳng bao lâu nữa sẽ được đem ra ánh sáng...
 

- Sáng nay cậu đọc báo chưa nhỉ?
 

Đó là câu hỏi của chú Tư tài xế. Chàng họa sĩ ngửng lên đáp nhỏ;
 

- Chưa chú à.
 

Nghe nói thế, chú Tư bèn đưa cho Nguyễn Phương tờ báo Dân Việt, rồi chỉ vào trang hai, góc bên phải:
 

- Cậu đọc đi, ở báo có nói về vụ rắc rối đêm sinh nhật của ông chủ đó.
 

Nguyễn Phương gật đầu rồi chăm chú đọc. Bài báo viết khá tỉ mỉ và xác thực nhưng ở cuối lại thêm một câu hỏi: "Phải chăng vụ phá hoại ngày sinh nhật của ông Lê Mai có liên quan đến vụ án 02-10-60? Chúng tôi sẽ có một bài phóng sự khác về đề tài đó. Mời quí khán giả nhớ đón coi.", dưới ký tên ký giả Quốc Nam. Chàng họa sĩ ngạc nhiên hết sức 02-10-60 là ngày ghi trên bức thư thứ hai để trong phòng đọc sách, chỉ có ông Lê Mai và chàng được thấy mà sao anh ký giả này có thể biết được? Anh ta thu lượm tin tức ở đâu mà mau chóng thế hay nghi vấn đó chỉ là trái ba lông do bọn bí mật tung ra để dò phản ứng của ông Lê Mai? Nguyễn Phương cau mày nghĩ ngợi rồi lên tiếng:
 

- Chú Tư à, ký giả Quốc Nam này có mặt trong bữa tiệc sinh nhật của bác Mai không?
 

- Không. Ông chủ cũng không quen với ai làm ký giả hết.
 

Chàng họa sĩ hơi ngạc nhiên:
 

- Sao chú biết.
 

- Có gì đâu, tôi là tài xế lá xe ở đây hơn ba năm trời mà có bao giờ ông chủ sai lại nhà ông ký giả nào đâu.
 

Nguyễn Phương im lặng suy nghĩ và quyết định lại gặp ký giả Quốc Nam xem đầu đuôi ra sao. Muốn thế chỉ cần lại tòa soạn tờ Dân Việt là mọi việc sẽ xong xuôi. Vừa khi chàng họa sĩ ra tới cổng thì gặp một người đàn ông, độ hơn ba mươi, ăn mặc chải chuốt và trông có vẻ trí thức qua cặp kiếng cận. Ông ta cất tiếng:
 

- Cậu khỏi phải đi tìm tôi cho mất công.
 

- Nhưng ông là ai?
 

- Ký giả Quốc Nam.
 

Nguyễn Phương nghe thế, kín đáo quan sát người đối diện. Trông ông ta có vẻ hoạt bát, trí thức và không có vẻ gì bí mật như người khách đêm qua. Chàng họa sĩ hỏi:
 

- Sao ông lại biết tôi muốn tìm ông?
 

Ký giả Quốc Nam mỉm cười:
 

- Dễ lắm. Cứ xem bộ điệu vội vã và tờ báo trên tay cậu thì biết. Tờ báo đang lật ở trang trong, đúng vào bài phóng sự về đêm sinh nhật của ông Lê Mai. Lúc nãy, khi vừa tới đây, tôi còn thấy cậu đang tìm địa chỉ của tòa soạn nên đoán rằng cậu thắc mắc về câu hỏi đặt ra ở cuối bài phóng sự.
 

Nguyễn Phương gật đầu:
 

- Ông đoán đúng lắm. Tôi đang muốn biết vụ án 02-10-60 có liên quan gì tới vụ "ma quỉ" tối hôm đó.
 

- Cậu quên rằng chính tôi cũng đang đi tìm câu giải đáp để viết thành phóng sự đăng trên báo sao?
 

- Thế tại sao lại là vụ án 02-10-60 chứ không phải là một vụ nào khác?
 

- Xin lỗi cậu, đó là bí mật nghề nghiệp không thể tiết lộ được. À, ông Lê Mai có nhà không cậu?
 

- Có, mời ông vào nhà đợi chút xíu.
 

Và vài phút sau, ký giả Quốc Nam cũng được chủ nhân mời lên phòng riêng như người khách đêm qua. Ông Lê Mai quan sát thật kỹ người đối diện rồi lên tiếng:
 

- Ông muốn gì?
 

- Ồ tôi tới để xin phỏng vấn ông về biến cố bữa tiệc sinh nhật.
 

Ông Lê Mai lạnh lùng:
 

- Tôi tưởng bài báo của ông đã quá đầy đủ. Hơn nữa, tôi không muốn chuyện riêng trong nhà tôi bị đưa lên mặt báo cho công chúng thưởng lãm.
 

- Theo tôi biết trong đêm lộn xộn có hàng trăm người khách đã chứng kiến cơ mà.
 

- Đó là việc riêng của tôi. Ông cũng nên biết rằng tôi sẽ không kể lại bất cứ điều gì về đêm đó và ngay cả người trong nhà cũng vậy.
 

Ký giả Quốc Nam kiên nhẫn, giữ vẻ nhã nhặn:
 

- Nếu vậy, xin phép ông cho tôi được phỏng vấn về vụ án 02-10-60.
 

- Tôi không nhớ gì cả. Cũng không có bất cứ vụ án nào dính líu đến việc rắc rối tối hôm đó. Ký giả các ông tưởng tượng và đoán mò nhiều quá.
 

- Thưa ông, tôi không tưởng tượng và những bí mật của vụ án 02-10-60 sẽ được đem lên báo chí một ngày gần đây.
 

- Vậy ra ông muốn hăm dọa tôi?
 

- Không hẳn như vậy vì còn nhiều việc quan trọng giữa chúng ta.
 

Ông Lê Mai im lặng một chút rồi lớn tiếng:
 

- Ông Quốc Nam, trước ông đã có một người tới đây hăm dọa nhưng hắn thất bại và bị tống ra cửa khi vừa giở giọng lưu manh...
 

- Ông nói dối. Lê Mai, nếu biết điều thì hãy thả ngay người đó ra. Hắn là bạn tôi!
 

Ông Lê Mai bật cười, tiếng cười của kẻ thắng thế:
 

- Tôi không bắt giữ ai thì làm gì có chuyện trả tự do. Nếu có thì cũng không ai dại gì làm công việc thả hổ về rừng.
 

- Ông sẽ phải chịu hậu quả về hành động của mình. Nếu có chuyện gì nguy hiểm đến tính mạng của bạn tôi thì ông cũng bị giết ngay.
 

- Đừng hăm dọa vô ích, tôi là kẻ nắm chuôi dao trong khi ông cầm đằng lưỡi.
 

Ký giả Quốc Nam đứng lên, nói:
 

- Thôi được, tôi tạm chịu thua lần này, nhưng chúng ta sẽ còn nhiều dịp gặp lại. Nhất là vụ án ngày 02-10-60 được đem ra ánh sáng. Chào ông.
 

Ký giả Quốc Nam bước ra ngoài rồi, ông Lê Mai gieo mình xuống ghế một cách thẫn thờ. Bao nhiêu việc quái đản dồn dập xảy ra đã làm ông bị khủng hoảng tinh thần rất nhiều và bệnh đau tim dường như đã tái phát. Tình trạng của ông như vậy, mà kẻ thù lại như ở khắp nơi. Con dao găm đẫm máu và bức thư đặt trên bàn đêm qua cũng gây nên không ít sự hoang mang. Bất giác, ông Lê Mai giở bức thư ra đọc lại:
 

Lê Mai,
 

Chắc qua những bức thư trước, anh đã đoán được tôi là ai. Thật ra, tôi có thể giết anh bất cứ lúc nào cho khỏi uổng công tôi lặn lội từ âm phủ về đây  trả thù nhưng tôi chưa làm như vậy là vì một lý do đặc biệt. Tôi muốn rằng từ đây về sau, anh sẽ là một người máy, một tên nô lệ trung thành để làm bất cứ việc gì tôi sai bảo. Anh sẽ phải biến thành một con quỉ dữ, một con người tiêu biểu cho tội ác, gieo rắc những điều bất hạnh cho nhân loại. Anh phải tuân theo lời bức thư này vì quyền lực của tôi là quyền lực của một người đã chết, của một hồn ma còn vương vấn nơi cõi dương trần mà tất cả những kẻ nào kháng cự lại điều phải chết một cách thê thảm.
 

Và cuối chư là hình một con quạ được tô bằng màu máu!
 

Bức thư với những lời lẽ quái đản, mơ hồ và lộn xộn nhưng không phải là hoàn toàn vu vơ làm ông Lê Mai xuống tinh thần rất nhiều. Những ngày sắp tới sẽ là những ngày tăm tối nhất mà ông không biết mình có đủ sức vượt qua hay không. Nhưng dầu sao sống vẫn là tranh đấu và con người muốn tồn tại thì phải biết bảo vệ chính mình. Ông Lê Mai biết được điều ấy nên dù trong lúc lúng túng nhất, vẫn cố gắng tìm một kế hoạch trốn qua Thái lan, còn Nguyễn Phương có lẽ là người bảo vệ ông ta hữu hiệu nhất trong những ngày sắp tới vì dù sao, Nguyễn Phương cũng là một thanh niên trẻ tuổi, tháo vát và có thiện chí. Đúng lúc đó, có tiếng của chàng họa sĩ:
 

- Thưa bác, ông ký giả Quốc Nam tới đây có chuyện gì mới không bác?
 

- À, ông ta là người cùng bọn với ông luật sư Kiệt đêm qua, tới đây để hăm dọa nhưng họ không phải tên chủ chốt.
 

Nguyễn Phương giật mình:
 

- Sao bác không báo cảnh sát, có thể phăng ra được tên chính phạm.
 

- Không cần thiết vì bọn chúng sẽ còn trở lại. Lúc này bác rối trí quá, muốn nhờ cảnh sát nhưng lại hơi ngại.
 

Nguyễn Phương đã đoán chắc ông Lê Mai cũng có làm điều thì khuất tất nên mới sợ cảnh sát. Chàng họa sĩ đề nghị:
 

- Hay bác nhờ tới ông thanh tra cảnh sát Minh với tư cách riêng thôi?
 

Ông Lê Mai vụt tươi hẳn nét mặt, gật đầu nói nhanh:
 

- Được, cháu đi mời ông ta ngay đi. Có lẽ ông ấy cũng là một người... tốt.
______________________________________________________________________  
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_NHÂN CHỨNG CUỐI CÙNG


CHƯƠNG I


Lễ sinh nhật thứ 52 của ông Lê Mai, một vị chánh án hồi hưu được tiếng là thanh liêm trong ngành tư pháp, được tổ chức thật long trọng tại biệt thự Hồng Hoa, tư thất của ông Lê Mai. Buổi dạ hội hóa trang tối hôm đó được sự tham dự của rất nhiều bạn bè, mỗi người hóa trang một cách, và khéo léo đến nỗi không còn nhận ra nhau nữa. Không khí ồn ào, vui vẻ lan tràn trong bữa tiệc và nổi bật nhất là tiếng đàn dương cầm của chủ nhân, tiếng đàn vui tươi, dồn dập trước sự tán thưởng của mọi người. Nhưng riêng Nguyễn Phương, chàng họa sĩ trẻ tuổi lại có một cảm tưởng khác biệt hơn. Tiếng đàn vui tươi, rộn rã thật nhưng sao Nguyễn Phương lại thấy một vẻ réo rắt, u uẩn như chứa chất một tâm sự buồn bã. Bất giác, chàng ngửng lên nhìn ông Lê Mai. Với mái tóc bạc trắng do tuổi đời chồng chất, ông Lê Mai đang thả hồn theo tiếng nhạc, ánh mắt tựa hồ đang theo dõi một thế giới xa xăm nào khác. Thái độ có vẻ quá cách biệt với những cung đàn rộn rịp cho phép Nguyễn Phương tin tưởng vào sự nhận xét vừa rồi. Nhưng chàng họa sĩ cũng không có thời giờ suy nghĩ thêm vì tiếng đàn đã chậm dần và chấm dứt. Tiếng vỗ tay vang lên dồn dập và chủ nhân nói lớn:
 

- Bây giờ xin mời các bạn qua phòng triển lãm họa phẩm, tôi sẽ dành cho các bạn một sự ngạc nhiên.
 

Nguyễn Phương nốt gót theo đám đông sang phòng bên. Có khoảng gần 100 bức tranh được sắp xếp thứ tự và đúng như lời ông Lê Mai, tất cả mọi người đều sửng sốt. Những họa phẩm đều trái với mọi sức ức đoán vì phần lớn mang một màu sắc tối, xám đen và nhất là nét vẽ hay đứt đoạn, gẫy khúc. Đề tài lại thuộc loại siêu thực, vẽ những cảnh như ám ảnh, hối hận hoặc các giấc mơ hãi hùng ghê gớm. Tuy vậy, Nguyễn Phương phải nhận rằng các họa phẩm của ông Lê Mai có một nét đặc biệt và nghệ thuật đã lên tới chỗ khá cao. Sau một lát yên lặng, một người khách chợt lên tiếng hỏi chủ nhân:
 

- Tôi không hiểu tại sao anh lại chuyển hướng lạ lùng như vậy. Cách đây vài năm, anh thường vẻ cảnh vui tươi với màu sắc lộng lẫy chói mắt mà bây giờ anh lại vẻ những gì có thể gọi là huyền hoặc tối tăm nhất.
 

Ông Lê Mai gật đầu, đáp lớn:
 

- Tôi cũng biết trước các bạn sẽ ngạc nhiên. Phải, cách đây vài năm, tôi là một họa sĩ theo phái cổ điển "Ghi lại Tạo Vật", nghĩa là tìm cách vẽ sao cho thật giống phong cảnh bên ngoài. Tuy nhiên gần đây, tôi lại quan niệm khác đi và cho rằng hội họa cũng gần giống như văn chương vậy. Nếu văn chương phản ánh con người của tác giả "Văn là người" thì các họa phẩm cũng biểu lộ tâm hồn họa sĩ. Và như vậy, nếu cứ vẽ theo lối cũ thì phải chịu một sự gò bó, một cái khuôn sẵn có nên không thể ghi lại một cách đầy đủ những rung cảm của người vẽ. Vì thế, tôi chuyển hướng, vẽ theo phái siêu thực, thiên vẽ lối trình bày những tâm trạng u uẩn của vũ trụ hay tâm hồn.
 

- Nhưng tại sao anh lại hay chọn những đề tài ghê rợn như Hồn Ma, cảnh Ám Ảnh hoặc sự Phán Xét của lương tâm? Tôi nghĩ rằng những đề tài đó đâu có thể phản ảnh một người như anh?
 

Ông Lê Mai cúi đầu suy nghĩ một chút rồi đáp:
 

- Phải, anh nói đúng. Nhưng thú thật chính tôi bây giờ cũng không biết chắc lý do tại sao mình lại chọn những đề tài như vậy. Có thể thời gian làm chánh án ngày xưa đã ảnh hưởng và làm tôi luôn luôn suy nghĩ về vấn đề "Tội ác" nên mới chọn những đề tài có vẻ tối tăm quá.
 

Lời giải thích của ông Lê Mai đã tạm đủ và sự ngạc nhiên cũng trôi qua, mọi người quay lại thưởng thức các họa phẩm. Riêng Nguyễn Phương, chàng vẫn có một cảm tưởng về ông Lê Mai. "Các họa phẩm cũng biểu lộ tâm hồn người họa sĩ". Câu nói đó làm Nguyễn Phương thắc mắc không ít. Lúc nãy trong tiếng dương cầm đã như chất chứa một tâm sự u uẩn, bây giờ nếu quả thực các bức tranh siêu thực ẩn tàng tâm hồn người họa sĩ thì phải chăng ông Lê Mai đang bị ám ảnh bởi một điều bí mật? Sự suy đoán ấy càng được Nguyễn Phương tin tưởng thêm khi chàng để ý tới bức "Hồn Ma". Bức tranh không lớn lắm nhưng nổi bật với nền đen sậm, nhòe nhoẹt. Góc phải là hình một xác chết với tà áo trắng toát và phía trên đó, bộ xương người lơ lửng, chập chờn để tiêu biểu cho Hồn Ma. Bức tranh đem lại một cảm giác ghê rợn làm Nguyễn Phương thấy như mình đang bước vào thế giới vô hình trong họa phẩm. Nhưng không phải chỉ một mình chàng họa sĩ có cảm giác đó mà tất cả số người có mặt hôm nay đều thấy hơi sợ. Căn phòng thật yên lặng, thỉnh thoảng mới nghe tiếng chủ nhân vang lên, giải thích các họa phẩm.
 

Thời gian trôi qua khoảng mười lăm phút sau, giữa lúc mọi người đang say mê ngắm tranh thì một việc bất ngờ xảy đến. Đó là cánh cửa ra vào bỗng nhiên bị một bàn tay vô hình đóng sầm lại, vang thành một tiếng khá lớn! Ai nấy đều giật mình, ngơ ngác quay ra. Một người khách đứng gần cửa với tay định mở nhưng cửa đã bị khóa chặt. Bấy giờ gần 100 người khách bắt đầu nhốn nháo. Cảnh lộn xộn diễn ra khi nhiều người hợp sức nhau để phá cánh cửa. Một người khách chợt hỏi lớn:
 

- Ông bạn Lê Mai của chúng ta đâu rồi?
 

Câu nói đó làm mọi người sực nhớ. Ai nấy đều ngừng tay, quay tìm ông Lê Mai nhưng chủ nhân đã biến mất tự lúc nào. Phát giác ra điều đó, số khách càng xôn xao, sợ hãi. Họ không ngờ đi dự tiệc sinh nhật mà lại bị lâm vào hoàn cảnh kỳ lạ như thế này. Hay ông Lê Mai cố tình đùa giỡn cho vui? Câu hỏi đó vừa thoáng qua óc Nguyễn Phương thì một việc khác xảy đến, trả lời câu hỏi của chàng họa sĩ. Đó là những tiếng "xẹt" chợt vang lên và mùi dây điện cháy bốc ra khét lẹt. Đèn trong phòng vụt tắt tối om. Nguyễn Phương nhảy lại chỗ cửa sổ, nhìn ra ngoài mới hay toàn thể hệ thống điện đã hư và ngôi biệt thự hoàn toàn chìm trong bóng tối. Mọi người trong phòng lúc này đã sợ hãi thật sự. Đây không còn là một trò chơi mà là một âm mưu gì bí mật. Họ chạy tán loạn ra cửa nhưng cánh cửa vẫn chưa mở ra được. Những tiếng kêu sợ hãi làm cho tình hình càng thêm rối loạn, không còn ai có thể bình thản trước hoàn cảnh lạ lùng này nữa.
 

Nhưng giữa lúc đó, một ánh lửa chợt lóe lên. Ánh lửa yếu ớt, chập chờn của chiếc quẹt máy gaz do Nguyễn Phương bật lên không đủ sức soi sáng khắp phòng nhưng giúp cho mọi người bình tĩnh trở lại. Trật tự trong phòng dần dần được vãn hồi. Nhân cơ hội đó, chàng họa sĩ nói lớn:
 

- Xin mọi người hãy yên tâm. Chúng ta gần 100 người ở đây thì sớm muộn gì cũng phá được cửa để ra. Nhưng muốn thoát ra sớm, chúng ta cần có trật tự, đừng chen lấn vô ích.
 

Câu nói của Nguyễn Phương được nhiều người đồng ý nhưng họ chưa kịp làm gì thì... cánh cửa đã mở ra. Ông Lê Mai từ ngoài bước vào, tay cầm một cái đèn bão. Dưới ánh đèn mù mờ, mọi người đều thấy sắc mặt chủ nhân tái đi, lộ vẻ kinh hoàng, sợ hãi. Sau cùng ông Lê Mai cố lên tiếng, giọng vẫn còn run:
 

- Xin các bạn thứ lỗi cho. Việc vừa rồi là có kẻ muốn phá bữa tiệc sinh nhật của tôi. Hiện giờ hệ thống điện đã hỏng hết nhưng may chưa cho chuyện gì đáng tiếc xảy ra.
 

Ông Lê Mai chưa dứt lời, mọi người đã thở phào nhẹ nhõm. Cơn sợ hãi đã qua và bây giờ ai cũng thông cảm với chủ nhân. Họ giữa yên lặng trong khi ông Lê Mai nói tiếp:
 

- Thưa các bạn...
 

Nhưng chủ nhân chỉ nói được tới đó thì câu nói đã bị cắt ngang bởi... mấy phát súng nổ chát chúa từ ngoài vườn vọng vào. Mọi người lại một lần nữa nhốn nháo sợ hãi. Ông Lê Mai cũng giật mình, đánh rơi cái đèn bão vỡ tan tành làm mọi vật lại tối đen. Việc phá hỏng hệ thống điện trong nhà là để sửa soạn cho cuộc thanh toán bằng súng ở ngoài vườn hay nhằm một mục đích nào khác? Mấy biến cố dồn dập tối nay là do sự tình cờ hay đã được sắp đặt từ trước? Việc ông Lê Mai vắng mặt trong phòng lúc cửa bị khóa và điện tắt là sự vô tình hay cố ý? Bao nhiêu nghi vấn được nêu ra giữa lúc mọi người hoang mang nhất. Nhưng sau đó, ông Lê Mai lấy lại được bình tĩnh và nhớ đến tư cách chủ nhân của mình, ông nói lớn:
 

- Xin các bạn ở đây một chút, tôi sẽ kiếm cái đèn khác rồi ra vườn xem chuyện gì xảy ra.
 

Nói xong, ông Lê Mai định bỏ đi nhưng một cánh tay giữ ông lại. Đó chính là Nguyễn Phương, chàng họa sĩ lên tiếng:
 

- Cháu nghĩ là bác không nên ra vườn giờ này vì có thể bị kẻ gian ám hại dễ dàng, bác hãy để cháu lên phòng lấy cây đèn pin để rồi tất cả mọi người ở đây sẽ cùng ra vườn. Có đông người thì bọn phá hoại khó lòng thực hiện âm mưu mờ ám của chúng.
 

Nói xong, chàng họa sĩ chạy biến đi và trở lại sau đó với bác quản gia, mang theo một cái đèn măng xông. Mọi người bắt đầu ra vườn theo sự chỉ dẫn của ông Lê Mai. Vừa tới thềm nhà, một vũng máu tươi lớn loang lỗ trên nền gạch được bác quản gia tìm thấy. Chắc vừa rồi đã có án mạng xảy ra. Ai cũng nghĩ thầm như thế và họ cảm thấy rợn tóc gáy mặc dầu vũng máu kia không phải là điều bất ngờ lắm. Riêng ông Lê Mai, lúc này bỗng bình tĩnh hơn bao giờ hết, hướng dẫn mọi người ra vườn. Những giọt máu nhỏ trên mặt đất dẫn ra tới góc vườn phía trái và nơi đó, một xác chết nằm sóng sượt. Xác chết là một thiếu phụ với mái tóc đen, khá dài, mặc một chiếc áo choàng ngoài trắng toát. Đặc biệt hơn nữa, ở trên cành cây gần đó, một bộ xương người được bàn tay bí mật treo lên, đu đưa theo cơn gió thổi tạo thành những âm thanh quái đản và kinh dị. Những tiếng la thất thanh của đám khách không làm Nguyễn Phương quên được hình ảnh ghê sợ và... quen thuộc trước mắt. Quen thuộc vì Nguyễn Phương ngờ ngợ cảnh này chàng đã gặp một lần. Ở phim xi nê trinh thám chăng? À, không, Nguyễn Phương đã được thấy ở bức tranh Hồn Ma của ông Lê Mai lúc nãy. Đây lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay cố ý? Câu hỏi của chàng họa sĩ chưa được giải đáp thì một người khách, vốn là bác sĩ y khoa đã cúi xuống nghe tim nạn nhân. Lúc ngẩng lên, giọng ông ta lạc hẳn đi:
 

- Đó chỉ là hình nhân chứ không phải là người thật!
 

Câu nói làm ông Lê Mai xanh mặt vì tức giận. Bữa tiệc sinh nhật đang tưng bừng vui vẻ bỗng nhiên bị phá đám một cách quái lạ, không hiểu mục đích ra sao nữa. Như thế này, ông quyết sẽ tìm ra sự thật. Nhưng bây giờ, việc trước nhất là phải tiễn khách ra về, nghĩ thế ông Lê Mai lên tiếng:
 

- Thưa các bạn, xin các bạn thứ lỗi cho những việc đáng tiếc xảy ra ngoài ý muốn của tôi. Cuộc vui hôm nay chắc phải bỏ dở vì điện bị cắt, kẻ gian lẩn quẩn ở quanh đây. Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn đã có lòng bớt chút ít thì giờ tới dự bữa tiệc này.
 

Ông Lê Mai vừa dứt lời, mọi người hiểu ý lần lượt ra về mà trong thâm tâm, phải nói ai cũng muốn rời khỏi biệt thự Hồng Hoa cho nhanh. Một người bạn, ông Minh vốn là thanh tra cảnh sát, nán ở lại hỏi:
 

- Anh có cần tôi giúp điều gì không?
 

Ông Lê Mai lắc đầu, đáp:
 

- Thôi, cám ơn anh. Tôi đã có cháu Phương ở đây. Nếu có cần chuyện gì, tôi sẽ gọi điện thoại đến cho anh sau.
 

Và khi tất cả khách đã ra về, ông Lê Mai nói giọng đầy vẻ chán nản:
 

- Phương à, theo bác lên phòng khách đi cháu.
 

Chàng họa sĩ "dạ" nhỏ cho có lệ vì đang mải suy nghĩ. Nguyễn Phương nhớ tới vẻ bí mật của ông Lê Mai biểu lộ qua tiếng đàn dương cầm, rồi dưới các họa phẩm. Bây giờ kẻ gian lại dàn cảnh cái chết giả giống hệt như bức vẽ Hồn Ma, không biết có dụng ý gì? Đợi cho ông Lê Mai bình tĩnh lại, Nguyễn Phương ướm thử:
 

- Thưa bác, có cần trình vụ này cho cảnh sát biết không?
 

- Thôi, mọi việc dầu sao cũng đã êm đẹp. Ngày mai bác cho sửa hệ thống điện lại và đời sống sẽ bình thường như trước.
 

Vẻ thụ động của chủ nhân làm Nguyễn Phương hơi ngạc nhiên, chàng họa sĩ tấn công tiếp:
 

- Thưa bác, theo cháu nghĩ thì còn nhiều việc nữa sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới vì không có ai mất công dàn cảnh với mục đích duy nhất là phá bữa tiệc sinh nhật của bác. Họ còn trở lại đây để thực hiện một âm mưu mờ ám mà những việc xảy ra tối nay chỉ là bước đầu tiên.
 

Thấy ông Lê Mai đã có vẻ xiêu lòng, Nguyễn Phương cố thuyết phục:
 

- Hơn nữa, bác đang ở ngoài sáng trong khi kẻ bí mật ở trong bóng tối. Đó là một điểm bất lợi và không chừng kẻ đó còn ở ngay trong nhà này nữa.
 

- Ở ngay trong nhà này?
 

- Thưa bác, vâng. Cháu nhận thấy cuộc phá hoại tối nay được sửa soạn quá kỹ lưỡng mà nếu không có nội ứng thì chưa chắc gì thực hiện được.
 

Lần đầu tiên, ông Lê Mai đưa ra một ý kiến:
 

- Bác nghĩ rằng nếu có nội ứng thì bọn gian đã trà trộn vào đám khách. Tối nay bác mời gần một trăm người khách, lại là buổi dạ hội hóa trang thì không còn ai có thể phân biệt đâu là khách thật, đâu là khách giả.
 

Lời của chủ nhân rất có lý nhưng Nguyễn Phương đã nói tiếp:
 

- Còn một điểm lạ sau cùng nữa. Đó là cháu đã ngắm kỹ tất cả các họa phẩm của bác và nhận thấy cảnh hình nhân và bộ xương giả ở ngoài vườn lúc nãy giống hệt bức tranh Hồn Ma.
 

Nghe tới bức tranh Hồn Ma, ông Lê Mai giật mình đứng dậy, nói nhanh:
 

- Cháu ngồi đây, bác phải vào phòng trưng bày họa phẩm gấp.
 

Và ông Lê Mai đi hơi lâu, khoảng hơn mười phút sau mới trở lại, mang theo một tin ghê gớm:
 

- Bức Hồn Ma đã biến mất.
 

Lần này Nguyễn Phương thấy choáng váng cả mặt mày. Chàng họa sĩ đứng bật dậy, ngơ ngác như người từ trên cung trăng rớt xuống. Tiếng ông Lê Mai vang lên, giọng hơi run:
 

- Có lẽ bọn gian dàn cảnh súng nổ là muốn dụ mọi người ra vườn để thừa cơ hội ăn cắp bức Hồn Ma. Mọi việc tối nay đáng buồn thật nhưng chưa đến nỗi nào. Thôi, bây giờ bác về phòng ngủ dưỡng sức chứ không muốn suy nghĩ gì nữa.
 

Ông Lê Mai đi rồi, Nguyễn Phương đứng ở cửa sổ nhìn ra ngoài với hàng trăm thắc mắc quay cuồng trong óc. Bầu trời đen như mực, lác đác vài hạt mưa rơi, thỉnh thoảng vài cơn gió lạnh tạt ngang. Bất giác, chàng họa sĩ tự hỏi một câu thật vô nghĩa: "Ngày mai sẽ ra sao?"
*

Sáng hôm sau, một buổi sáng đẹp trời với những đám mây trắng nhẹ lững lờ trên bầu trời xanh thẳm, nhưng biến cố đêm qua chưa thể phai nhạt trong trí nhớ của mọi người ở trong biệt thự. Ông Lê Mai đã mất hết vẻ thụ động, sợ hãi của tối qua mà rất bình tĩnh, đi xem xét khắp nơi. Tuy nhiên, không một dấu tích nào được tìm thấy. Tất cả đã được trận mưa lớn đêm qua xóa nhòa. Ngay trong phòng trưng bày các họa phẩm, khi kiểm soát kỹ lại, cũng chỉ có một bức Hồn Ma bị đánh cắp, còn những vật quí giá khác hay các bức tranh đắt giá của những họa sĩ nổi tiếng vẫn còn nguyên vẹn. Điều này chứng tỏ bọn gian tối qua không phải muốn ăn cắp tiền bạc mà bức Hồn Ma chắc phải chứa một điều gì bí mật khác thường. Nhưng hỏi đến thì ông Lê Mai chỉ lắc đầu, đáp:
 

- Chính bác cũng không hiểu tại sao nữa nhưng bác nói chắc với cháu rằng chính tay bác đã vẽ bức Hồn Ma và không có bất cứ một xảo thuật nào để cất giấu điều gì trong họa phẩm.
 

Nghe nói thế, Nguyễn Phương đành chịu thua vô điều kiện. Chàng họa sĩ từ Sàigòn lên đây, ở nhờ là để đổi gió nhân dịp nghỉ hè và cũng để tìm đề tài hội họa chứ đâu phải thám tử mà mong điều tra mọi việc? Vả chăng, dường như ông Lê Mai cũng không muốn chàng nhúng tay vào vụ này. Dù vậy, Nguyễn Phương cũng quyết không để yên cho bọn bí mật thao túng và chàng họa sĩ linh cảm sẽ còn nhiều chuyện quái đản xảy ra dầu ông Lê Mai đã nói:
 

- Bác tin rằng mọi việc sẽ chấm dứt ở đây.
 

Đến trưa hôm đó, Nguyễn Phương theo ông Lê Mai lên phòng đọc sách trong biệt thự tìm cuốn sách nghiên cứu về Picasso của tác giả Maurice Raynal. Phòng đọc sách ở trên lầu, có cửa sổ trông ra phía sau và chỉ ông Lê Mai mới có chìa khóa cửa, vậy mà khi mở cửa bước vào thì một bức thư đã được để sẵn trên bàn. Cả hai đều ngạc nhiên hết sức, ông Lê Mai bước lại, lấy lá thư ra đọc nhưng ông bỗng xám mặt, tức giận đến nỗi đánh rơi bức thư lúc nào không biết. Nguyễn Phương chạy lại nhặt lên và chàng họa sĩ cũng sửng sốt không kém. Trên mặt gấy trắng xóa, không có một chữ mà chỉ có một giọt máu! Giọt máu đã khô, đổi màu đỏ sậm nổi bật trên giấy như chứa đựng thật nhiều ý nghĩa. Ông Lê Mai đứng lặng người một lát rồi lên tiếng, giọng đầy vẻ hoảng hốt lẫn giận dữ:
 

- Ai đã để bức thư này ở đây? Chỉ bác mới có chìa khóa phòng thì ma mới vào đây được. Chẳng lẽ "hắn" hiện hồn về trả thù?
 

Nguyễn Phương chụp ngay cơ hội hỏi:
 

- Hắn nào vậy bác?
 

Ông Lê Mai giật mình, định nói khỏa lấp nhưng có lẽ biết là vô ích nên đành đáp cho có lệ:
 

- Trong cuộc đời làm chánh án, bác có xử một tên tù khổ sai đày đi xa. Hắn thề sẽ trả thù nhưng cách đây hai năm, bác được tin hắn chết ngoài đảo. Bây giờ gặp nhiều chuyện kinh dị quá, bác nghĩ ngay tới hắn. 

- Nhưng hắn là ai vậy, bác?
 

- Cháu cũng không nên biết làm gì. Bây giờ điều quan trọng là tìm cho ra ai đã bỏ bức thư trên bàn, và giọt máu trên tờ giấy mang ý nghĩa gì, hăm họa chăng?
 

- Hôm qua cháu có nghi là trong nhà có nội ứng, việc này đã chứng minh rõ ràng rồi. Có kẻ làm chìa khóa giả, mở cửa vào để bức thư rồi lại khóa cửa như cũ.
 

Ông Lê Mai không đáp, cầm bức thư xem kỹ lại. Ông có cảm tưởng mình đang bị kẻ bí mật bao vây chung quanh, muốn làm gì giờ nào cũng được. Bất giác, việc của những năm về trước hiện ra như một cuốn phim quay chậm: Thuở ấy, ông Lê Mai còn là một vị chánh án nghèo, sống một cuộc đời phẳng lặng như mặt nước hồ thu. Thế rồi sóng gió bắt đầu nổi lên với số tiền hai triệu đồng. Một người bạn của ông Lê Mai là luật sư Kiệt...
 

Tiếng của Nguyễn Phương nổi lên, cắt đứt luồng tư tưởng của ông Lê Mai:
 

- Cháu nghĩ là bác nên báo cảnh sát vì chắc chắn sẽ còn nhiều chuyện khác xảy ra.
 

- Thôi được. Bác nghe lời cháu.
 

Nói xong, ông Lê Mai xuống lầu, ra phòng khách định nhấc điện thoại. Lúc ấy, chuông điện thoại chợt reo dồn dập. Ông Lê Mai nhấc lên nghe và không hiểu câu chuyện được trao đổi ra sao mà Nguyễn Phương thấy sắc mặt ông tái xanh, tay hơi run và đứng vững như một pho tượng. Không nén nổi tính hiếu kỳ, chàng họa sĩ lên tiếng:
 

- Việc gì vậy bác?
 

Ông Lê Mai lắc đầu nhè nhẹ, đáp giọng thiểu não:
 

- Không có gì quan trọng đâu cháu.
 

Qua thái độ của ông Lê Mai, Nguyễn Phương biết câu nói vừa rồi là nói dối nhưng vì nể mà không dám hỏi nữa. Ông Lê Mai lại nói:
 

- Bây giờ bác thấy không cần báo cảnh sát nữa. Việc gì tới sẽ phải tới và chúng ta nên nhận chịu trách nhiệm của mình. Thôi cháu theo bác lên phòng đọc sách lấy cuốn Picasso của Maurice Raynal đi. Hãy coi như không có chuyện gì xảy ra.
 

Ở phần đầu câu nói, Nguyễn Phương ngơ ngác không hiểu gì cả và ở phần sau, ông Lê Mai nói có vẻ rất bình tĩnh nhưng trong sự bình tĩnh ấy, chàng họa sĩ tìm thấy một nét gì ngượng ngạo và giả tạo. Tuy nhiên, biết có hỏi thêm cũng vô ích nên chàng họa sĩ im lặng theo ông Lê Mai mặc dầu lúc này chàng không còn tâm trí đâu để đọc sách.
 

Nhưng khi lên đến nơi thì bức thư máu đã biến mất! Biến mất một cách thật lạ lùng và êm ái như cơn gió thoảng ở cuối chân trời. Thay vào đó là một bức thư khác, ghi đậm ngày tháng 02-10-60 với hình vẽ một con quạ đen ở cuối tờ giấy. Nguyễn Phương lần này thấy ngạc nhiên nhưng cũng bực tức. Tác giả bức thư này đâu phải là ma mà muốn đi đâu cũng được. Hai người mới xuống nghe điện thoại khoảng năm phút mà từ bàn điện thoại có thể thấy chỗ cầu thang lên lầu. Thế mà lúc lên đây bức thư đã bị thay mất. Phải chăng kẻ bí mật cố ý bày ra ra nhiều trò quái dị để khủng hoảng, đe dọa ông Lê Mai? Trong khi đó, chủ nhân cũng đang đeo đuổi những ý nghĩ riêng tư. 02-10-60, hình con quạ đen, bấy nhiêu đã quá đủ bằng chứng tỏ rằng "người chết đã trở về". Bỗng chốc, ông Lê Mai thấy mất hết ý chí phấn đấu mà muốn buông tay cho dòng đời đưa đẩy...
 

- Thôi, bác đang cần sự yên tĩnh một mình cháu à.
 

Nguyễn Phương hiểu ý, bước ra ngoài khép cửa lại. Chàng họa sĩ lắc đầu mấy cái như để xua đuổi những ý nghĩ nhức đầu chứ cứ tình trạng này dám điên luôn lắm. Có ai ngờ trong một ngôi biệt thự lộng lẫy, cao sang như biệt thự Hồng Hoa lại xảy ra lắm chuyện ghê gớm như vậy. Ngay cả ông Lê Mai nữa, Nguyễn Phương cũng mang một mối nghi ngờ không tốt về những phản ứng quá thụ động bất nhất và những nét giả tạo bên ngoài "Hay hơn hết là tìm một người đáng tin cậy để dò hỏi mới mong tìm ra manh mối". Nguyễn Phương nhủ thầm như thế và xuống nhà sau tìm bác quản gia.
 

- Bác Hai, bác nghĩ sao về bữa tiệc sinh nhật tối qua?
 

Bác Hai cười cười, đáp:
 

- Tôi là kẻ dốt nát mà biết gì cậu. Chắc có kẻ nào muốn phá chớ gì.
 

- Bác có nghĩ là bọn bí mật đêm qua sở dĩ thành công là nhờ có nội ứng không?
 

Bác Hai hơi giật mình:
 

- Nội ứng? À... chắc không. Tôi thấy ở nhà này toàn là những người... đáng tin cậy cả.
 

Mới qua mấy lời trao đổi mà Nguyễn Phương đã có một cảm tưởng không tốt về bác quản gia. Bác Hai cũng có một nét gì giả tạo và như muốn đứng ngoài việc rắc rối tối qua nhưng Nguyễn Phương đâu thể chịu thua dễ dàng như vậy. Chàng họa sĩ cố giăng ra một vài bẫy để dò phản ứng của bác Hai:
 

- Bác Mai thật là người sáng suốt. Bác ấy đã quyết định gọi cảnh sát và nói rằng sẽ bắt được thủ phạm trong vòng một tuần lễ.
 

- Sao? Ông chủ nhờ cảnh sát can thiệp ư?
 

- Phải. Không những thế, bác Mai còn bảo đã biết ai là thủ phạm, chỉ cần thử lại một lần cuối mà thôi.
 

Bác Hai ngập ngừng:
 

- Theo tôi nghĩ thì không nên báo cảnh sát chính thức vì nội vụ sẽ bị làm ầm lên một cách vô ích. Tốt hơn là nhờ tới ông Minh, thanh tra cảnh sát cũng có dự bữa tiệc tối qua.
 

Nguyễn Phương cúi đầu suy nghĩ. Bác Hai cũng có lý nhưng không hiểu ông thanh tra Minh có tin tưởng được không? Lúc này, chàng họa sĩ đâm ra đa nghi có lẽ vì kẻ bí mật xuất quỷ nhập thần quá. Hắn như một bóng ma có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và rồi cũng biến mất một cách tài tình như lúc tới, làm cho người trong cuộc cảm thấy lo lắng, hồi hộp và không còn tin ai được nữa. Tiếng của bác Hai chợt vang lên:
 

- Trong vụ tối qua, mới đầu tôi cũng sợ nhưng sau thì bớt đi và hình như chính ông chủ đã biết trước việc đó.
 

Nguyễn Phương giật mình:
 

- Chính bác Mai đã biết trước?
 

- Phải. Lúc tôi mới vào làm trong nhà này cách đây năm năm, ông chủ có nói một câu đại khái như thế này: "Rồi có một ngày ma quỉ sẽ xuất hiện trong ngôi biệt thự Hồng Hoa nhưng tôi chấp nhận việc đó và tin rằng việc gì rồi cũng theo thời gian chìm vào dĩ vãng."
 

- Rồi có lần nào bác Mai nhắc lại chuyện đó không?
 

- Không... Nhưng cách đây một tuần, khi cậu chưa lên đây chơi, ông chủ có nói: "Ngày tận thế sắp tới."
 

Nguyễn Phương lạnh xương sống. Càng ngày, nhiều chuyện quái đản càng được tiết lộ và chứng tỏ rằng ông Lê Mai có liên quan chặt chẽ đến kẻ bí mật. Hình ảnh con quạ đen ở cuối bức thư gợi ý cho chàng họa sĩ:
 

- Bác Hai, có bao giờ bác thấy hình con quạ đen đang xòe cánh trong nhà này chưa?
 

- Con quạ đen... À, hình chụp thì tôi chưa thấy nhưng tôi nhớ ông chủ có vẽ một bức tranh "Quạ Đen". Còn bức tranh Hồn Ma đã bị mất đã tìm thấy chưa cậu? Tôi không hiểu tại sao kẻ cắp có thể mang bức tranh ra khỏi nhà này được.
 

- Chưa tìm thấy... nhưng chúng ta phải vào phòng triển lãm họa phẩm ngay mới được.
 

Nói xong, Nguyễn Phương chạy thật nhanh vào nhà trong lúc bác quản gia theo sát gót. Nhưng đến nơi thì quá trễ! Cửa phòng bị mở toang và năm bức họa khác đã không cánh mà bay, trong đó có cả bức Quạ Đen. Nguyễn Phương dậm chân tức tối. Chỉ chậm vài phút mà hỏng hết mọi việc. Kẻ bí mật đã thành công một lần thứ hai. Chàng họa sĩ nói nhanh:
 

- Bác Hai, bác bấm chuông báo động ngay đi. Tất cả các cửa ra vào phải đóng lại ngay, may ra còn kịp.
 

- Nhưng hệ thống điện đã hư thì chuông làm sao kêu được?
 

- Vậy bác cứ chạy báo động đi cũng được, tôi sẽ thả mấy con chó berger giữ lối ra vào.
 

Nhưng sau hai giờ tìm kiếm mà vẫn không có hiệu quả. Tất cả mọi ngõ ngách đều được lục soát kỹ lưỡng nhưng một dấu vết nhỏ nhoi cũng không có. Nguyễn Phương chán nản, thả người xuống cái ghế bành ở phòng khách một cách mệt nhọc. Bức Quạ Đen là bức thứ nhì có hình ảnh giống như biểu hiệu của kẻ bí mật nhưng cũng bị đánh cắp như bức Hồn Ma vậy. Từ nay không còn hy vọng gì tìm hiểu tâm trạng ông Lê Mai qua các họa phẩm được nữa. Chàng họa sĩ thấy mình bị lâm vào hoàn cảnh thụ động, chỉ còn biết khoanh tay chờ xem mọi việc diễn tiến ra sao.
_____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG II

Nhân Chứng Cuối Cùng


Truyện : THANH CHÂU
Loại Hoa Đỏ
Tủ sách Tuổi Hoa - 1974

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Những Chiều Chủ Nhật















Ngày xưa còn bé thơ
Vào những chiều chủ nhật
Cùng đi coi xi nê
Niềm vui dâng khóe mắt

Anh đi xin phép ba
Em thì xin tiền má
Lựa phim hay mới coi
Chiều chủ nhật vui quá.

Rạp chen chúc trẻ con
Đứa vỗ tay, huýt sáo
Ghế xếp đập rầm rầm
Ôi chao là huyên náo

Phim Ringo, phim Tàu
Phim Tarzan, kiếm hiệp
Phim xã hội, tình cảm
Phim Tây, cùng phim Việt

Chủ nhật nào cũng coi
Miễn tìm được niềm vui
Sau những ngày vất vả
Chỉ HỌC, rồi HỌC thôi

Nhưng ai HỌC chữ ngờ?
Mình đâu được nhỏ mãi
Những ngày còn bé thơ
Những ngày xưa thân ái.

Anh biền biệt tiền tuyến
Em hậu phương trông chờ
Một ngày kia tin dữ
Tan rồi bao giấc mơ

Bao mùa hạ đã sang
Bao mùa thu đã tàn
Đông qua, rồi xuân tới :
Bao chủ nhật muộn màng??

Chiều nay chủ nhật buồn
Mưa về qua phố vắng
Một mình em lang thang
Với tâm tư sầu đắng

Rạp xưa vẫn còn đó
Nhưng giờ anh nơi mô?
Bước chân em thờ thẫn
Qua khung trời tuổi thơ

Ôi! Khung trời tuổi thơ!

Trần Thị Phương Lan
(Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

Tiễn Mơ


Thôi vĩnh biệt những cây cỏ mùa thu nhé!

Tôi thì thầm lời chót trong khu vườn cây cỏ đó. Lá vẫn xanh trên cành, gió vẫn lay động nhè nhẹ và thoa nhẹ má tôi như ve vuốt mà từng bước một rời đi là từng bước một ngẩn ngơ. Ngày hội nào sáng nắng và ngày vui nào vụt chạy cho cơn mơ mùa hạ vàng son đã tàn rụi cho nỗi buồn đã rúc từng chập một vào hồn, tận đáy sâu kín nhất bị hất ra khỏi con tim nồng nhiệt.

Cơn mưa không còn vây bủa buổi chiều, vội vã ùa đến như tháng sáu mây bay, ướt cả con đường đất đỏ ngày huyền thoại mơ màng đã đặt tên là đường địa đàng. Vâng, con đường Thoại và tôi đã đi qua từng bước chậm chạp như không cất nổi gót chân ; con đường dẫn tới cửa vườn dài chưa đủ để gọi một cái tên như tuyệt vời nhất của tình cảm tình bạn.

Tôi không biết đã gặp Thoại lúc nào nhưng tôi biết rõ ràng là trong khu vườn ấy. Một chiều thứ bảy vàng úa nào đó, một chiều như thế không cầm chân tôi ở trong nhà nổi. Từ lúc tôi được phép đi học một mình với chiếc xe sắm riêng cho tôi, là lúc đó tôi có thể viện một lý do, rất dễ, để ra khỏi nhà. Dĩ nhiên là tôi phải về vào giờ cơm hay trước khi trời sập tối. Mẹ tôi như mọi lần không nói gì, không hề gặng hỏi, nếu ai có hỏi mẹ tôi tôi đi đâu, bà trả lời mập mờ nó đi đâu đó. Ai có trách mẹ tôi thả lỏng tôi quá, bà cũng cười, giữ nó mãi cũng mục người, tội nghiệp. Đôi lúc tôi còn nghe được mẹ tôi nói nhỏ: "Đứa nào nó hư giữ miết nó cũng hư". Như vậy tôi chưa đến nỗi nào và mẹ tôi nghĩ tôi đến thư viện hoặc cùng lắm là đến nhà bạn bè.

Còn tôi?

Chiều nay tôi cũng không đến thư viện, tôi sợ gặp khuôn mặt mình trong đám người đó. Đôi mắt trũng sâu vì thức khuya, tia nhìn mệt mỏi, vẻ mặt bơ phờ, dáng điệu  cắm cúi, miệt mài. Tôi muốn thoát, biết là vô phương nhưng trong giây lát nào đó tôi muốn được quên khỏi phải nghĩ năm nào tới đây cũng là năm thi là tất cả những ước mơ bé nhỏ hay vẩn vơ cũng biến tan đừng vùi mình giữa đống sách vở cao và quên những bước chân thời gian đã biến đổi nhè nhẹ nhưng sâu xa nét mặt và tô đậm thân tình. Có ai bảo tôi phải đóng một vai trò đạo đức, ngăn tôi một cử chỉ cởi mở để tôi tự xây cho chính mình một tháp ngà không dát vàng bạc mà dát toàn là kiêu kỳ, khinh bạc. Biết làm gì hơn một khi tôi cảm thấy mình tách rời vô tình cuộc sống của người chung quanh và nhìn xa lạ trước những cuộc tranh đấu, hay lên tiếng của bạn bè.

Con Thùy mới tới nhà lúc nãy, mẹ tôi phải gọi tôi dậy, giấc ngủ mê loạn lúc mệt mỏi tạo cho tôi bộ mặt lừng khừng ; Thùy nhận xét:

- Lúc nào mi cũng mang vẻ chán đời. Tim Tím?

Tôi có biệt danh Tim Tím, nghe cũng ngồ ngộ. Tôi lắc đầu và bật cười cho cái thói quen lắc đầu của tôi. Gọi Tim Tím cũng đúng, đôi khi mình bi quan sao đâu, lúc nào cũng buồn và nhút nhát trước mọi việc. Thùy có đời sống hoạt náo hơn tôi nhiều. Hắn tham dự trò chơi con trai, cắm trại, du ca, nhiều cuộc du ngoạn, viếng thăm, công tác xã hội và lẫn chương mục cứu trợ nữa? Nếu không thân từ trước, Thùy dám xem tôi là thứ vô dụng, không nên kết bạn. Chiều nay hắn đến chắc là có chuyện. Tôi chờ hắn mở miệng.

- Nào, đi không?... Mai đi cô nhi giúp vui trẻ em.

- Ừ, để coi.

- Tao chịu mi, rồi mi sống mãi trong vỏ ốc. Mi sẽ thấy học vô ích Tim Tím ơi!

Tôi không muốn cãi và vì sự lặng thinh là một sự nhìn nhận lỗi lầm nên tôi trầm ngâm:

- Học là để tìm chỗ trú ẩn của tâm hồn. (Một câu tôi đọc được của ai trong sách Pháp).

- Mi có cái lý riêng nhưng với tình trạng này trở nên vô lý thôi.

- Vâng.

Tiếng vâng vô nghĩa bởi tôi thốt ra vô ý thức đã làm hai đứa bật cười khan. Nước mắt ứa ra ướt ướt, cơn buồn ngủ còn vật vờ, tôi cố giữ cái ngáp. Ừ nhỉ, cứ ngày này qua ngày kia tôi có thu đạt được gì ngoài mảnh bằng hiện có và sẽ có, chắc chắn như vậy. Cuộc sống thu hình này vô vị thật, phải đi nhưng đi ra để thấy thêm và để chán ngán thêm nào ích gì.

- Thôi tao đi, lo cho rồi mấy bài hát quay ronéo.

Vẻ mặt hắn lanh lợi trong cử chỉ gấp rút, tôi mỉm cười với nụ cười yêu đời của hắn vừa toát ra ở đó một sức sống mãnh liệt, một đam mê nồng cháy và một ý chí hân hoan. Hắn chưa bao giờ đến ngồi chơi lâu hơn mười phút - bao giờ cũng gấp rút vài câu chuyện và tôi chưa mời kịp lần nào một tách nước. Bạn bè nhiều đứa cũng lạ, tôi nhìn chúng nó rồi so sánh với tôi. Tôi kém và yếu kém ở lối phục sức, tôi thường bị phê bình là bê bối không à la mode, qua ngưỡng cửa trung học tôi thấy đứa nào cũng lạ, chỉ có mình tôi là không thay đổi. Cả trong lãnh vực tình cảm, bị nói lén là nghiêm nghị như bà già, không chừng vậy mà ghê, nào là kín đáo. Yếu do nơi chỗ nhút nhát, không dám tham gia vào những sinh hoạt rộng rãi của giới trẻ.

Cho nên tôi chả buồn đến nhà bạn bè, bạn cũ đã rẽ đu đường khác và những người mới, còn cả một khoảng cách dè dặt, chưa một lời tâm sự.

Nhưng tôi cũng đi, ra khỏi nhà, với một cuốn tập hoặc là một cuốn sách bao giờ cũng vậy dù cả buổi cuốn tập chưa được lật đến một trang. Tôi nhớ dọa học đệ tam thì giờ thừa thãi và những cái buồn bắt đầu xâm chiếm, trùm chụp nhiều khi vô cớ, tôi xách xe chạy lang thang từ đầu này đến đầu nọ con đường, dò tên đường hoặc dừng lại ngắt những cánh hoa dại gắn cùng khắp xe trên dây thắng đến vè xe, tay cầm... Đạp đến chừng nào mỏi chân thì quay về và cơn buồn chợt hết, lại cười lại hét y như một đứa con nít. Quả vậy, bây giờ thay đổi hết, chiếc xe cũng thế, xe gắn máy chạy không mỏi chân, không dám đứng lại hái hoa, lơ mơ là mất xe, không dám đi những con đường vắng khuất mịt mờ, còn nỗi buồn, vây bủa đến mang danh Tim Tím. Vẫn có một cái gì buồn trong đôi mắt màu nâu của tôi. Có đứa bảo thế. và dáng điệu trầm tư của mày nữa. Thế mới hay, nỗi buồn lén về tôi không biết.

Loanh quanh, tôi đã dong xe đến một công trường khác, từ công trường Dân chủ đến công trường Cộng Hòa sau làm tôi liên tưởng đến chuyện nước Hoa Kỳ, cuộc bầu cử sắp tới, hai liên danh mà không một ý kiến. Có thể có nhiều ý tưởng nhưng không một cái nào lớn để nổi bật và để xứng đáng với danh từ. Dĩ nhiên tôi sẽ không làm một luật sư, một nhà chính trị... không, tôi chọn khoa học và đó không một chút lầm lẫn. Công viên đông người, những đứa trẻ la hét không rõ tiếng, bước chân chạy đuổi bắt dồn dập, những hơi thở đuổi theo tiếng gọi hổn hển đứt quãng, tiếng cười ngoặc ngoẹo, cái đầu nghiêng ngả muốn té, mái tóc rớt lòa xòa và ánh mắt thơ ngây. Tất cả, sống lại một tuổi thơ đã trôi mất của tôi. Tôi chạy chậm lại tránh một bà vú đẩy chiếc xe lăn qua đường. Bà cúi đầu lách xe khỏi một cục đá và ấn mạnh tay nhắc xe lên vỉa hè vào công viên. Tôi dừng lại hẳn cố nhìn rõ mặt đứa bé tật nguyền. Bà vú dừng xe ở một chỗ nơi em có thể đưa mắt nhìn những vòi nước phun đẹp mắt đằng kia và những em bé chơi nhảy cạnh đó. Em bé chợt xoay mặt nhìn ra đường xe chạy! Gương mặt thông minh, vầng trán cao phẳng, đôi mắt to tội nghiệp và cái miệng hơi hé mở. Bước xuống đi, đứng lên, chạy nhảy, nô đùa như những đứa trẻ khác! Nào em, đừng ngồi bất động đó đến ruồi đậu không buồn đuổi! Hãy leo cầu tuột, hãy đánh đu, hãy trốn bắt! Cười lên, vui lên, hát vài câu! Đó là một vài điều mong muốn của tôi tôi nhìn em bé thật lâu nhưng tôi cúi mặt khi em nhìn tôi bằng ánh mắt thiết tha. Nhìn xuống, hãy nhìn bàn chân của em, nó bị tê liệt đã lâu rồi, em không đứng nổi, em cử động nó khó khăn như không thuộc về em, tuổi thơ em càng hạn hẹp. Tôi hối tiếc vì có tuổi thơ không trọn vẹn gần cha nhưng bây giờ tôi thấy mình quá đầy đủ so với em. Tôi nhớ đến những em bé tàn tật vì chiến tranh, những cuộc sống khốn khó tôi từng thấy và từng nghe thấy. Tôi chưa làm gì để giúp các em nhưng cái nhìn của em làm tôi cảm thấy phấn khởi, tôi thấy tôi, một người đầy đủ, hưởng những đầy đủ mà tôi không hề nghĩ mình có bởi tôi có từ lúc mới sinh. Bàn tay này làm được gì, chưa dùng để an ủi nỗi cô đơn của chính mình huống hồ đến các em cô nhi, chiếc áo này chưa đủ biện minh cho đời sống học trò đóng khung vào sách vở. Tôi đi nhanh như tránh hổ thẹn và tôi vòng vào ngõ trường khóa xe ở chỗ khuất gần đó và lững thững đi dọa.

Gió luồn từ trên trời cao lồng lộng, đám lá vàng reo nhẹ và rên xiết dưới gót chân, dòn rụm, trên con đường đất. Chính tôi đi đến vườn cây cỏ. Đám lá xanh, cây nào cũng khác cây nào, cây cao cây thấp hỗn độn, nhưng cây nào cũng mang một màu xanh mát mắt. Tôi để ý nghe có tiếng ve ru ru trên ấy nhưng tuyệt nhiên không. Cùng lúc đó một bóng dáng trong vườn, màu áo khác mày lá cây khiến tôi hạ tầm mắt. Với một cuốn sách cuốn tròn trong tay, đôi mắt dường như dán vào người tôi. Một anh lạ mặt. Tôi, cũng cầm một quyển vở, bắt gặp một nụ cười thân thiện trên đôi môi hơi nhếch ấy như ngầm bảo cũng dân gạo vào đây tụng bài. Mắt tôi lơ đãng đảo quanh và thốt nhiên tôi cũng mỉm cười.

Tôi băng qua cổng vườn thấp cũ bạc màu sơn. Anh kia đang ngồi xoạc chân trên một thân cây tròn vội khép chân lại và ngồi nhích qua như nhường chỗ. Tôi vẫn đứng y đó, nhìn vu vơ những cây những lá. Anh cũng im lặng như chờ đợi. Tôi muốn quay trở ra, mắt tôi liếc nhanh ra phía cổng, vừa lúc đó anh lên tiếng:

- Cô học bên này hay bên kia?

Anh chỉ tay qua phía trường Sư Phạm. Tôi cười:

- Bên này. Còn anh?

- Cả hai bên.

- Giỏi nhẻ!

Anh không trả lời, nụ cười tươi sáng nở hồn nhiên trên môi, học một lượt hai phân khoa hẳn anh nhiều tự tin và đã vạch rõ một tương lai trong muôn nẻo trước mặt. Tôi hình dung trong vài năm nữa, anh sẽ là một nhà mô phạm. Ngại ngùng tan mất, tôi ngồi xuống cạnh anh, một cái gì mơ hồ khiến tôi cảm thấy thân quen với anh từ lâu ; bầu không khí êm dịu và câu chuyện dễ dàng? Cảm tình đã đến từ lòng khâm phục, phải không? Mơ hồ quá.

Mùi cỏ ẩm khí trời thu nghe dễ chịu, mấy con bướm chập chờn và một con đậu xuống cỏ gần chân anh, xập xòe đôi cánh. Anh cúi đầu xuống ngắm và tôi mới quay sang nhìn kỹ anh. Bất chợt anh ngoảnh mặt sang, tôi nhìn vội sang nơi khác. Thêm cành thông thiên bé nhỏ một con chim rất lạ, đầu như có mào, vừa đáp xuống hót ri rích ngộ nghĩnh và một con nữa sà xuống.

- A, con sáo sậu!

Anh vụt la lên làm hai con chim giật mình bay mất. Như luyến tiếc, anh kể cho tôi nghe nhiều việc khiến tôi biên biết anh thêm.

Bởi khu vườn này đã mang nhiều kỷ niệm cho anh nhà anh ngày xưa, cũng có một khu vườn, khác biệt hẳn vườn này nhưng đã mất rồi cho nên anh yêu thích khu vườn này và tưởng tượng cả hai là một.

Căn nhà của anh, theo lời anh mô tả, đẹp hiền hòa như tranh vẽ. Nhà có gác, làm phòng học của anh, trông xuống khu vườn cây ăn trái và nhìn xa xa một dãy núi màu xanh lam. Ở đó nhiều chim lắm, như chim lúc nãy có người gọi là cà cưỡng, có thể là một loại cùng giống chăng, chim sáo chân vàng, chim chào mào, tu hú, chim bông lau, chim sâu... Nghe tiếng chim quen đến phân biệt được con nào. Ban đêm phải đóng cửa sổ để dơi đến ăn mãng cầu hay nhãn khỏi bay vào nhà... Uổng quá, giờ chả còn gì, chỉ còn niềm vui sống.

Tôi nhìn anh kinh ngạc, với một say mê nào anh nói không ngừng, mắt anh nhìn thẳng và tôi tưởng nhà anh trước mắt. Và tôi nghĩ rất nhanh đến quê nội. Cái hồ sen, cái giếng nước, mấy con chó, thửa sân rộng, mấy cây ăn trái rải rác. Quanh quẩn nhiêu đó tôi chả biết chi hơn. Tôi cười ngắn một tiếng làm anh cụt hứng quay nhìn tôi. Tôi nói bâng quơ:

- Chiều rồi!

- Vâng, tôi phải về. À, tôi tên Thoại, còn cô?

- Thúy Liên.

- Tên hay lắm... ước gì gặp lại.

Hai đứa tôi đi dọc trở ra con đường đất đỏ. Nắng tắt. Chim ríu rít bay lẹt xẹt. Tôi trở về nha, không nhớ đã nghĩ ngợi gì. Tình cờ. Sự gặp gỡ tình cờ có gì phải suy nghĩ. Nhưng lạ thay tôi đã thay đổi: Cảm thấy yêu đời đến muốn huýt sáo một bản nhạc vui hơn là ca ngân nga, muốn hét thật to, muốn vặn ga chạy thật hăng, muốn làm tất cả hết mình.

Không biết tại sao hôm nay về nhà bị mẹ "bố" cho một trận nên thân, tôi cũng không thấy buồn. Nhờ Thoại chăng. Không biết. Quả vậy thì cũng cảm ơn anh nhiều lắm. Và tối hôm đó tôi nằm suy nghĩ về tôi, về sự lẻ loi của chính mình và tôi chưa biết cô đơn để rơi một giọt nước mắt khóc thầm. Không khóc được chưa hẳn là quá đỗi dửng dưng.

Nhiều ngày sau tôi còn gặp Thoại, lần này thì như hẹn trước. Thoại rất tán đồng việc sinh hoạt của tôi. Mạnh dạn như Thoại. Hoạt bát như Thoại. Không buồn vớ vẩn. Không mơ mộng viển vông. tôi gần như tách rời lối sống cũ với tình cảm trẻ thơ bên mẹ.

Thoại khuyên tôi chuyển hướng sang nghề thuốc. Để thấy hữu ích hơn. Tôi gật đầu. Về nhà suy nghĩ mấy hôm, tôi còn mê toán học lắm sao, dù nhiều lúc nghĩ theo đuổi chơi vậy chứ không nhằm gì.

- Không hiểu tại sao họ lại gọi Liên là Tim Tím.

Thoại ngạc nhiên khi nghe tôi kể chuyện trường, lớp.

Tôi thích Thoại ở chỗ xem tôi như đứa em nhỏ và biết tôi cũng đối với Thoại bằng ấy. tôi học ở Thoại tính chăm chút, kiên nhẫn và phấn đấu. Anh hơn tôi chỉ một tuổi mà tôi tưởng phải mất mươi năm mới kịp anh. Liên Tim Tím đâu còn nữa là đáng mừng rồi.

Đó là tất cả những ý nghĩ của tôi về Thoại. Thoại, anh đã đi xa rồi, thật xa đến nỗi tôi không đặt chân đến được. Anh rất xứng đáng và anh chả muốn bỏ lỡ một dịp may hiếm hoi đột ngột đó. Chúng mình chưa nói với nhau một lời thân thiết, chưa chia tay đã vội xa ngàn dặm. Chúng mình quen nhau như vậy cũng khá đủ rồi. Tôi quên cho anh địa chỉ để anh viết thư và anh đi vội không báo tin cho tôi gì hết. Bây giờ tôi chững chạc hơn, tự tin hơn nhiều anh ạ. Có bóng dáng anh trên đường đi của tôi một cách tình cờ nhưng sáng rỡ đó anh.


NHÃ UYÊN    


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn thông số 38, ra ngày 20-11-1972)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>