Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

CHƯƠNG VI (PHẦN II)_BÍ MẬT DẦU LỬA


CHƯƠNG VI

CÁNH ĐỒNG LỬA


Trong khi Hoggan đi theo Kaghamisham thì ở trại ai nấy đều lo lắng, nhất là khi nhớ lại vụ tấn công vừa rồi.

Mặt trời đã lặn từ lâu, đêm đã xuống mà sao chàng đi săn vẫn chưa về. Chưa bao giờ chàng ở lại trong rừng trễ như vậy. Mà không có lý gì chàng lại trốn đi như lần trước nữa.

Mọi người sợ sệt, lo có một tai nạn xảy ra. Ông Smith nói:

- Sáng sớm mai, tôi và thằng Sam sẽ nghỉ làm máy, vào rừng kiếm xem trên các đường mòn có dấu vết gì tỏ rằng tụi Da đỏ mới xâm nhập chung quanh đây không.

Đại tá làm thinh.

Cả bọn đều yêu Hoggan, chàng lực sĩ to lớn, cục mịch nhưng tận tâm tới mù quáng và rất nhiều sáng kiến hữu ích đó.

Marjorie thắp cây đèn do chàng chế tạo. Mọi người trông ngọn đèn lại càng ủ rũ. Sam vẫn lắng tai nghe ngóng, bỗng nhận thấy tiếng giày đi ở ngoài, chàng đứng phắt dậy, kêu:

- Hoggan về.

Chàng nhẩy ra cửa để đón bạn. Hoggan mệt lử, kêu đói bụng.

Marjorie lẳng lặng vô bếp, trong khi mấy người khác không ngớt hỏi:

- Hoggan làm gì cả buổi chiều? Tại sao về trễ vậy? Tại sao không mang mồi về?

Marjorie dọn trứng và một miếng mỡ heo trước mặt Hoggan. Chàng lẳng lặng ăn ngấu nghiến vài miếng, hớp một hớp rượu bia rồi mới chịu nói:

- Mới xảy ra một chuyện mà tới bây giờ tôi còn ngạc nhiên. Thật không sao hiểu được tụi Da đỏ. Anh Sam, anh hiểu chút gì không, anh giảng giùm tôi nghe : hoặc thằng quỷ Kaghamisham chế nhạo chúng ta, hoặc là nó ngay thẳng và nếu vậy tôi càng lấy làm lạ vì tôi không hiểu nó muốn nói gì hết.

Lời mở đầu ấy càng làm cho mọi người nóng lòng muốn biết chuyện ra sao, nhất là Hoggan vốn điềm tĩnh, phải gặp một trường hợp lạ lùng mới nói nhiều như thế.

- Đây, câu chuyện xảy ra như vầy.

Rồi chàng tả từng chi tiết một, từ cuộc đi săn tới giấc ngủ trong rừng thưa, cuộc gặp gỡ tên Da đỏ và hành trình tới cánh đồng lửa.

Đại tá hỏi:

- Cánh đồng gì vậy? Tôi không hiểu chút chi hết.

Hoggan kể lại:

- Chúng tôi lẳng lặng đi ba giờ đồng hồ, tên Da đỏ tiến trước, tôi theo sau. Có vẻ như chỉ có hai đứa tôi thôi, nhưng sự thật thì có cả một đám mọi lẩn núp trong rừng, theo dõi chúng tôi từng bước mà tôi không thấy. Chúng tôi ngồi đợi cho trời thật tối. Tôi nghĩ không có lẽ gì để nghi ngờ nó hết vì chúng đông như vậy, nếu muốn hại tôi thì dễ lắm. Tôi nóng lòng muốn biết nó định làm gì. Sau cùng chúng tôi lại đi và trời ơi! Thình lình tôi thấy hiện ra một cảnh kỳ dị. Ông thử tưởng tượng : nới đó đất thì phẳng và tôi thấy có nhiều đá, lại mênh mông, rộng hơn cả châu thành Pittsburgh, mà cháy…

- Cháy?

- Dạ, cháy. Đất cháy, các bạn ơi! Đây đó, ngọn lửa bốc lên, như có hàng ngàn cây đèn dầu, sáng như ban ngày. Kaghamisham nói không phải mới đây mà từ hồi nào tới giờ vẫn như vậy. Từ thuở khai thiên lập địa, khu đất ấy vẫn cháy.

Đại tá gãi cằm, lạnh lùng ngó Hoggan như ngờ rằng chàng hóa điên. Sau cùng ông lắc đầu:

- Chuyện kỳ dị! Rồi Kaghamisham nói gì thêm nữa?

- Lúc ấy tôi tưởng tôi chiêm bao. Tôi lại nghi tụi Da đỏ làm phép phù thủy cho tôi sợ, cho chúng ta sợ để chúng ta rời đi nơi khác. Nhưng tôi lại nghĩ nếu chúng muốn vậy thì sao không làm phép ở ngay gần trại của ta đi? Tôi rờ những ngọn lửa ấy. Lửa thật tình mà. Có nhiều ngọn lớn lắm, thui được cả một con nai.

- Rồi sao?

- Rồi Kaghamisham nắm một tay tôi muốn đưa tôi về đây. Tôi không chịu, nói rằng tôi đi một mình được. Tôi định chạy trốn thì nó níu lại, bảo:

- Bạn là bạn thân của “Mắt Đại Bàng” và Kaghamisham không ngu dại mà cũng không vô ơn, vẫn nhớ rằng được người Da trắng cứu mạng. Vậy bạn làm ơn về kể hết thảy những điều mắt thấy cho “Mắt Đại Bàng” nghe và biểu rằng Kaghamishma muốn ngày mai được gặp “Mắt Đại Bàng” ở khu rừng thưa chúng mình đã gặp nhau ban chiều.

Sam ngó ông thân chàng. Ông chau mày. Chàng nói:

- Mai tôi đi.

Đại tá cương quyết ngăn cản:

- Không được. Biết đâu tụi Da đỏ chẳng nghĩ vì có anh mà chúng ta mới đóng trại ở đây và có lẽ chúng muốn trả thù mà làm hại anh hoặc ông, ông Smith.

Ông già đáp:

- Con tôi nói có lý. Nên biết Kaghamisham muốn gì. Chắc y đã hiểu hễ trêu chúng ta thì sẽ ra sao. Sam, ý con thế nào?

Sam đáp:

- Đối với tụi nó, luôn luôn ta phải đề phòng. Nhưng con tưởng Kaghamisham thật bụng mang ơn con cứu mạng và cho súng. Có lẽ nó không xấu như những đứa khác đâu. Ngày mai chúng ta sẽ biết.

Hôm sau một mình Sam tiến sâu vô rừng, không bằng lòng cho Hoggan đi theo. Chàng đã hỏi Hoggan đủ chi tiết để nhận được chỗ hẹn với tên Da đỏ và chàng cũng thông thạo đường lối trong rừng như chúng ta thông thạo đường trong châu thành vậy, có phần hơn nữa. Đại tá muốn cho có người cùng đi với Sam. Ông đòi đi, Sam không chịu ; ông lại năn nỉ ông Smith đừng cho chàng đi một mình, nhưng ông già biết rõ con ông và đáp:

- Ông cứ để mặc nó. Có xảy ra chuyện gì thì một mình nó đối phó cũng được, thêm người chỉ bận cho nó thôi. Nó biết rõ tụi Da đỏ hơn chúng ta. Vả lại công việc ở nhà thì nhiều, không có thì giờ để phí. Ta phải thắng Hóa công, phải đào cho dầu lửa vọt lên.

Sam vui vẻ vô rừng, vai đeo súng trường, lưng gài dao nhọn, túi da đựng hai cái bánh tráng bột bắp và một miếng mỡ heo. Chàng theo lời Hoggan chỉ, nhận được đường, thấy một cây bá hương khổng lồ bị sét đánh trong một cơn giông, một khu rừng thưa và hẹp, một phiến đá lớn, rồi tới chỗ hẹn, ngồi xuống, nhồi thuốc vào ống điếu, thử lại cây súng và đợi.

Mặt trời đã lên cao, nóng lắm. Chim chóc ríu rít, vang cả khu rừng.

Sam ngồi đợi chừng một giờ thì nghe có tiếng cành lá sột soạt, biết rằng Kaghamisham gần tới. Chàng đứng dậy, tuy chưa thấy bóng tên Da đỏ, nhưng cũng nói lớn bằng tiếng Cherakee:

- Xin bạn cứ tiến.

Ngay lúc ấy, Kaghamisham hiện ra, vung tay trên không, chào:

- Xin Trời phù hộ bạn trong công việc của bạn. “Mắt Đại Bàng” là bạn thân của tôi và tin ở tôi được.

Sam đáp:

- Tôi ngay thẳng, không độc ác và Kaghamisham cũng là bạn của tôi. Nếu bạn cần điều gì, cứ mở lòng ra, tôi sẵn sàng nghe và giúp bạn.

Kaghamishma mỉm cười, lắc đầu. Chào hỏi nhau rồi, nó ngồi sệp xuống đất:

- Tôi mời “Mắt Đại Bàng” lại đây vì bạn nói tiếng của tôi, tôi nói chuyện với bạn dễ hơn là với bạn Da trắng hôm qua. Kaghamisham biết nhiều lắm.

Sam vẫn đề phòng, hỏi:

- Vậy bạn biết gì?

Kaghamisham lại mỉm cười:

- Kaghamisham đã rình trại các bạn Da trắng và đoán được các bạn đương kiếm gì. Kaghamisham lại dò xét ba đêm ở gần Titusville và đã hiểu.

Sam ngạc nhiên một hồi lâu. Sao! Canh gác kỹ như vậy mà bọn Da đỏ vẫn tới rừng ở gần nhà được và lại đoán được điều bí mật của mình nữa!

Mà lời tên Da đỏ nói rất chắc chắn. Thật vậy. Nó đã nhìn thấy bọn Sam chế tạo đèn dầu và bấy nhiêu đủ cho nó đoán được đại tá đương kiếm cái gì.

- Nếu bạn cho Kaghamisham biết trước bạn muốn kiếm gì trên khu đất săn bắn của tụi Cherakee chúng tôi thì có lẽ tôi đã thu xếp được.

Sam vẫn chưa quên vụ bóc lột năm trăm Mỹ kim lần trước, cho nên đáp bằng một giọng mỉa mai:

- Với điều kiện là nộp cho bạn một số “mề-đay” vàng nữa phải không?

Người Da đỏ đáp:

- Không.

Hắn suy nghĩ một chút rồi tiếp:

- “Mắt Đại Bàng” biết rằng Kaghamisham làm Chúa trong bộ lạc của nó. Nhưng hồi ông Chúa lớn còn thì phải tuân lệnh ông Chúa lớn. Bây giờ ông Chúa lớn chết rồi, nó làm Chúa lớn các Da đỏ Cherakee.

Nó vừa nói vừa ưỡn ngực, vô cùng tự đắc. Sam vui vẻ mừng nó, nó cảm động, tiếp:

- Việc mà hồi trước Kaghamisham làm không được thì bây giờ nó làm được. Đàn em của nó nghe nó và vâng lời nó. Vậy Kaghamisham nhất quyết giúp bạn.

- Và để bù lại, bạn muốn cái gì?

Người Da đỏ tỏ vẻ bình tĩnh:

- Kaghamisham không phải là vô ơn, nó không quên rằng “Mắt Đại Bàng” đã cứu mạng nó.

- Tốt. Vậy bạn muốn giúp tôi việc gì?

- Tối hôm qua bạn Da trắng của bạn có kể chuyện gì cho bạn nghe không?

- Có, nhưng cánh Đồng Lửa đó…

- Cánh Đồng Lửa ấy thuộc về bộ lạc Kaghamisham và Kaghamisham tặng nó cho bạn “Mắt Đại Bàng” để trả ơn bạn.

Sam làm bộ thích lắm.

- Tôi vô cùng mang ơn ông Chúa lớn của bộ lạc Cherakee, nhưng công việc của chúng tôi ở bờ Suối Dầu chưa làm xong. Có lẽ còn phải vài tuần trăng nữa. Nếu tôi ở lại đó tiếp tục làm việc, bạn có thấy điều gì bất tiện không?

Kaghamisham không bằng lòng, lớn tiếng đáp:

- Kaghamisham không ngu mà. Nó biếu các bạn tất cả cái mà các bạn thích, các bạn lại từ chối.

- Đâu có từ chối. Trái lại chứ. Nhưng chúng tôi có nhiều việc ở bờ Suối Dầu quá, và muốn làm cho xong rồi mới rời đi chỗ khác.

- Vậy các bạn muốn làm sao tùy ý. Các người Da đỏ và các người Da trắng phải hòa thuận với nhau. Nhưng Kaghamisham chỉ có một lời : “Mắt Đại Bàng” muốn lại cắm trại ở cánh Đồng Lửa lúc nào thì lại. Tôi đã nói rồi.

Thình lình Kaghamisham đứng dây, vung tay chào Sam rồi biến vào rừng. Chàng thanh niên cũng trở về trại, suy nghĩ lung lắm.

__________________________________________________________________________

CHƯƠNG V (PHẦN II)_BÍ MẬT DẦU LỬA


CHƯƠNG V

CÂY ĐÈN


Họ vừa ăn xong thì trời tối. Ông Smith quay lại bảo Marjorie đốt đèn. Cũng như các nhà khác trong làng, gia đình ông già nhúng một cái tim bằng bông gòn vào mỡ súc vật để đốt. Mỡ đó hôi lắm và dính vào tay thật dơ.

Nàng Marjorie đứng dậy sửa soạn đi thì Hoggan nói:

- Cô để tôi.

Chàng lực sĩ đi ra, vài phút sau trở lại, tay cầm một cây đèn tuy cũng khói như đèn mỡ nhưng ngọn tỏ hơn nhiều.

Đại tá hỏi:

- Cái gì vậy?

Hoggan bình tĩnh đáp:

- Kiểu đèn tôi mới chế.

Đại tá đòi được coi gần. Hoggan chìa cây đèn, hồi hộp, xúc động như mới phát minh được điều gì lạ lùng lắm.

Rất giản dị. Chàng đã lấy một ve cổ hơi rộng, đầy dầu tới ba phần tư. Một miếng bấc nổi trên mặt dầu. Một ống sắt nhỏ xuyên qua miếng bấc và luồn một cái tim nhúng vào dầu.

Đại tá khen:

- Được. Được lắm.

Ông ngạc nhiên thấy chất dầu ấy chính là dầu múc ở Suối Dầu. Chính là dầu lửa.

Ông hỏi:

- Chính anh đã chế ra cây đèn này?

Hoggan lắc đầu một cách vụng về và mỉm cười:

- Thưa không. Khi tôi ra Pittsburgh, thấy dược sư Kier bán những cây đèn như cây này. Tôi ngó kỹ, hiểu cách làm ra sao rồi về làm lấy. Tôi đã thành công như ông thấy.

Đại tá xúc động rất mạnh, đứng dậy nói bằng một giọng nghiêm trang:

- Này các bạn, đó là một chứng cớ nữa rằng những gắng sức của chúng ta không phải là vô ích. Nếu chúng ta tìm được mỏ dầu thì các bạn thử đoán nhân loại sẽ nhờ chúng ta mà được biết bao nhiêu tiện nghi. Ai cũng có thể có những cây đèn sáng và rẻ tiền như cây đèn này được.

Giọng ông run run và những người kia có cảm tưởng rằng họ sắp bước tới một bước quẹo trong lịch sử của nhân loại và chỉ với một phát minh nho nhỏ, có vẻ như vô nghĩa mà làm xáo lộn được cả thế giới.

Họ lẳng lặng ngó ngọn đèn chập chờn và làn khói rung rung đưa lên.

Thình lình đại tá nói:

- Hoggan, em thấy không? Phải cải thiện ngay cây đèn của em đi. Phải lọc dầu rồi hãy đổ vô ve. Như vậy sẽ sáng hơn và ít khói. Ngày mai thử xem.

Marjorie cảm động tới rưng rưng nước mắt. Ánh đèn chiếu vào cặp mắt ươn ướt lại càng tăng vẻ đẹp của nàng.

Sam thì mơ mộng. Chàng tính toán, tự hỏi hết thảy thế giới cần dùng bao nhiêu cây đèn và thấy con số vĩ đại quá, chàng đã tưởng tượng có những đống vàng ở trước mắt rồi. Tài sản của chàng sẽ tới con số nào? Chàng hỏi:

- Dân số của châu Mỹ là bao nhiêu?

Người này ngó người kia, không ai biết rõ, vì châu Mỹ lúc ấy còn là đất mới, chưa kiểm điểm nhân số một cách chắc chắn. Đại tá suy nghĩ một chút, nhún vai. Ông cần gì biết điều ấy!

*

Một hôm Hoggan đi săn. Cầm cây súng mà lởn vởn ở miền chung quanh là một việc nguy hiểm, nhưng chàng ham bắn lắm, không thể nhịn được. Chàng tới một khu rừng thưa và định nghỉ ở đó.

Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Chim chóc ríu rít trên cành, điếc cả tai. Chàng mải theo vết một con hươu rồi quên cả bạn bè, công việc, đi xa trại quá. Mệt lử, chàng ngồi phịch trên cỏ, mở bình rượu ra tu một hơi rồi thiu thiu. Chàng yên ổn ngủ được khoảng một giờ thì bỗng có tiếng sột soạt rất nhẹ ở chung quanh. Nếu lúc ấy chàng thức thì chắc chắn là chàng phải run lên rồi, vì một tên Da đỏ hiện ra liền, thân hình cao lớn, vẻ mặt gân guốc, mũi cong như mỏ diều hâu. Nó vẹt cành lá, bước vô, bệ vệ khoanh tay đứng trước Hoggan, một nụ cười khó hiểu nở trên môi. Chàng vẫn ngủ say như một khúc gỗ.

Nhưng nếu chàng thấy nó thì chàng yên tâm được vì nó không vẽ mình như khi ra trận. Mớ tóc đen quấn thành một búi ở sau gáy và trên nón không cắm một cái lông nào cả.

Chính là Kaghamisham.

Dân Da đỏ bẩm sinh kiên nhẫn, cho nên hắn đứng trơ trơ như pho tượng trước Hoggan.

Một hồi lâu sau, chàng Da trắng tỉnh dậy. Mới đầu còn ngái ngủ, mắt còn mờ, chàng ngó chung quanh và thấy cây súng vẫn còn ở vừa tầm tay, chàng bèn ngóc đầu lên thì gặp cặp mắt của tên Da đỏ đương ngó chàng. Tức thì chàng tỉnh hẳn lại, nắm chặt lấy cây súng và nhẩy chồm dậy. Kaghamisham đưa tay ra hiệu đừng lo, rồi chậm rãi nói võ vẽ tiếng Anh:

- Bạn cứ yên tâm.

Nhưng Hoggan hoảng sợ và giận dữ vì bị quấy rối giữa giấc ngủ, chĩa họng súng vào giữa ngực Kaghamisham. Hắn thản nhiên mỉm cười, không hề xao xuyến.

Tay vẫn khoanh, hắn đứng trơ trơ, có vẻ như chế nhạo. Sau cùng, khi đã ngắm kỹ Hoggan, hắn nhã nhặn tươi cười nói:

- Tôi xin bạn cứ yên tâm. Bạn không tin bạn Da đỏ ư?

Hoggan la:

- Nếu tụi vô lại chúng bay mà tin được thì Trời đánh tao. Mày là quân gian trá nhất trong bọn. Mày chịu khó cùng đi với tao về trại và tao cho hay trước, nếu mày có cử động gì khả nghi thì tao bắn lòi ruột.

Kaghamisham biết rất ít tiếng Anh. Nếu hắn không hiểu lời nói của Hoggan thì coi vẻ mặt giận dữ của chàng, hắn cũng đoán được ý nghĩa câu ấy. Hắn bình tĩnh đáp:

- Bạn tưởng bạn mạnh là lầm. Bạn bị bao vây rồi. Đàn em của tôi ở gần đây. Tôi chỉ ra dấu là bạn sẽ phải bó tay. Vậy liệng cây gậy sấm đó đi và theo tôi. Tôi tới đây vì lòng mến bạn chứ không phải vì ghét bạn đâu.

Hoggan vừa giữ thế thủ, vừa liếc mắt dò xét các bụi cây ở chung quanh, nhưng không thấy gì cả. Chàng cho rằng tên Da đỏ chỉ có một mình và nói dối cho chàng sợ, nên chàng đáp:

- Tụi bay có ba ngàn đứa, tao cũng không núng.

Kaghamisham nhún vai, thấy điệu bộ anh hùng rơm ấy, đoán được ý của chàng rồi, mím môi nói:

- Bạn chửi nòi giống tôi như vậy có ích gì đâu? Bạn thử nghĩ tôi tay không lại đây, không có lấy một lưỡi dao dắt lưng nữa mà bạn thì cầm một cây gậy sấm ghê gớm trong tay. Vả lại tôi bắt gặp bạn đương ngủ, không đề phòng gì hết, nếu muốn hại bạn thì tôi đã ra tay rồi.

Hoggan càu nhàu:

- Phải. Mày lý sự giỏi, nghe cũng bùi tai đấy. Vậy mày muốn gì?

- Muốn rằng bạn theo tôi.

Chàng suy nghĩ một chút, tự hỏi đi theo nó có nguy hiểm gì không.

Nó đánh bẫy mình chăng? Ích lợi gì cho nó? Nếu thật tình nó muốn hại mình thì sao nó không lựa lúc mình đương ngủ? Chàng là một người can đảm, rất mạnh mẽ, lại đã từng trải, phiêu lưu. Chàng bằng lòng theo tên Da đỏ, tự nhủ phải canh chừng từng cử động của nó và luôn luôn nắm chắc cây súng.

Hai người đi sâu vào trong rừng. Hoggan đi sau tên Da đỏ vài bước, nghe ngóng tiếng động ở chung quanh. Chàng nhận ngay rằng có một đám động Da đỏ vẫn lén lút theo sau vì tụi này dù có dè dặt bước nhè nhẹ tới đâu đi nữa thì tai chàng đã quen, cũng nhận được những tiếng sột soạt trong đám lá và tiếng rắc rắc của cành khô dưới gót chân. Chàng không nói gì hết, sẵn sàng đối phó.

Họ đi chừng một giờ, không nói với nhau nửa lời. Tới một chỗ rừng bỗng nhiên thưa hơn, Kaghamisham ngừng lại và đợi chàng. Khi chàng theo kịp, tên Da đỏ rút ra một ống điếu, và không đốt thuốc, buông cho nó rớt xuống đất. Do dự một chút, Hoggan làm theo. Tức thì những tiếng động ở chung quanh ngừng hẳn. Hoggan vẫn không thấy tụi Da đỏ ở đâu, nhưng đoán rằng chúng ẩn núp khéo lắm và vẫn dò từng cử chỉ của chàng. Chàng hỏi:

- Tôi không biết bạn muốn gì?

Kaghamisham ngó chàng một cách nghiêm trang rồi chậm rãi đáp:

- Bạn là bạn thân của “Mắt Đại Bàng” phải không?

Hoggan gật đầu.

- Vậy tôi sẽ chỉ cho bạn một cảnh, bạn ngắm kỹ đi rồi làm ơn kể cho “Mắt Đại Bàng” nghe. Kaghamisham không phải là kẻ vô ơn. Bạn nghỉ ngơi một chút rồi chúng ta lại đi.

__________________________________________________________________________

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

CHƯƠNG IV (PHẦN II)_BÍ MẬT DẦU LỬA


CHƯƠNG IV

TẤN CÔNG TRẠI


Họ khởi sự đào lại ở bên bờ suối Dầu. Nhờ Hoggan, bây giờ họ đủ sức chống cự với tụi Da đỏ. Đại tá quyết định ngay, không tìm tòi ở bên bờ hồ Erié nữa mà đào ở gần chỗ cũ.

Marjorie nhập bọn. Nàng sửa sang lại nhà ván trong khi bọn đàn ông đặt máy. Như ông già Smith đã nói, người con gái kiều diễm ấy quả khéo léo như một nàng Tiên. Nhờ nàng mà căn nhà hóa ra đẹp đẽ và có được chút ít tiện nghi. Tánh tình vui vẻ của nàng làm cho ai nấy được tươi tỉnh, mỉm cười cả buổi tối, sau một ngày làm việc mệt nhọc. Đại tá không yếm thế nữa. Nàng hiểu phận sự của nàng là an ủi họ, cho nên chẳng những nàng để tâm tới những bước tiến bộ trong công việc mà còn khuyến khích họ đủ cách nữa.

Nàng đem hạnh phúc lại cho họ. Có vậy thì họ mới thắng nổi bao nỗi khó khăn.

Không thấy tăm dạng tụi Cherakee đâu hết. Nhưng thời hạn ba tháng đã qua, họ phải đề phòng chúng thình lình tới tấn công lúc nào không hay. Vì vậy đại tá định phải thay phiên nhau canh gác ban đêm ở khoảng từ máy tới căn nhà. Khí giới mới mua luôn luôn nạp đạn sẵn sàng, treo ở vách và không một người nào ngủ say hết. Hễ hơi có tiếng động là họ nhổm dậy liền.

Họ đào một giếng mới. Công việc đỡ khó nhọc và tiến mau hơn trước nhờ gặp được những lớp đất mềm. Nếu không có gì xảy ra thì chẳng bao lâu họ sẽ thành công. Ai nấy hăng hái, hy vọng tràn trề. Marjorie thường ra thăm máy để xem công việc tiến hành ra sao. Nàng hỏi đại tá:

- Ông nghĩ đã gần tới lớp dầu chưa?

- Gần tới. Nếu tôi không lầm thì chính nơi này phải có mỏ dầu và một ngày gần đây cô sẽ thấy kết quả.

Lưỡi đục xuống được 150 thước rồi. Đại tá tính rằng lớp dầu phải ở vào khoảng đó. Vậy bất thần lúc nào đấy, dầu lửa sẽ phun lên.

*

Khi đào tới 180 thước, đại tá bắt đầu thất vọng. Có lẽ là ảo mộng chăng? Không có mỏ dầu chăng? Ông Smith khuyên:

- Cứ yên tâm, yên tâm! Chịu khó kiên nhẫn đợi!

- Tôi đã đợi lâu rồi! Ông không thấy rằng tôi đã tính lầm như một cậu học sinh sao? Tôi tưởng có một lớp dầu… Hay là đào không đúng chỗ, lớp dầu ở bên cạnh chăng?

Lại phải đào một giếng khác. Ba bốn tháng công toi.

Marjorie nói:

- Trái lại, kinh nghiệm đó càng làm cho ông phải kiên tâm thêm chứ, vì nếu đào một giếng khác thì có thể lại thất bại như bây giờ thôi… rồi lại phải đào một giếng khác nữa.

Đại tá không phải là thiếu can đảm và kiên nhẫn. Sở dĩ ông quạu quọ, thất vọng như vậy, vì ông sợ đã tính sai, đã tưởng tượng nhiều quá. Đã có gì chứng minh rằng có từng hồ dầu lửa ở dưới đất như ông nghĩ đâu?

Tối hôm ấy, ống dò (1) xuống sâu 200 thước. Ông kéo lên, không thấy dầu, tức bực, lẳng lặng cúi đầu đi về nhà.

Vẻ rầu rĩ của ông làm cho cha con chàng Sam cảm động, buồn bã nhìn nhau. Ông già mím môi:

- Ba tưởng Đại tá đã tính lộn. Ông thất vọng có lẽ là phải. Ông thề với chúng ta tới 100 hoặc 150 thước là thấy dầu, mà đào tới 200 thước rồi vẫn chưa thấy gì hết. Vậy ông đã lầm rồi.

Sam nói:

- Lại phải đào chỗ khác.

Ông già suy nghĩ:

- Chưa biết chừng, không có dầu ở dưới đất đâu.

Sam cũng thất vọng nhưng không tỏ ra ngoài mặt. Chàng không nghĩ tới sự làm giàu nữa, không còn cao vọng gì cả, chỉ muốn giúp cho Đại tá thành công thôi, dù sự thành công đó không lợi gì cho chàng cũng được.

Ông già bảo:

- Thôi, chúng mình đi về.

Họ về tới căn nhà thì nghe Đại tá và Marjorie đương bàn cãi với nhau. Nàng giận lắm, mắt sáng lạ thường, hoa chân múa tay, lớn tiếng đưa lý lẽ ra. Đại tá cúi đầu nghe, không tán thành cũng không chỉ trích.

Nàng mỉa mai:

- Nực cười cho Đại tá. Ông bảo đào tới 200 thước rồi mà không thấy gì hết thì phải bỏ thôi. Ông không mắc cỡ sao? Tôi không học rộng như ông nhưng tôi nghĩ rằng cái lỗ nông choèn choèn 200 thước của ông so với trái đất mênh mông này bất quá cũng như một vết kim đâm trên một trái cam, chứ khác gì? Ai biểu ông rằng dầu lửa chẳng ở sâu tới 2000, 3000 thước? Ai bảo ông rằng chẳng phải đào tới trung tâm trái đất mới thấy dầu?

Đại tá càng ủ rũ hơn nữa, đáp:

- Nếu vậy thì tôi phải bỏ hết. Cái máy nhỏ nhít đó làm sao đào sâu như vậy được?

Marjorie thấy mình thắng, vui vẻ tiếp:

- Vậy ông đã đồng ý với tôi và nhận rằng nếu dầu lửa ở trung tâm trái đất thì phải kiếm một cái máy khác mạnh hơn, hoàn thiện hơn máy này, mới đào tới nơi được…

- Tất nhiên rồi. Không có việc gì không làm được cả. Nhưng cái máy hoàn thiện đó giá bao nhiêu tiền? Tôi không còn đồng nào hết. Mà ai chế ra được nó đây? Nhà kỹ sư nào cả gan dám phác họa một máy vĩ đại như vậy?

Marjorie vẫy những người khác lại gần rồi nhấn mạnh từng tiếng:

- Xin ai nấy đều nghe tôi nè. Đại tá mới nhận rằng không việc gì là không làm được. Ba và các anh hứa với tôi rằng sẽ đào cho tới khi nào lưỡi đào không còn xuống một li nữa thì lúc đó mới chịu bỏ đi đào nơi khác. Tôi là người đầu tiên đã chế diễu đại tá là điên cuồng và anh Sam là tham vọng. Đại tá đã dạy cho tôi biết suy nghĩ và tôi đã tin ở thuyết của ông, theo dõi công việc của ông, đã thấy tham vọng của anh sam không phải là vô lý nữa. Vậy ba và các anh hứa với tôi sẽ tiếp tục đào nhé?

Đại tá đứng dậy:

- Tôi hứa chắc với cô như vậy. Mất một hai tháng nữa, có đáng kể gì đâu? Thời gian vô cùng kia mà! Nếu ta thất bại thì ngày sau sẽ tiếp tục bằng những phương tiện khác và rồi sẽ phải thành công.

Ông già nói:

- Thôi, đi ăn. Tối nay tới phiên ai canh gác đây?

Sam đáp:

- Thưa ba, con.

Rồi chàng xách súng đi ra. Chàng phơi phới tự đắc. Những lời của người yêu vang lên trong lòng chàng. Nàng rất khôn khéo, làm công việc gì cũng tuyệt xảo thì nàng không thể nào lầm được. Chàng quý mến nàng làm sao! Mà hễ người yêu đã ra lệnh thì không có việc gì là làm không được.

Chàng lẳng lặng đi từ nhà tới máy. Thình lình chàng ngửng đầu lên và đứng sựng lại. Đêm xuống mau quá. Chàng ngồi xổm thu hình trong bóng tối và đợi, súng lăm lăm trong tay.

Chàng có cảm tưởng rằng một bóng người mới thoáng qua trước mặt chàng và tiến về phía máy. Bóng ấy có trông thấy chàng không? Đã sống lâu ở nơi rừng rú, chàng biết rằng trực giác và cảm tưởng của chàng ít khi lầm lắm.

Chàng kiên tâm ngồi rình, mắt dán vào nơi chàng đã thấy kẻ lạ mặt khả nghi.

Nhưng chàng không phải đợi lâu. Bóng đó thu hình khi chàng tới, rồi không thấy động tĩnh gì, tưởng đã trông lầm, ngang nhiên tới máy, không dè dặt trong cử động nữa.

Sam biết ngay là một tên Da đỏ. Chàng từ từ đưa súng lên và hô bằng tiếng Cherakee:

- Ai đó?

Tên Da đỏ kém thế : chàng thấy từng cử động của nó mà nó thì không thấy chàng, vì chung quanh tối như bưng.

Sam lại hỏi:

- Bạn câm đấy ư?

Tên Da đỏ đáp:

- Nếu bạn muốn nói với bạn Da đỏ thì cứ tiến lại đây. Tại sao lại phải trốn như vậy?

- Tốt hơn là bạn cho tôi hay bạn lại trại của người Da trắng để kiếm gì vậy? Chắc bạn biết rằng bạn Da trắng có những cây gậy sấm nổ lớn tiếng lắm và ở xa cũng giết được bạn chứ?

Tên Da đỏ đáp:

- Oyapok biết rằng bạn Da trắng có gậy sấm nhưng gậy ấy đã về tay người Da đỏ rồi.

- Vậy bạn Da đỏ muốn chiến tranh?

Tên Da đỏ do dự. Chắc nó nghĩ bọn nó còn ở xa quá, đánh nhau ngay thì sẽ bất lợi.

Thình lình Sam đứng dậy, tay cầm súng và lớn tiếng ra lệnh:

- Oyapok! Lại gần đây! Mau lên! Nếu không tao cho mầy về chầu ông bà.

Rồi chàng tiến tới vài bước.

Tên Da đỏ hiên ngang và tự đắc, không thèm nghe lời, đứng yên để đợi, khoanh tay trước ngực. Sam lại gần, dí họng súng mát lạnh vào sườn nó và nói:

- Tao tưởng chúng ta hòa bình với nhau rồi.

- Thời hạn đã qua rồi.

- Vậy thì tao sẽ giết mày như con chó. Tụi Cherakee chúng bay thích tấn công kẻ không tự vệ được và phá phách nhà cửa khi người ta vắng mặt.

Oyapok không đáp nhưng Sam thấy toàn thân nó run nhè nhẹ.

- Oyapok, mày đi trước tao. Tao dắt mày lại cho các bạn Da trắng xử. Mày sẽ giảng cho họ nghe vì lẽ gì mà lại đây. Tao cho mày biết trước, nếu hơi có cử chỉ gì đáng ngờ thì tao hạ mày liền như con chó.

Oyapok vẫn không nhúc nhích. Một tiếng cú ở trong rừng vọng lại. Sam lắng tai nghe. Tiếng cú lặp lại, mỗi lúc một xa. Chàng rùng mình nói:

- À. Có bạn mày theo sau. Chúng thấy mày ở lâu quá, lo cho mày. Nhờ trời phù hộ, chúng tao đã có đủ khí giới để tiếp đón tụi bay. Đi! Mau!

Tên da đỏ vâng lời, nhưng vừa đi vừa quay mặt qua bên phải, bên trái, kiếm xem có thấy mặt thằng bạn nào không. Mắt Sam không rời nó, ngón tay sẵn sàng để bóp cò nếu thấy có một bóng nào khả nghi ở chung quanh. Tên Da đỏ đi chậm quá, chàng thúc họng súng vào sườn nó, giục:

- Mau lên!

Tiếng cú cứ cách khoảng đều đều, lại đồng thời hú lên ở khắp bốn phương. Tim chàng đập thình lình. Chàng hiểu dấu hiệu ấy : thế nào tụi Da đỏ cũng tấn công. Trong trại chỉ có năm người mà quân địch đông bao nhiêu đây?

Khi gần tới nhà thì một tiếng súng nổ. Sam nghe viên đạn bay vèo, sát tai chàng, mừng thầm rằng tụi Da đỏ chưa khéo sử dụng những khí giới nguy hiểm mà chúng đã ăn cắp được của đại tá.

Nhanh như chớp, chàng lăn xuống đất, vừa kịp tránh một viên đạn thứ nhì. Nhưng lần này chàng để ý nhận xem viên đạn phát từ đâu và bắn liền về phía ấy. Có tiếng kêu rú lên. Chàng biết rằng viên đạn của chàng đã trúng đích và mừng thầm.

Oyapok tưởng chàng không coi chừng nó nữa, nhẩy lẹ vào bụi rậm. Sam bắn theo và tiếng kêu lần này vang lên, gần hơn, lớn hơn tiếng trước.

Chàng không phí công đuổi theo tên Da đỏ làm gì, chạy thẳng về trại, chắc rằng người nhà nghe tiếng súng đã tỉnh dậy, sẵn sàng để chống cự.

Chàng không lầm. Cả nhà đều tay cầm súng đứng thủ thế ở các cửa sổ. Cả Marjorie nữa, cũng cầm súng, quả quyết chiến đấu.

Khi Sam vô rồi, ông Smith và Hoggan chồng chất bàn ghế, đồ đạc ở sau cửa để chẹn lối vào. Rồi thì ai nấy đợi cuộc tấn công.

Nép sau cửa sổ như sau những lỗ bắn, họ rán ngó trong đêm tối. Duy có đại tá là đi đi, lại lại, lẩm bẩm thề tận diệt tụi sâu bọ Da đỏ đó. Chúng cản trở công việc của ông hoài.

Marjorie bình tĩnh hơn, đặt ngón tay lên cò súng. Đại tá lại gần, ngó nàng:

- Tôi cứ tưởng cô chỉ giỏi việc bếp núc, ngờ đâu cô cũng can đảm như một chiến sĩ nữa!... Này các bạn đừng mất công đợi chúng dở trò con khỉ của chúng ra. Mình thẩy trước vài viên đạn vào trong khu rừng kia đi. Chúng thấy mình khí giới đầy đủ, có lẽ sẽ biết suy nghĩ mà!

Cả năm người xúm lại chung quanh Marjorie rồi súng khạc một loạt đạn về phía rừng, cốt làm cho không khí vang động lên thôi.

Kết quả là tiếng kêu la chát chúa nổi lên ở khắp nơi.

Tụi Da đỏ thình lình nổi giận, khinh thị loại súng ấy, quyết chí tấn công. Vài đứa bạo nhất tiến tới sát nhà.

Hoggan và Kent nhắm. Ông Smith khuyên:

- Hãy khoan! Đừng giết chúng vô ích, chỉ làm cho chúng thêm thâm thù. Bắn cho chúng bị thương thôi. Vả lại, như đại tá nói, chỉ cần làm cho chúng sợ một lần là chúng không dám bén mảng tới nữa.

Trong khi ông già nói, Sam lại gần cửa sổ đợi cho một tên da đỏ đưa mình ra là lựa chỗ không phải là nhược điểm mà bắn.

Tên Da đỏ trúng đạn, lăn trên đất và tiếng gào thét giận dữ của cả bọn vang lên.

Ông già Smith khen Sam:

- Thằng nhỏ này giỏi.

Hình như tụi Da đỏ trốn hết sau phát súng ấy. Nhưng chúng thường gian dối, quỷ quyệt cho nên phải đề phòng chúng giả vờ chăng.

Sam tiến lại phía đại tá nói:

- Đã tạm yên rồi, để tôi lại máy xem tên mọi Oyapok có kịp phá hư nó không. Rồi tôi ở đó canh chừng.

Đại tá ngó chăm chăm chàng trước khi đáp:

- Em nói có lý. Phải coi chừng cái máy. Quân bất lương có thể tiến tới đó được. Nhưng đừng đi một mình, để tôi cùng đi.

Ông già Smith xen vô:

- Tôi cũng nghĩ cần phải giữ máy. Nhưng hai người không đủ. Cháu Marjorie đã tỏ ra can đảm, không hổ với tổ tiên. Vậy kể cả cháu, được sáu người. Chúng ta chia làm hai tiểu đội : một giữ nhà, một giữ máy.

Ông tiến lại phía Kent, bảo:

- Em đi với đại tá và Sam. Ở nhà ba người đủ rồi.

Người ta dọn lối cho ba người ra vì lúc nãy đã chẹn cửa. Họ tiến vào khoảng đêm tối.

Vừa mới tới gần máy, Sam nghe có tiếng động nhè nhẹ như mưa nhỏ lộp độp ở trong rừng. Chàng nói nhỏ:

- Coi chừng, chúng mình sắp bị tấn công.

Chàng nói đúng. Tụi Da đỏ biết căn nhà phòng thủ kỹ quá khó chiếm được, cho nên tính lại phá máy dễ hơn. Chúng chỉ cần hại bọn này thôi. Hễ máy hư thì họ phải bỏ bờ Suối Dầu mà đi nơi khác.

Ba người núp sau ba cột gỗ lớn, chắc, đóng xuống đất để đỡ cái trục kéo và thấy nhiều bóng người tiến lại phía họ.

Đại tá nói nhỏ:

- Mỗi người nhắm một đứa, đợi tôi ra lệnh rồi cùng bắn một lúc.

Tụi Da đỏ cũng đã trông thấy họ vì một mũi tên bay vèo tới, cắm vào một cột gỗ.

Đại tá hô:

- Bắn!

Loạt súng vang lên trong cảnh tĩnh mịch của ban đêm. Rồi có tiếng rên la rùng rợn và tiếng chân người chạy cuống cuồng.

Sam nói:

- Đêm nay chúng ta được yên ổn rồi. Chúng biết chúng ta luôn luôn đề phòng và mạnh hơn chúng.

Tuy vậy, họ vẫn canh gác tới sáng. Nhưng tụi Da đỏ không tới nữa. Chúng có đợi cho đông hơn rồi sẽ trở lại tấn công và chiếm trại không?

Sau vụ đó, đại tá tự tin hơn một chút. Sáng hôm sau, ông hăng hái làm việc, khuyến khích mọi người.

- Rán lên, các bạn! Nếu cần, chúng ta sẽ đào tới trung tâm trái đất, kỳ gặp được lớp dầu mới thôi.

Tiếng máy đều đều kêu : “cắc, cắc, cắc”.

Tám ngày sau, đào xuống sâu được 215 thước.

----------------------------
(1) Mỗi khi lưỡi đào xuống tới đâu thì máy đẩy một cái ống xuống tới đó để thành một lỗ nhỏ và sâu ở trong đất. Ống ấy là ống dò.

__________________________________________________________________________

CHƯƠNG III (PHẦN II)_BÍ MẬT DẦU LỬA)


CHƯƠNG III

MỘT VỊ CỨU TINH


Nhờ Marjorie tận tâm săn sóc, đại tá mạnh lên lần. Nàng làm các thức ngon và kẹo bánh cho ông ăn. Ông nhận rằng hồi trước, mải lo đào giếng ông không nghĩ tới ăn uống để bồi bổ sức khỏe mà Hoggan săn bắn tuy giỏi, chứ làm bếp rất vụng về. Vả lại nhờ cảnh vui vẻ trong gia đình của ông Smith, ông càng mau mạnh.

Nhưng ông càng lại sức thì càng nghĩ tới sự đào tẩu của Hoggan. Ông biết y từ lâu, không ngờ y lại hành động như vậy được. Y suy nghĩ ra sao? Sợ tụi Da đỏ ư? Hay là thất vọng, không kiên tâm được nữa? Hay là y tin rằng ông đã lầm và công việc của ông sẽ thất bại? Hay là thấy da thú vật bán được nhiều tiền mà tối mắt lại?

Cho nên hễ nhắc tới Hoggan là ông nổi giận như điên, mặt mày ủ rũ suốt ngày.

Máy đã gỡ ra và được săn sóc cẩn thận. Nhờ có cha giúp, Sam cải thiện thêm được vài bộ phận nữa và bốn người vui vẻ bàn tính ngày khởi công lại. Ý kiến của ông Smith được tán thành.

Ông nghĩ đã phải làm lại từ đầu, đào một giếng mới thì nên kiếm một chỗ khác không sợ tụi Cherakee lại phá rối. Nếu ở gần bờ suối Dầu có mỏ dầu thì ở gần bờ hồ Erié tất cũng phải có mỏ dầu vì nước hồ cũng như nước suối, có lớp dầu ở trên.

Đại tá còn ngần ngại vì như vậy phải mất vài ngày nghiên cứu tính chất của đất để kiếm một chỗ tốt như ở bên bờ Suối Dầu.

Khi ông bắt đầu đứng dậy được, ông vịn vai Sam đi dò xét ở chung quanh. Bây giờ ông đã quen được tiện nghi, cho nên định kiếm một chỗ ít nắng gió để cất trại và có ý muốn mời cô Marjorie theo giúp đỡ việc bếp núc, nhà cửa nữa. Bốn người đàn ông sống độc thân, không có tay người đàn bà thật bất tiện.

Đại tá thấy ý kiên của ông Smith là có lý và còn có cảm tưởng rằng ở chung quanh Titusville nơi nào cũng có mỏ dầu lửa, nhưng kiếm chưa ra đó thôi.

Kinh nghiệm mới rồi chỉ cho ông thấy rằng phải hết sức tránh những nơi đất cứng quá, có đá huyền vũ hoặc đá hoa cương, nếu không thì lưỡi đục sẽ lại gãy nữa. Mà chung quanh Titusville chỗ nào cũng là đá hết.

Một tối, trở về nhà, ông bực tức lắm, nói:

- Chỉ có cách thay máy khác mới đào giếng được ở đây. Máy này yếu quá, phải về Pittsburgh kiếm máy mạnh hơn.

Không ai nói gì hết. Ông tiếp:

- Hay là lại trở về giếng cũ và đào lại?

- Thế còn tụi Cherakee và kỳ hạn chúng đã định?

Ông cắn môi:

- Tống cổ tụi nó đi?

- Nhưng trước khi ra tay được thì có lẽ chúng đã cho chúng ta lên chầu Trời rồi.

Về Pittsburgh kiếm máy mới là một hành trình nguy hiểm, đại tá biết vậy, vì vẫn chưa quên chuyến trước. Vả lại, tiền đâu mà mua máy mới?

Điều đó làm cho ông phát điên:

- Phải làm cho dân ở đây thích công việc của mình mới được, như vậy họ sẽ đem khí giới lại canh gác chung quanh trại.

Ông Smith nói:

- Đừng nghĩ tới điều ấy. Đừng trông cậy ở họ chút gì hết. Ông biết họ nhìn chúng ta với cặp mắt ra sao chứ?

Bốn người đương bàn tán thì Marjorie dọn thức ăn lên. Bữa đó không vui. Đại tá nghĩ tới lúc mọi sự gắng sức đều thất bại và phải bỏ dở cuộc phấn đấu.

Thấy vẻ mặt thất vọng và ủ rũ của ông, Marjorie nghĩ cần phải khuyến khích ông. Nàng mỉm cười, nói một giọng mỉa mai:

- Nếu đại tá thấy mệt quá, hoặc muốn bỏ cuộc, thì ông cứ về tỉnh đi. Ở đây sẽ không có sự gì thay đổi cả.

Ông Drake nhún vai. Marjorie tiếp:

- Nhưng tôi muốn xin ông một điều. Chúng tôi đã dành dụm được ít tiền mà ông thì một đồng cũng không có. Vậy ông bán máy cho chúng tôi. Bây giờ chúng tôi cũng thạo việc như ông rồi.

Ông Drake đập bàn, la:

- Ai biểu cô rằng tôi muốn bỏ hết? Cho tôi mười cây súng, xem tôi có sợ tụi Cherakee không?

Đại tá nóng như lửa ; đêm đã khuya, không khí có phần kém vui vẻ.

Thình lình trước cửa có tiếng lộp cộp và tiếng ngựa hí. Sam đứng dậy.

Ông Smith bảo chàng:

- Ra coi xem có thằng tướng nào mà giờ này còn đi chơi như vậy.

Chàng chạy ra mở cửa rồi rán nhìn trong đêm tối.

Mấy người ở trong nghe có tiếng giày đinh sắt nhảy từ trên lưng ngựa xuống rồi thấy Sam chạy ra ngoài.

Ông già tỏ vẻ bực tức:

- Có cái gì thế này?

Ông sắp đứng dậy đi theo ra thì giọng của Sam vang lên, chát chúa, không ai đoán được là vui hay sợ nữa.

- Hoggan!

Đại tá nhảy chồm lên:

- Hoggan! Hoggan! A, thằng ba que đó về đây, được lắm! Nó sẽ biết tôi trị nó ra sao.

Sam trở vô, vẻ mặt kỳ cục, xám xanh và hốt hoảng, đưa tay ra như để giới thiệu ai, giọng run run:

- Hoggan trở về. Phải, chính anh ấy.

Rồi sực nhớ ra, chàng bảo Marjorie:

- Em làm gấp vài món gì cho anh ấy ăn, chắc đói lắm. tội nghiệp!

Hoggan vô, dáng mệt mỏi, gầy trông thấy. Nét mặt hốc hác, đất cát đóng đầy trên mặt, coi như một tên Da đỏ ; quần áo rách rưới, vai đeo một cây súng mới, y như những chiếc súng mà đại tá đã mang theo hồi trước.

Hoggan nói, giọng tự nhiên:

- Tôi đây! Tôi đã tưởng không bao giờ về được tới nơi.

Rồi kiệt sức, chàng ngồi phịch xuống một chiếc ghế. Đại tá, ông già và Sam đều trừng trừng ngó chàng, ngạc nhiên, sửng sốt.

Đại tá lờ mờ hiểu rằng trách Hoggan là vô lý. Ông như suy nghĩ một lúc, sau cùng tiến lại phía chàng, hỏi:

- Ở đâu về vậy, Hoggan?

- Ở Pittsburgh.

- Làm gì ngoài đó?

- Tôi mang khí cụ và khí giới về. Tôi nghĩ rằng đại tá cần những thứ ấy.

Ông Drake nghẹn ngào hỏi:

- Khí cụ và khí giới?

- Dạ phải, tôi tự nghĩ máy đã hư mà tụi Cherakee lại hăm dọa thì không thể nào làm việc được hết. Da thú vật tôi bắn được có giá trị. Tôi đem bán. Thật là khó nghĩ quá. Mang tiền vàng về để mua chuộc tụi Cherakee hay là mang súng về để diệt tụi họ? Tôi tính toán hoài, không biết đằng nào hơn. Đáng lẽ trước khi đi tôi phải hỏi ý đại tá. Nhưng đã ra tới nơi rồi, không lẽ trở về mà không được việc gì, nhất là khi trở về rồi, không dễ gì xin phép đại tá đi được nữa. Vì vậy tôi đành quyết định lấy và tôi mua súng. Được một tá súng và bốn thùng đạn. Còn dư tiền tôi sắm vài bộ phận trong máy.

- Hoggan! Cũng may cho em không còn ở trong quân đội nữa, nếu không thì tôi đã đem xử bắn em rồi (1). Nhưng em thật là tốt bụng ; lại đây cho tôi ôm ; em là vị cứu tinh của tôi.

-----------------------
(1) Vì tội không tuân thượng lệnh, dám tự tiện hành động.

__________________________________________________________________________

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>