Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

CHƯƠNG BA_RONG BIỂN


BA


Trước mặt Tuấn la liệt những nhật báo vừa được phát hành hồi chiều. Không nghĩ gì tới bữa cơm tối, Tuấn mải miết đọc những bài tường thuật và phê bình cuộc triển lãm hội họa của chàng. Tay cầm bút đỏ, Tuấn gạch dưới những hàng chữ quan trọng hay lấy kéo cắt những nhận xét xây dựng. Hầu hết các bài báo đều dành nhiều thiện cảm cho người hoạ sĩ trẻ mới “ra quân” lần đầu tiên. Tuấn thích nhất bài ghi nhận của một ký giả ký tên V.H. :

“Trong bộ môn hội hoạ, mỗi hoạ sĩ có một bút pháp riêng và một kỹ thuật dùng mầu sắc riêng để diễn tả đề tài muốn trình bày. Riêng Trường Tuấn, hoạ sĩ đã dùng sơn dầu để thực hiện các bức tranh mang khuynh hướng biểu tượng.
 
Nhìn tác phẩm của Trường Tuấn, người xem như được thấy thế giới mới của hình thức và mầu sắc như muốn bùng lên từ các hoạ phẩm này. Những mầu tro xám, mầu đỏ thẫm, mầu xanh lục, mầu vàng của buổi ban mai, mầu đỏ của hoàng hôn, mầu xanh của biển cả xuất phát từ trực giác của hoạ sĩ. Tất cả những đường nét mầu sắc hoà hợp nhau một cách kỳ diệu và nên thơ. Điều này chứng tỏ Trường Tuấn đã có một hướng đi đọc đáo, đã chế ngự được mầu sắc, đã thành công trong việc gởi gấm tâm hồn, tư tưởng của mình vào hoạ phẩm.
 
Khách viếng phòng triển lãm không thể quên được những hoạ phẩm thuộc loại sáng giá nhất như Gió cát, Nhiệt đới, Biển và người con gái cô đơn, Hoài vọng, Loài chim biển, Bơ vơ, Lộng gió, Giấc mơ của loài ốc biển, Đêm biển động... Tuy nhiên được chú ý nhiều nhất có l là bức “Rong Biển”. Tranh khổ 1 thước 20 x 0.60 vẽ một khuôn mặt con gái mờ ảo trong dòng nước, lẫn lộn trong những cụm rêu biển, đá và sóng. Trường Tuấn đã sử dụng mầu sắc rất táo bạo và đường nét mạnh trong hoạ phẩm này. Chất nâu đen hòa hợp với chất xanh trộn đỏ đậm tạo cho khách xem một cảm giác vừa lạ lùng vừa diễm ảo... “Quan niệm của Trường Tuấn là tranh phải có hồn, phải tạo được “những cảm giác bất ngờ khi thoạt nhìn”... và hoạ sĩ phải chân thành mới gây được sức quyến rũ cho những người thưởng thức tranh.
 
“Được hỏi về nguyện vọng, hoạ sĩ Trường Tuấn cho biết chỉ muốn sao có đầy đủ phương tiện để sáng tác thật nhiều, để thâu thập những kinh nghiệm ngõ hầu tạo được những tác phẩm vĩ đại, đồng thời hoạ sĩ cũng mong ước có dịp học hỏi thêm về nghệ thuật hội hoạ của ngoại quốc để phong phú hóa kiến thức và khả năng.

“Thiết tưởng cũng cần ghi lại đây một vài “chuyện bên lề” trong cuộc triển lãm hội hoạ của Trường Tuấn. Đầu tiên chúng tôi nhận thấy một sự ngạc nhiên rất hữu lý của người xem tranh. Đó là khuôn mặt của người thiếu nữ trên các bức hoạ của Trường Tuấn đều có những nét giống nhau khiến người ta tự hỏi phải chăng hoạ sĩ có một người mẫu duy nhất hay hoạ sĩ trong khi sáng tác đã bị một hình ảnh dĩ vãng nào đó “ám ảnh”. Ngoài ra khách cũng không hiểu lý do hoạ sĩ Trường Tuấn đã không đề giá bán trên hoạ phẩm “Rong Biển” như trên các bức tranh khác và đã nhã nhặn từ chối bán mặc dầu đã có nhiều người trả giá rất cao.

“Trước câu hỏi của chúng tôi là người con gái ở trong tranh phải chăng là “Trường Tuấn phu nhân”, người hoạ sĩ trẻ 27 tuổi đời này chỉ mỉm cười thay câu trả lời... ” 
 
Giờ đây ngồi đọc bài báo trên Tuấn cũng đang mỉm cười. Chàng vẫn có cảm giác như đang sống trong ảo tưởng. Cuộc triển lãm hội họa đầu đời đã thành công ngoài ý muốn của Tuấn. Những lo âu, hồi hộp khởi đầu đã tan biến ngay từ sau giờ khai mạc phòng tranh. Bạn hữu chạy lui tới thông báo cho Tuấn những kết quả khả quan. Tuấn xúc động đến muốn rưng rưng nước mắt. Các ký giả vây quanh phỏng vấn, chụp hình khiến nhiều lúc Tuấn mất bình tĩnh, trả lời không đúng hoàn toàn như ý muốn. Chàng buồn cười nhất là khi các nhà báo và khách viếng phòng triển lãm quay chàng về sự thật “người con gái trong tranh”. Dường như không ai tin Tuấn cho biết người con gái làm mẫu đó hiện sống ở một tỉnh lẻ, thuộc miền duyên hải xa xôi, trái lại nghi ngờ một trong những người bạn gái trong ban tiếp tân của Tuấn. Cuối cùng chàng chỉ biết cười trừ. 
 
Đến hôm nay phòng triển lãm tranh của Tuấn đã mở cửa tới ngày thứ ba và số hoạ phẩm được khách mua lên tới hơn phân nửa. Công việc tương đối đã lắng đng Tuấn mới có chút thời giờ để mắt tới những phản ứng của báo chí.

Sự yên tịnh của đêm dễ làm tâm hồn chàng chùng xuống. Một lúc sau, không muốn đầu óc rối bời suy nghĩ nữa, Tuấn lấy cây thước chặn trên mấy tờ báo rồi ra đứng tựa thành cửa sổ, đưa mắt nhìn ra bầu trời lấp lánh ánh sao. Điếu thuốc được thắp lên ; làn khói chưa kịp thoát ra hết khỏi miệng đã bị gió đánh toan loãng. Tuấn ngửa cổ hít một hơi mạnh. Không khí làm mát buồng phổi – dễ chịu. Dưới đường, xe cộ qua lại đã thưa thớt, bộ hành như không còn ai. Ánh đèn ống nhạt nhòa làm loang lổ thành phố.

Những giây phút vắng lặng tiếng động, nhất là vào đêm, dễ đem người ta về thời gian đã qua – những giây phút sống cho chính mình. Tuấn cũng đã khởi sự chìm sâu trong dĩ vãng, một dĩ vãng còn nóng bỏng xúc động và đầy ắp kỷ niệm – Thế mà đã hơn một tháng, khoảng thời gian tối tăm mặt mũi cho công việc sữa soạn phòng triển lãm, không chừa cho Tuấn giờ phút nào để được sống lại với những hình ảnh thân thiết. Câu hỏi đầu tiên hiện đến trong đầu óc Tuấn là “không hiểu giờ này Trâm ra sao, đã khoẻ lại hẳn chưa?” Trận đòn rơi trên thân thể Trâm in hằn trong trí tưởng của Tuấn còn làm chàng rùng mình mỗi lần nghĩ tới. Tuấn nghĩ nếu hôm đó mình không vô tình bt gặp khi ở phố về có lẽ Trâm đã chết vì cơn điên của người cha. Những lời Trâm kể trước đó được chứng minh cụ thể trước mắt Tuấn. Và chàng đã sững sờ đến không tin nổi sự thật.

Tuấn nuối tiếc đã không gặp được Trâm trước ngày rời bỏ thành phố của biển cả. Chỉ tại mấy thằng bạn đem xe xuống đón sớm hơn dự liệu cả tuần lể. Hy vọng lá thư gửi lại bà chủ nhà sẽ giúp Trâm hiểu – nhưng liệu Trâm có tới được không để nhận thư ? Mà không hiểu tại sao bẵng đi cả nửa tháng mà không thấy Trâm lại? Giận? Ghét? Hay tại gia đình cấm không cho ra khỏi nhà? Tuấn níu kéo vào giả thuyết cuối cùng này để tạm yên lòng – Mặt hồ phẳng lặng tưởng đã vĩnh viễn bình yên không ngờ lại lăn tăn gợn sóng dưới cơn gió thoảng. Chính Tuấn cũng thắc mắc về mình. Lâu ngày Trâm không tới, Tuấn bắt gặp một khoảng trống, rơi vào uể oải và thẫn thờ. Tiếng nói trong như thủy tinh, nũng nịu và ngọt lịm vẫn vẳng lặng bên tai, trong trí khiến Tuấn nhiều lần phải bỏ cọ vẽ ra đứng tựa cửa, đốt liên tiếp những điếu thuốc để rồi giật mình khi thuốc cháy đến tận tay lúc nào không biết. Những khuôn mặt trong tranh có sự sống thực sự thì thầm với Tuấn để bắt Tuấn đứng lại hàng giờ để ngắm, để tưởng có thật và để tâm tình. Tuy nhiên khi trầm tĩnh lại, trở về với thực tại, Tuấn chối bỏ tất cả những gì đã sinh động trong tâm tưởng, những xôn xao trong tình cảm, những vu vơ trong ý nghĩ, những thơ mộng trong hình ảnh vẽ vời. Tuấn tự vạch một lằn mức giới hạn cho mình bằng một xác định của lý trí: vết thương cũ nội tâm vừa thành sẹo non mình không thể dấn thân vào bất cứ một cuộc phiêu lưu tình cảm nào khác nữa ; dĩ vãng đã rướm máu thì không thể để cho tương lai ung mủ. Chỉ có nghệ thuật để sống – Thế thôi! Vả lại Trâm còn nhỏ tuổi, đáng là người em, người cháu, chắc chưa biết gì về chuyện tình cảm thì mình cũng không nên bắt một trái xanh chín sớm : 
 
Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái,
Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua  
 
Đứng như vậy đến quá khuya, Tuấn mới quay vào ; ánh mắt chợt gặp một khuôn hình đặt trên tủ sách. Người con gái có khuôn mặt tròn tóc ngắn, đôi mắt mở lớn, cười trong ảnh. Tuấn tiến lại, nâng khuôn hình lên, phủi bụi, nhếch mép cười ; nụ cười không phải do sự thích thú, mãn nguyện tạo nên, nhưng gượng gạo, không tự nhiên và có cái gì cay đắng, mỉa mai trong đó. Dã Thảo đấy – loài cỏ dại đấy – người tình của Tuấn cách đây hai năm. Đặt chân vào đời chàng đầu tiên để rồi cũng đầu tiên làm cho chàng hoài nghi tất cả khi người con gái đó ra đi, để lại dẫy đầy cay đắng trong tâm hồn chàng. Cuộc tình kéo dài một thời gian ngắn để rồi kết thúc một cách vô vị. Nghĩ lại Tuấn cũng nuối tiếc những ngày tháng tình yêu thơ mộng: Chiều nào Tuấn cũng đến tận cổng trường đón Thảo để rồi hai đứa cùng sóng bước bên nhau dưới hàng lá me, trao nhau những câu nói rất thường, gần như vô nghĩa nhưng lại chất chứa yêu thương, ngút ngàn trữ tình. Lần nào thì Dã Thảo cũng bắt Tuấn hát bài ca lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Duy (phổ thơ Phạm Thiên Thư) – “Em tan trường về. Đường mưa nho nhỏ. Ôm nghiêng tập vở. Tóc dài tà áo vờn bay... Em đi dịu dàng. Bờ vai em nhỏ. Chim non lề đường nằm im dấu mỏ” ... rồi thì Dã Thảo hát khẽ “Kinh cầu tình yêu” – “Lạy trời cho con thương người con thương... Lạy trời cho con thương người con thương... Và lạy trời xui người con thương thương con, thương con, thương con, thương con đời đời... ". Thế mà không ai ngờ mối tình thơ mộng đó lại có thể chấm dứt được: Đậu xong tú tài toàn phần, Thảo đi làm cho một cơ quan ngoại kiều. Cũng từ ngày đó, tiếp xúc với một xã hội xô bồ, Thảo đổi thay, đua đòi chưng diện và son phấn. Những lời khuyên răn của Tuấn chỉ được trả lời bằng những thái độ lạnh nhạt, mỉa mai hay khinh khỉnh. Như con thiêu thân, Dã Thảo quay cuồng trong những cơn sóng vật chất. Cô nữ sinh trong trắng và hồn nhiên ngày nào đã hoàn toàn chết trong một Dã Thảo của cuồng loạn. Tình yêu không còn mầu nhiệm nữa. Cuối cùng Thảo đã chấm dứt niềm hy vọng của Tuấn bằng một câu nói tàn nhẫn: “Đừng theo đuổi tôi nữa. Tôi chán ngấy cái thứ ái tình không tưởng của anh rồi!”. Và chừng hai ba tháng sau Tuấn được tin Dã Thảo đã chính thức sống chung với một người đàn ông ngoại quốc.

Ngày đó Tuấn tưởng chừng như cả bầu trời sụp đổ. Mấy đêm liền, trên căn gác trọ chật chội Tuấn ngã gục bên những vỏ chai rượu. Nỗi buồn da diết bám sát Tuấn trong từng giây phút. Mắt quầng thâm và trũng sâu vì mất ngủ ; các đầu ngón tay vàng đen vì khói thuốc. Tuấn bỏ cọ vẽ, bỏ thế giới hội họa để tự đầy đọa trong vực thẳm tủi hận. Thân hình gầy guộc lang thang trên các hè phố như một thằng điên. Thật ra Tuấn không trách Thảo đã bị hoàn cảnh thay đổi, nhưng oán thù thân phận mình. Chàng cho rằng chỉ vì nghèo mà đành để bao mộng ước bị đui chột. Có lần Tuấn trách trời đất đã tác tạo chàng trong kiếp sống nghệ sĩ để rồi bây giờ và mãi mãi vẫn luôn trắng tay...

 Tuy nhiên theo thời gian, nhờ những lời khuyên can và khuyến khích của bạn bè Tuấn dần dần nguôi ngoai, lấy lại được phần nào bình tĩnh và quân bình tâm hồn. Vết thương nội tâm với ngày tháng dịu dần đi. Và Tuấn trở lại với hội họa. Chàng bắt đầu nhận ra rằng chỉ có nghệ thuật là chung thủy trọn nghĩa và là ý sống của cuộc đời. Bạn hữu thường xuyên đến với Tuấn bằng những khích lệ chân tình. Tuấn say mê vẽ. Mục tiêu gần nhất của Tuấn là cố gắng thực hiện cho bằng được một cuộc triển lãm các tác phẩm do chàng sáng tạo. Chàng di chuyển thật nhiều – đi hết tỉnh nọ đến miền kia – để tìm đề tài và cảm hứng. Trong những chuyến đi chàng đã nhận thấy quê hương mình thật đẹp, thật gấm vóc, thật tuyệt vời. Thiên nhiên của rừng núi trùng điệp, của những cánh đồng phì nhiêu và thẳng cánh cò bay, của sông dài, biển rộng, của trời đất bao la vô tận... đã tác tạo niềm vui cho Tuấn. Lạc quan đã chen sỏi đá vươn lên trong tâm hồn người họa sĩ trẻ tuổi để rồi được thể hiện, được hiện nguyên hình trong từng nét vẽ, trong các họa phẩm. Và nhất là từ ngày đặt chân tới một miền duyên hải, gặp được một tâm hồn “mê biển kinh khủng” thì Tuấn lại có cảm tưởng đất khô cn đã nở hoa...
 
Dòng dĩ vãng chấm dứt, Tuấn trả khuôn hình người tình xưa về ch cũ. Tuấn lững thững bước ra balcon, mở tung cánh cửa. Khí lạnh chụp lấy chàng. Một điệu nhạc về đêm từ nhà ai còn thức khuya như chàng vọng đến. Trong sự hoang tịch của đêm Tuấn nghe rõ từng chữ trong tiếng hát khàn đục của người nữ ca sĩ – «... tình ngỡ đã phôi pha nhưng tình vẫn còn đầy. Người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây. Những bước chân mềm mại đã đi vào đời người như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi... ». Những ngày trước mỗi lần nghe bài hát này Tuấn lại buồn ray rứt; mỗi nốt nhạc như kim nhọn xoáy tận đáy tâm hồn chàng. Giờ đây cũng bài hát đó, cũng những từ ngữ và âm thanh đó, tình cảm của Tuấn cũng xao động nhè nhẹ ; tuy nhiên cái xao động đó xuất phát từ nét diễm tuyệt của âm nhạc thuần túy, từ tính chất liêu trai của giọng ca giữa đêm – thế thôi – chứ tuyệt nhiên không vì một hình ảnh dĩ vãng nào...
 
Tiếng người xướng ngôn viên giới thiệu tiếp một bài thơ của một thi sĩ thời tiền chiến được “giao duyên” với bài hát vừa được trình bày. Thính giác của Tuấn không bỏ sót một tiếng nào. Giọng ngâm thật ấm, trầm, thật ngọt lịm như ru hồn người, len thấm vào từng tế bào, từng huyết quản li ti của Tuấn khiến chàng như đang sống trong một cõi hôn mê:
 
“Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ em của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đương cười ở phương trời,
Nhớ đôi mắt đứng nhìn anh đăm đắm.
Em! Xích lại! Và đưa tay anh nắm!” 
 
Bài thơ như có huyền lực làm thức giấc toàn diện tình cảm của Tuấn – thứ tình cảm của thời còn cắp sách tới trường – lần đầu tiên trong lứa tuổi mới lớn biết nhớ nhung một bóng hình rồi cả đêm thức trắng, làm thơ tỏ tình – thứ tình cảm thật nhẹ nhưng thật đằm thắm. Chàng như quên bài thơ mà chỉ mơ tưởng đến những hình ảnh do bài thơ tạo nên. Tâm trí chàng bay bổng về một chân trời, nơi đó có một người con gái chất phác, thật hiền dịu, thật dễ thương, nhưng lại đau khổ về thể chất, cô độc trong tâm hồn, nơi đó có biển trời bao la, có tiếng sóng độc điệu muôn thuở, có những cánh chim chiều chiều tìm về tổ ấm. Nghĩ tới nơi đó Tuấn thấy tâm hồn mình ấm lại.

Khi ánh đèn nhà bên kia tắt phụt, tiếng âm nhạc chết lặng, trả lại sự tĩnh mịch tuyệt đối của đêm, Tuấn quay vào, nằm vật xuống giường, đốt thêm điếu thuốc. Những vòng khói bay lên, dán trên đỉnh màn. Một làn gió mạnh hất tung mấy tờ giấy trên bàn xuống mặt sàn gạch. Tuấn không để ý.

Một lúc sau những dòng tư tưởng đang sôi động trong đầu óc Tuấn dịu xuống, tắt dần. Mẩu thuốc lá thoát khỏi hai đầu ngón tay, rớt xuống sàn gạch. Đầu Tuấn nghẹo sang một bên. Chàng đã thiu thiu ngủ tự bao giờ...
 
 Tuấn thấy mình lang thang trên bờ biển. Gió từ ngoài khơi đưa vào mát rợi. Chàng nhìn bao quát đại dương và cảm thấy một sự quạnh hiu bao la mà trong đó chàng hiện hữu. Những tia sáng mặt trời như đốt cháy mặt biển, ánh nắng phản chiếu xuống tấm gương trong dội lên làm chóa mắt Tuấn. Ở phía xa, nước biển lại xanh đậm, đậm đến độ như đã hóa thành màu tim tím. Tuấn không còn phân biệt được đường vòng chân trời. Tuy nhiên mắt chàng như bị thu hút bởi những ngọn đồi nổi bật hẳn lên nhờ tràn đầy ánh sáng. Những đám mây bao quanh đỉnh núi cho Tuấn có cảm tưởng ngọn núi được phủ tuyết. Trước mặt Tuấn một con chim biển với đôi cánh dài vẽ những đường vòng tròn trên nền trời. Bỗng con chim đâm thẳng xuống mặt nước rồi lại vụt lên làm tung tóe những giọt nước long lanh như thủy tinh...
 
Tâm hồn Tuấn trải rộng như mặt nước mênh mông. Chàng tiếc đã không đem theo giá vẽ và sơn mầu để chụp thiên nhiên lại trên khung vải. Nhớ lại một bài thơ đã thuộc khi còn là một cậu học trò bạch diện thư sinh nhưng nổi tiếng đa tình, Tuấn ngâm nga:

“Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn
 Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
   Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
   Bày vội vã vào trong hồn mở cửa
 
  Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
  Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
  Thơ học trò anh chất thành non
 Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu...  

Đang “ru với gió... và vơ vẩn cùng mây” bỗng Tuấn giật nẩy mình khi hai bàn tay ai từ phía sau bịt lấy đôi mắt chàng rồi tiếp theo là một tràng cười lanh lảnh. Tuấn đã nhận ra người nào rồi, tuy nhiên lại không muốn mất vội cảm giác ngây ngất đang được chuyền từ những ngón tay thon nhỏ mát lạnh vào da thịt chàng nên Tuấn giả vờ không biết:

- Ai vậy ?

Tiếng cười trong vắt lại nổi lên kèm theo một giọng nói đã được làm biến đổi cho không còn tự nhiên:

- Đoán thử coi? Đúng được thưởng!

Tuấn thích thú cười theo đồng thời kể một số tên tưởng tượng:

- Dung phải không ?

Im lặng. Tuấn tiếp:

- Thắm phải không ? Nguyệt phải không ? Thúy ? Hồng ? Hiền ? Thôi đúng là Tiên rồi ?

Đôi bàn tay trên mặt Tuấn lỏng ra. Tuấn quay lại, đóng kịch bằng một bộ điệu ngạc nhiên:

- Ồ Trâm! Thế mà chú không nhận ra chứ!

Nhưng trái với điều Tuấn nghĩ, Trâm đang vùng vằng bỏ đi. Tuấn sửng sốt thực sự:

- Ủa, sao đang yên giận chú vậy ?

Trâm vẫn không thèm quay đầu lại. Tuấn theo sát bên:

- Chú đâu có làm gì ?

Bộ mặt dỗi hờn của Trâm nhìn thật dễ thương ; Tuấn muốn được ngắm mãi, nhưng trước thái độ đổi thay bất chợt của Trâm, chàng lại ngại ngùng không dám kéo dài giây phút thần tiên này:

- Thôi cho chú xin đi, rồi muốn gì chú cũng đền.

Trâm phụng phịu:

- Hổng thèm!

- Chú sẽ vẽ tặng cháu ba bức tranh thật tuyệt!

- Hổng thèm!

- Hay chú sẽ đưa cháu đi… ăn cà rem này, đi xem các thắng cảnh này, rồi coi chớp bóng nữa…

- Hổng thèm!

- Đúng rồi, chú sẽ đưa cháu về Sàigòn chơi để...

 - Hổng thèm! Hổng thèm!

Tuấn bắt chước giọng giận dỗi:

- Thôi, nếu “hổng thèm” thì chú... đi về vậy. Ở đây “người ta”... ”hổng thèm” chơi với mình thì chẳng thà về ngủ còn sướng hơn.

Nói rồi Tuấn giả vờ bỏ đi. Trâm cuống quít:

- Chú! Chú Tuấn!

Tuấn làm như không nghe thấy gì, thản nhiên bước đi. Tiếng gọi đằng sau tức giận thét lên:

- Chú Tuấn!

Tuấn đành dừng chân, quay lại. Trong khóe mắt của Trâm đã long lanh hai giọt lệ
Đúng là cô bé mau nước mắt, “mít ướt” quá đi mất thôi Tuấn nghĩ vậy, mỉm cười:

- Còn giận “người ta” nữa thôi ?

Tay vân vê vạt áo, đầu hơi cúi thấp, đôi môi chu lại trong dáng điệu nũng nịu, Trâm ngập ngừng:

- Ư... ư... ai bảo trêu “người ta” ?

Tuấn ngạc nhiên, mở tròn mắt:

- Ủa, trêu hồi nào ?

- Còn không nữa!

- Sướng chưa! Chính cháu trêu chú trước chứ! Hỏi ai bịt mắt “người ta” trước rồi còn đổi giọng nói đi nữa chứ!

- Thế... ai kể tên những... người khác ?

Tuấn chợt thoáng hiểu, sung sướng trong lòng, nhưng vẫn làm ra vẻ ngây ngô:

- Thì “người ta”... đoán sai chứ bộ!

Giọng Trâm trở lại buồn buồn:

- Chú... quen... nhiều cô ghê!

Tuấn phá lên cười. Trâm ngạc nhiên:

- Sao lại cười ?

- Chú quen ai ? Hồi nào ?

- Thế những cô Thắm, cô Nguyệt, cô Thúy, cô Hồng, cô Hiền, cô Tiên chú vừa kể là gì đó ?

Tuấn lại cười ; nước mắt chảy cả ra. Trâm hơi khó chịu:

- Chú cứ cười hoài. Bộ... khinh cháu hả ?

Sợ Trâm giận nữa, Tuấn làm hòa:

- Những tên cô đó là do chú tưởng tượng ra đấy. Thật ra chú chỉ có... mình cháu mà thôi.

Trâm đỏ mặt, chớp chớp hàng mi cong vút:

- Cháu... không tin!

- Chưa bao giờ chú nói dối cháu.

- Thiệt hôn ?

- Chú thề...
   
-- ... ...
 
Chợt giọng Tuấn nghiêm lại như vừa thoáng khám phá ra điều gì quan trọng:

- Cháu đứng yên, đừng nói, đừng động đậy gì cả.

Trâm nhíu mày, nghiêng nghiêng mặt:

- Gì vậy chú ?

- Đừng nói.

- … Ủa...
 
Nhìn sâu trong đáy mắt Trâm, Tuấn nói say sưa:

- Mắt cháu đẹp tuyệt vời. Chú có cảm tưởng tất cả biển xanh, tất cả trời mây, tất cả vẻ hoàn mỹ của vũ trụ đều nằm trong đôi mắt của cháu, ước gì...
 
Tuấn chưa nói hết câu, Trâm đã nóng ran cả người, ngượng ngùng không dám ngước nhìn lên, vội vàng quay đi:

- Chú... chú... nói... kỳ quá à...
 
Vẫn như trong trạng thái hôn mê, Tuấn nói bằng hơi thở:

- Cháu đẹp lắm, Trâm ạ. Chú có thể...

 - Cháu... hổng chịu đâu. Hôm nay chú lạ ghê!

- Trâm!

- Chú lại sắp trêu cháu rồi đó.

- Nghe chú nói điều này mà từ lâu...

 - Thôi... hổng thèm đâu!

- Trâm ạ, từ lâu chú đã thầm...
 
- Cháu biết rồi, chú lại trêu cháu chứ gì ?

- Không, điều này quan trọng lắm...
 
- Hổng thèm đâu!

Nói xong Trâm rời khỏi tay Tuấn, cất tiếng cười hồn nhiên rồi vụt chạy. Tuấn đuổi theo, bắt kịp Trâm. Hai bàn tay nắm lấy nhau. Những cụm mây trắng bay xà xuống bao chùm lấy Trâm và Tuấn. Bãi biển đã biến thành một thế giới thần tiên ; tiếng sóng là những điệu nhạc trầm bổng ; những cánh buồm đang rẽ sóng ngoài khơi thành những xe loan phụng ; và những rong biển là những dải hoa kết giăng nối kết các vì sao lấp lánh. Trâm chỉ cho Tuấn ngọn núi phía xa:

- Chúng mình lại kia đi chú Tuấn.

Hai người bay bổng bên nhau như đôi cánh hạc. Không ai nói thêm câu gì, như để thầm trọn hưởng hạnh phúc tuyệt hảo hiện hữu.

Nhưng khi Tuấn và Trâm vừa đăt chân xuống đỉnh núi thì một tiếng nổ vỡ tung trên không gian. Lập tức các vì sao hêt lấp lánh, tối đen, những cụm mây bạc tan nhanh, các cung nhạc tắt lịm. Chưa hiểu chuyện gì vừa xảy ra, Tuấn và Trâm lại rơi vào một kinh ngạc khác. Trước mắt hai người, đang bay lại một đám đông với những tiếng la hò dã thú ; dẫn đầu là một người đàn ông và một người đàn bà mà dáng vẻ hết sức quen thuộc tuy rằng đầy chất hung bạo. Trâm chợt la lên:

- Trời ơi, ba!

Tuấn cũng lắp bắp:

- Dã Thảo! 
 
Trâm nép vào bên Tuấn cầu xin sự che chở trong khi ông Thịnh và Dã Thảo đã tiến lại gần với bộ mặt đằng đằng sát khí, đôi mắt tóe lửa, miệng đầy máu và hai răng nanh nhọn hoắc nhe ra. Đàn quái vật bao quanh Tuấn, Trâm đồng thời cất lên những tiếng cười đắc thắng ghê rợn. Tuấn đẩy Trâm lại phía sau để một mình lãnh nhận hết những hiểm nguy sắp ập tới.

Tiếng ông Thịnh gầm vang:

- Trâm! Mày theo trai, tao giết mày!

Và tiếng Dã Thảo rít lên:

- Tuấn! Tên phụ tình, tao giết mày!

Trâm vội vàng xin trong nước mắt:

- Con xin lỗi ba. Ba tha lỗi cho con.

- Không tha gì hết! Mày phải chết!

- Tội con mà ba! Con sẽ theo ba về nhà.

- Ha! Ha! Ha!

Cố gắng trấn tĩnh, Tuấn chỉ vào mặt Dã Thảo:

- Chính cô mới là đứa phản bội. Cô tham vật chất, cô mê tiền bạc, dục vọng mà bỏ tôi!

- Ai bảo mày nghèo ?

- Đó chỉ là cái cớ để cô chà đạp tình yêu!

- Nhưng bây giờ mày phải về với tao!

- Không!

- Mày mê con bé kia hả ?

- Đúng!

-Vậy tao phải giết cả hai đứa!

- Dã Thảo!

- Mày muốn gì nữa ?

- Cút ra khỏi đây!

- Ha! Ha! Ha!

Tuấn và Trâm lui dần. Vòng vây của đàn quái vật khép chặt hơn. Cơn sợ hãi lên cực độ khiến Trâm bủn rủn thân thể, không còn làm chủ được các cử động. Tuấn, một tay đỡ Trâm, một tay cầm sẵn một hòn đá chờ đợi. Cả hai như đều thấy trước thảm kịch và cái chết tàn khốc. Trước mặt, ông Thịnh đã đổi vị trí cho Dã Thảo. Tay cầm cây gậy sắt nhọn hoắc, tay cầm một đuốc lửa, ông Thịnh tiến thẳng lại phía Tuấn:

- À, thì ra thằng này! Mày cám dỗ con gái tao!

- Ông Thịnh, ông lầm! Cả hai chúng tôi yêu nhau mà.

- Yêu ? Yêu ? Ha! Ha! Ha!

- Chúng tôi sẽ xin phép ông cưới hỏi đàng hoàng.

- Cưới ? Hỏi ? Ha! Ha! Ha!

- Hãy nghĩ tới hạnh phúc của con ông.

- Trả con tao đây! Trả con tao đây! Tao giết mày! Thằng khốn nạn kia! Trả con tao đây!

Trong khi đó Dã Thảo cũng cầm cây đinh ba vòng lại phía sau, sửa soạn nhào vào đâm Trâm:

- À, thì ra con này cám dỗ người tình của tao.

- Thưa... chị... em... đâu biết gì!

- Mày, mày, con khốn nạn! Mày biết không hơn hai năm nay tao đi tìm thằng Tuấn, không ngờ chúng mày du dương ở miền biển này.

- Em... xin lỗi chị!

- Vậy trả thằng Tuấn lại cho tao! Trả tao!

- Không! Em yêu Tuấn!

- Tao giết mày! Mày đã cướp tình nhân của tao.

- Em van chị! Em... không thể xa Tuấn được!

- Vậy mày phải chết! Mày phải chết!

- Trời ơi!

Bầy ác thú được lệnh ập vào, cắn xé. Tuấn chống đỡ mãnh liệt, nhưng vẫn không để rời Trâm. Tuy nhiên chỉ một lúc sau Tuấn đuối sức. Ông Thịnh giơ thanh sắt bổ vào đầu Tuấn ; chàng ngã người xuống né tránh thì cũng vừa đúng lúc Dã Thảo chụp được tóc Trâm. Say máu, ông Thịnh nhào tới giáng trên người Tuấn những trận đòn thù. Người mang đầy thương tích, bê bết máu, nhưng Tuấn không cảm thấy đau bằng khi nghe tiếng cầu cứu vô vọng của Trâm:

- Anh Tuấn! Anh Tuấn!... cứu em!

Trâm cũng đang chịu những mũi nhọn đâm nát thân thể. Dã Thảo vẫn sặc sụa cười man rợ, xoắn tóc Trâm vào cán cây đinh ba, kéo lê nàng trên những tảng đá nhọn. Tuấn muốn chạy lại cứu người yêu nhưng hai ống chân đã bị Ông Thịnh đập vỡ. Chàng dướn người lên, thều thào:

- Trâm... chờ... anh...

Tuấn lơ mơ thấy Dã Thảo kéo Trâm đến bờ vực thẳm. Hiểu ý định thâm độc của Dã Thảo, Tuấn cố gắng lết lại, nhưng ông Thịnh đã vội lấy chân đè lên mặt Tuấn đồng thời đặt thanh sắt nhọn trên cổ chàng. Tiếng cười của Dã Thảo vẫn nổi lên ghê sợ. Ông Thịnh ra lệnh:

- Ném nó xuống!

Tức thì Dã Thảo đẩy Trâm xuống vực thẳm. Tuấn nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy thảm cảnh. Bỗng tiếng Dã Thảo vang lại:

- Giết nó đi !

Tuấn chưa kịp phản ứng gì thì ông Thịnh đã mím môi, ấn mạnh thanh sắt nhọn xuống cổ chàng. Tuấn thét lên...
 
Tuấn thét lên thực sự rồi mở choàng mắt. Chàng nhận ra mình vừa sống trong một giấc mơ. Nét kinh hoàng còn in trên khuôn mặt lấm tấm mồ hôi.
 
Ngoài song cửa, trời tối đen.

Tuấn nhớ lại chàng đang phác họa những bức tranh thơ mộng từ một bài thơ nghe được từ một máy phát thanh về khuya rồi thiếp đi lúc nào không biết, rồi nằm mơ thấy đươc gặp lại Trâm ở ngoài bãi biển ; hai đứa đang say sưa với hạnh phúc thì gặp bầy yêu quái do ông Thịnh, cha Trâm và Dã Thảo, người tình cũ, cầm đầu... rồi trận ác chiến xẩy ra... rồi Trâm bị xô xuống vực thẳm và chàng bị đâm... Tiếng tim vẫn đập đập dồn trong lòng ngực ; mồ hôi rịn ướt da thịt, Tuấn vẫn còn cảm giác sống trong kinh hoàng. Tự nhiên Tuấn cảm thấy sợ – sợ cho Trâm. Nghĩ tới trận đòn tàn nhẫn Trâm chịu trước mặt mình ngày nào Tuấn lo lắng vô cùng – không hiểu bây giờ Trâm ra sao – mình phải về cứu Trâm, đem Trâm đi... Tuấn cố gắng lùa ra khỏi trí tưởng những hình ảnh đen tối.

Tuấn trườn người với bao thuốc nằm trong góc giường, nhưng không còn điếu nào. Tuấn đứng dậy, làm một vài động tác cho tỉnh người. Khi đi ngang qua khung ảnh của Dã Thảo, không hiểu nghĩ gì, Tuấn lật úp xuống rồi lấy mẩu nhang đốt muỗi dưới gầm giường, đốt lên, đặt trên khung hình. Làn khói uốn mình vươn lên cao.

Tuấn ra balcon. Gió đêm mát rượi làm chàng dễ chịu, thanh thoải, tuy nhiên những hình ảnh trong cơn ác mộng vẫn bâu đầy trong tâm trí Tuấn – phải chăng giấc mơ dữ dằn vừa rồi là dấu hiệu báo trước một tương lai – của Tuấn, của Trâm – sẽ dẫy đầy đá nhọn, vực thẳm và máu, nước mắt ? – Tại sao lại có mặt Dã Thảo ? Nàng sẽ quay trở lại phá phách hạnh phúc của ta của Trâm ?… Tuấn lẩm bẩm – phải về cứu Trâm, đem Trâm đi với bất cứ giá nào, gạt hết những ngại vật, chiến thắng bất cứ nhân vật nào – phải về… phải về…

Trên nền trời đen đặc, những vì sao thi nhau lấp lánh. Tuấn nhìn lên. Chàng tìm dải sao mang hình ch T mà đã có lần Trâm nói là: “Tên chú và tên cháu đã đươc ghi trên trời, chắc khi chết chú cháu mình sẽ lại đươc gặp nhau”. Tuy nhiên Tuấn để ý nhất là gần đó có một vì sao thật nhỏ, nhưng thật sáng, đứng riêng biệt. Vì sao thật lẻ loi, tội nghiệp. Tuấn thầm nghĩ ước gì mình biến thành một vì sao khác để bay lên kết bạn với vì sao cô độc đó... Bất giác Tuấn mỉm cười với ý tưởng đơn sơ này... 
 
Ngước mắt nhìn lên
Rừng sao chi chít
Anh tìm hình em
Vì sao xa tít

Gió ơi, gió ơi!
Xin gió thổi mạnh
Cho vì sao rơi
Để hồn đỡ lạnh

Giữa biển sao đêm
Anh tìm thấy một
Vì sao sáng nhất
Sao đó là em …

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG BỐN

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

CHƯƠNG HAI_RONG BIỂN


HAI



Tiếng gọi của đứa trẻ hàng xóm cắt đứt những ý nghĩ vu vơ đang chờn vờn trong đầu óc Trâm:

- Chị Trâm! Chị Trâm!

Dừng tay giặt quần áo, Trâm chạy ra:

- Gì thế bé Trung ?

Dớn dác nhìn vào trong nhà, chung quanh vườn, biết chắc là không có người nào khác ngoài Trâm, đứa bé mới dúi vội vào tay Trâm một mảnh giấy, nói thật nhỏ như sợ có ai nghe thấy:

- Ông gì gửi cho chị đó.

Miệng vừa hỏi “ai vậy”, mắt Trâm vừa liếc nhanh xuống tấm danh thiếp trong khi bé Trung trả lời “em cũng chẳng biết nữa”:

“Trâm,


"Sao lâu quá không thấy tới chú. Nếu được, ghé chú chiều nay. Có chuyện cần nói.

                                                                                                           "Mong lắm đấy. Tuấn”

Những câu hỏi thoáng nhanh trong trí Trâm – sao chú Tuấn biết nhà mình ở đây ? Không hiểu có chuyện gì ? Chắc phải quan trọng lắm chú Tuấn mới tìm tới nhà – Làm sao mình tới được bây giờ ? Chiều nay chắc gì ba với mẹ đi vắng ?… Có lẽ thấy Trâm không nói gì nữa, đứa bé chào Trâm:

- Thôi em về nghe chị Trâm .

Nó định quay chạy, Trâm vội giữ lại:

- Khoan, chị hỏi cái này.

- Gì chị Trâm ?

Trâm ngập ngừng:

- Thế… thế ông nào… đưa cho bé cái này ?

- Em đâu biết!

Chợt nhận ra sự vô lý trong câu hỏi của mình, Trâm cười mỉm, chữa lại:

- Ý chị muốn hỏi em có… quen với ông đó không ?

- Đâu có!

- Vậy sao ông ấy biết em mà nhờ đưa cái này cho chị ?

- Em cũng chẳng hiểu nữa. Hồi nãy em đang bắt dế dưới gốc cây mận nhà bà Sáu Xích-lô thì ông ấy tới hỏi thăm nhà chị ; em chỉ thì ông ấy bảo em đưa cho chị chứ không muốn vào.

- Thế… bây giờ ông ấy đâu ?

Đứa bé mở tròn mắt:

- Làm sao em biết được ?

Trâm bật cười trong khi đứa bé vẫn liến thoắng kể:

- Ông ấy còn hỏi chị đang làm gì trong nhà này, ba má chị có nhà không này, em có hay lại nhà chị chơi không này… ối “giời” tùm lum!

- Thế bé Trung trả lời sao ?

- Sức mấy mà em nói!

Đến lượt Trâm ngạc nhiên:

- Sao vậy ?

- Ba em dặn gặp người lạ hỏi thăm gì thì đừng có trả lời, nhỡ… kẻ gian dò la tin tức thì sao ?

Trâm lại cười thành tiếng trước dáng điệu có vẻ thành thạo của đứa bé. Nàng xoa đầu nó:

- Em giỏi lắm… Thế rồi ông ấy nói gì nữa không ?

- Không! Ông ấy bỏ đi về phía chợ.

Trâm lấy trong túi áo cánh đồng bạc kẽm đưa cho bé Trung:

- Cho em đi mua cà rem.

Thích chí, đứa bé vừa chạy, vừa la lớn:

- Cám ơn chị Trâm

Trâm quay vào, đọc đi đọc lại đến bốn năm lượt những chữ viết trên danh thiếp của Tuấn. Tâm hồn ấm lại, nàng có cảm thấy mơ hồ một cái gì thật gần gũi, thật dấu ái, thật thân mật. Nỗi nhớ “người chú” nghệ sĩ như âm ỉ lâu ngày bỗng được dịp bộc phát – giọng nói trầm ấm, ánh mắt sáng nhưng lúc nào cũng như hướng về một xa vời nào đó ; khuôn mặt thanh tú, trầm ngâm, mái tóc đen nhánh nhưng có vẻ ít được chăm sóc xõa trên đài trán nở rộng hai bên thái dương ; đôi môi mỏng, tươi thật tươi, bao giờ cũng gắn hờ một điếu thuốc cháy quá nhiều mà không được dụi tàn ; những cử chỉ khoan thai, chững chạc… từng nét, từ những đặc điểm đến những dấu vết thông thường, những thói quen quen thấy, những đổi thay bất chợt trong tính tình của Tuấn, tất cả sinh động trong tâm tưởng Trâm. Mới chừng hơn hai tuần l không tới nhà Tuấn mà Trâm có cảm tưởng như đã xa rời từ lâu lắm rồi. Nàng thấy thật ấm cúng căn phòng của Tuấn với chiếc giá vẽ cao lênh nghênh, với những bức tranh mà đa số mang hình Trâm với chủ đề về biển, với những hộp sơn, túi bột, với những giẻ lau, cọ vẽ… Trâm muốn chạy oà tới để nhìn, để ngắm, để được thu gọn, được chăm sóc những vật mà nàng cảm thấy thật thân yêu. Chính sự vắng lặng trong nhà nàng vào giờ này càng dễ đưa Trâm vào những giao động nhè nhẹ như những làn sóng nhỏ trong những ngày biển êm. Nhiều hình ảnh, nhiều ý nghĩ đã làm Trâm nóng rần mặt mày, thẹn thùng. Nhịp tim đập mạnh, máu chạy nhanh, tay chân thừa thãi khiến Trâm tưởng như đã thoát khỏi thực tại, khỏi những giăng mắc về không gian và thời gian để hiện hữu trong những giấc mơ thầm kín. Tay vân vê tấm danh thiếp, Trâm ngồi lặng lẽ nhìn những lá cây lao xao dưới nắng nhẹ. Ánh mắt của Trâm như mờ đi, như vương vấn một làn khói mỏng, nhưng nếu có ai được nhìn sâu vào trong đáy đôi mắt đó sẽ khó tránh khỏi bị ngất ngây bởi sự huyền hoặc, sự xa vời của nó. Trâm đã lìa khỏi thực tại để hóa thân trong một thế giới riêng tư dẫy đầy những hình ảnh đẹp như thần thoại, trong đó Trâm đã biến thành một nàng tiên nhẹ lướt trên những làn mây muôn màu, giữa những điệu nhạc tuyệt vời, êm dịu, trong một thứ ánh sáng huyền ảo…

 Đang mơ mộng bỗng Trâm choàng tỉnh khi có tiếng cười nói lanh lảnh vang lên ngoài cổng.

Trâm đứng lên, nhíu mày nhìn ra, chờ đợi. Một đám thiếu nữ, tay ôm sách vở, tay cầm nón, cầm cặp, ào ào trong sân nhà Trâm. Nhận ra bạn mình, Trâm vui mừng nhẩy bổ ra:

- À, chúng mày!

 
- Nhỏ Trâm!

- Chúng mày đi đâu vậy ?

- Thăm mày!

- Úi “giời”, cảm động quá!

- Mày đang làm gì thế ?

- Giặt quần áo!

- Vậy thì siêng nhất mày rồi!

- Vào đây chúng mày.

- Để tao xem vườn nhà mày có thứ nào ăn được không đã!

- Mới trẩy bán cách nay cả tuần rồi!

- Đúng là số tụi tao vô duyên!

- Lên nhà, chúng mày!

Một người trong bọn nhìn quanh, hỏi nhỏ Trâm:

- Ông bô, bà bô mày đâu ?

- Đi vắng cả rồi.

Cô gái vừa cất tiếng hỏi, thở phào:

- Đỡ khổ! Nếu có ông bà bô mày ở nhà, chắc tụi tao rút lui có trật tự. Nhiều lúc muốn tới thăm mày nhưng ngán ông bà bô mày thấy mồ!

Một cô khác chen vào:

- Nhỏ Thanh nói đúng đó Trâm ; mấy lần tới đây ông bô mày chửi mày rồi chửi luôn chúng tao nữa!

Trâm chùng giọng, buồn buồn:

- Tụi bây thông cảm, tại ba tao… say…

Bầu không khí vừa dịu xuống bởi nét mặt và giọng nói trĩu nặng của Trâm bỗng vỡ tung tiếng cười dòn tan khi người con gái được gọi là “nhỏ Thanh” chợt giật được tấm danh thiếp trên tay Trâm (lúc nãy vì vui gặp bạn bè, Trâm vô tình quên cất đi, vẫn cầm nơi tay):

- Tụi bay ơi, tao có cái này hay lắm!

Trâm hoảng hốt định giựt lại nhưng Thanh đoán được nên đã chạy vòng vào phía trong chiếc bàn đặt giữa nhà trong khi cả bọn nhao nhao:

- Gì thế nhỏ ?

- Bật mí đi!

- Của ai vậy ?

Thanh vẫn làm ra vẻ bí mật, vừa gật gù đầu, vừa cười mỉm, đồng thời mắt vẫn không rời những dòng chữ trên tấm danh thiếp:

- “Một khám phá bất ngờ”! Con Trâm tầm ngầm mà đấm chết voi đấy chúng mày ạ!

Ai cũng mong được biết cái “khám phá bất ngờ” của Thanh, tranh nhau hỏi:

- Điệu hoài, khám phá gì ?

- Nói ra cho rồi, giấu kín thế ?

Thanh giơ tay làm hiệu cho các nhỏ bạn thinh lặng, dõng dạc nói một câu tiếng Anh:

- Silence, please!

Cả bọn phá lên cười. Trong khi đó Trâm đứng ngây người như bị trồng chân giữa nhà, tay vân vê tà áo, lo sợ, không biết phản ứng ra sao. Tiếng Thanh lại nổi lên:

- Chú ý! Chú ý! Hãy banh tai ra mà nghe: Bùi Trường Tuấn, họa sĩ!

Thanh ngừng lại, hất hàm hỏi:

- Tụi bay thấy chưa, “người ta” là nghệ sĩ đấy!

Có tiếng phản đối :

- Biết rồi, khổ quá, nói mãi!

Lật úp tấm danh thiếp, Thanh đọc tiếp:

- “Trâm. Sao lâu quá không tới chú ? Nếu được, ghé chú chiều nay. Có chuyện cần nói. Mong lắm đấỵ Tuấn!”

Các tiếng nói lại ào ào như vỡ bờ, quên hẳn Trâm đang rưng rưng nước mắt:

- Hẹn hò “tế nhị” quá hé!

- Loại “xin đừng gọi anh bằng chú” đấy mà!

- Mối tình nghệ sĩ thì tuyệt rồi!

- Không ngờ nhỏ Trâm lại “có số đào hoa”!

Giọng Thanh lại nổi bật hẳn lên:

- Xin im lặng! Sau đây là phần “phụ Đề Việt ngữ” : Sao lâu quá không tới chú có nghĩa là “chàng” và “nàng” vẫn thường “tới thăm nhau một chiều mưa”, nhưng nay vì “lý do kỹ thuật”, chẳng hạn nàng giận ngầm mà chàng chẳng biết nhưng cũng có thể vì nàng bận việc nhà nên… hai ngày nay chưa tới với chàng, mà “nhất nhật bất kiến như tam thu hề” nên chàng giả vờ bảo “ghé chú có chuyện cần nói” để được gặp mặt cho đỡ nhớ… Kính thưa quí vị …

Nước mắt đã trào ra khỏi bờ mi, lăn dài trên má, Trâm lặng người giận dỗi. Nàng thấy các nhỏ bạn thật ác độc, không để nàng giải thích . Ở đâu và lúc nào thì cũng “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” nhưng trong trường hợp hiện tại Trâm thấy mình quá oan ức. Nàng muốn hét to lên để nhỏ Thanh câm miệng lại nhưng giọng nói bị tắc nghẹn trong cổ họng.

Bỗng các tiếng cười ngưng lại khi một người trong bọn nhận ra Trâm đã khóc, la lên:

- Ê, nhỏ Trâm khóc, tụi bây!

Các mái đầu quay lại, thoáng vẻ hối hận:

- Tụi tao đùa mà Trâm!

- Nhỏ này “mit ướt” ghê!

- Mới chút đã “mưa” rồi!

- Hồi trước ở lớp mày còn phá tao với thằng Hùng Honda hơn thế này í chứ!

Trâm lau nước mắt, nghẹn ngào:

- Nhưng tụi bay hiểu lầm tao. Chú Tuấn là người lớn, hơn tao cả… chục tuổi mà tụi bay đem ra dỡn.

Thanh vẫn nhanh nhẹn nhất trong bọn:

- Vậy hay đó mày, “mốt” thời nay các cô khoái những ông đứng tuổi ; họ biết chìu, chứ còn cỡ ngang hay hơn mình hai ba tuổi thì xin lỗi… hỉ mũi chưa sạch.

Cả bọn cười vang. Giọng Trâm đã bớt nước mắt:

- Nhưng tao đâu có gì… với chú Tuấn!

- Không có lửa làm sao có khói ?

Trâm ngước đôi mắt hoe đỏ nhìn người bạn vừa nói:

- Khói gì đâu ?

- Thì... thì... viết hẹn gặp mày đó!

Trâm chợt hiểu, nhăn mặt:

- À, tao đã bảo tụi mày hiểu lầm mà.

- Giấu tụi tao hoài.

- Có gì đâu mà bảo tao giấu với giếm!

- Thế thì kể cho tụi tao nghe đi.

Trâm chép miệng:

- Thật ra thì cũng chẳng có gì mà kể... Thôi được, tụi bây ngồi xuống đi. Nhưng mà... nghe rồi tụi bây đừng thọc lại cho mấy nhỏ lớp biết kẻo rồi chúng nó lại “thêm mắm thêm muối” thì … chết tao.

- Yên chí lớn!

- Hứa danh dự mà mày! 

- Chuyện này ai mà nói làm chi!

Cả bọn vừa nói vừa tranh nhau ghế ngồi ; ai cũng giành được ngồi gần Trâm, cười khúc khích thú vị. Nhìn những bộ mặt ngóng đợi, những con mắt nhìn mình chằm chặp, Trâm muốn phá lên cười. Nàng thoáng nghĩ đúng là con gái hay tò mò, tọc mạch ; người ta nói chả sai chút nào. Thấy Trâm làm thinh lâu, lại chỉ mỉm cười, tưởng là Trâm đánh lừa, một trong nhóm thúc giục:

- Thôi bồ ơi, cười duyên hoài, kể đi.

Một cô khác phụ họa theo:

- Kể đi Trâm, kẻo nhỏ Loan “mót” rồi.

Loan nghiêng mắt, liếc xéo người bạn vừa nói động tới mình, chu môi:

- Sức mấy! 
 
Trâm như đã quên hết sự cằn cỗi của cuộc sống, trở lại với bản chất của nữ sinh thuở nào, đã hòa mình trong niềm vui và hồn nhiên tuổi trẻ của lũ bạn. Nàng biết với tụi này không có gì có thể giấu nổi chúng nó, chẳng thà kể rành rẽ cho chúng nó còn hơn để chúng đoán, chúng bàn ra tán vào thì câu chuyện biến thành không thể tưởng nổi.

- Trâm, kể đi, lâu thế mày ?

Trâm cười cười:

- Để tao nghĩ đã.

Rồi nàng hắng giọng, trịnh trọng thuật lại:

- Chú Tuấn là một họa sĩ …

- Cái đó tụi tao biết rồi!

- Thì phải có đầu có đuôi chứ.

Loan liền mắng người bạn vừa cắt đứt câu chuyện:

- Nhỏ Trang “dzô duyên”!

Trang cũng không vừa, chồm người tới, hất hàm:

- Có sao không ?

Trâm vội giảng hòa:

- Tụi bây phải yên tao mới kể được chứ.

Cả bọn lại thinh lặng, hau háu đôi mắt nhìn Trâm:

- Yêu cầu tiếp tục chương trình!

Trâm:

- Chú Tuấn là một họa sĩ ở Sàigòn về đây để vẽ tranh triển lãm. Một hôm ra bãi biển chơi, tao đứng đằng sau xem chú Tuấn vẽ mà chú ấy đâu có biết, đến khi chú Tuấn quay lại thì… đạp phải chân tao. Thế là tao bắt đền liền ; chú Tuấn phải vẽ cho tao một bức tranh mà… mà… hồi trước tao treo trên cửa ra vào kia kìa…

- Thế bây giờ đâu rồi ?

Trâm hơi cúi đầu, cho làn tóc xõa che khuôn mặt chợt biến sắc vì những hình ảnh dĩ vãng mầu đen thoáng sống lại trong tâm trí ; nàng nói dối bạn bè:

- Tại… chuột cắn nát, tao… dẹp đi rồi.

Loan đập tay mạnh xuống bàn, nói lớn tiếng:

- Uổng thế! “Kỷ Vật cho em” ngày gặp nhau lần đầu mà mày … phí thế ?

Thấy không ai phản ứng gì trước câu pha trò của mình, Loan tiu nghỉu, sượng sùng. Trâm tiếp:

- Từ ngày đó, chiều nào tao cũng đến phòng vẽ để làm mẫu cho chú Tuấn.

- Dạo đó mày… nghỉ học chưa ?

- Chưa! 
 
- Sao không thấy mày nói gì ?

- Ai dại gì làm “nguồn vui” cho chúng mày!

- Mày bí mật ghê!

- Thỉnh thoảng cũng phải tỏ ra khôn hơn tụi mày.

Có tiếng cười khúc khích, nhưng tắt sớm cho Trâm nối tiếp câu chuyện:

- Chú Tuấn là người rất tốt, nhất là hiểu tuổi trẻ nên tao… thích nói chuyện với chú ấy lắm. Những chuyện buồn, vui tao đều đem kể hết. Chú Tuấn tỏ ra… thông cảm và hiểu tao nhiều, ngược lại tao cũng thấy… mến chú ấy như một… một… người chú vậy đó.

Nói tới đây tự nhiên Trâm ngừng tiếng, cảm thấy nóng ran mặt mũi, di di ngón tay xuống mặt bàn như để che giấu những ngượng ngập trong khi mấy nhỏ bạn hích tay nhau, nheo mắt rồi che miệng cười. Những cử chỉ đó vô tình lọt vào ánh nhìn của Trâm khiến nàng càng thêm xấu hổ, hối hận đã bộc bạch tâm sự cho những đứa tinh quái này. Nàng tự trách thầm không hiểu sao tự nhiên mình lại dại khờ đem phơi bày những vương vấn thầm kín mà lâu nay mình vẫn chôn chặt trong lòng, không dám hé mở cùng ai, kể cả với… chú Tuấn.

Tiếng của nhỏ Thanh chợt lôi Trâm ra khỏi những giăng mắc để trở về hiện diện trước những bộ mặt nghịch ngợm, những con mắt dò xét, những cái miệng chỉ chờ nàng sơ hở là trêu chọc, vặn hỏi dồn dập:

- Kể tiếp. Rồi sao nữa mày ?

- Thì…như vậy đó!

Thanh nhìn Trâm tinh quái:

- Tao thấy… mối tình của mày… đẹp quá trời.

Trâm đỏ mặt, trợn mắt:

- Đừng nói bậy!

Thanh cười, vẫn không buông tha Trâm:

- Thôi vậy, nhưng tao hỏi thật mày, mày đã… gì gì với chú Tuấn của mày chưa ?

- Nghĩa là sao ?

- Trời! Con nhỏ này ngây thơ cụ. Nghĩa là mày đã… yêu chú Tuấn chưa ?

- Đầu óc mày bao giờ cũng tối đen. Chuyên môn nói nhảm.

- Gì mà nhảm ? Bộ tất cả những người yêu nhau trên đời này đều nhảm sao ?

- Nhưng tao đã nói, tao coi chú Tuấn như... như… chú ruột tao ; mày biết chưa, con khỉ ạ!

- Từ “chú” tới “anh” mấy hồi!

Trâm giận dỗi, vùng vằng đứng dậy. Loan vội níu tay Trâm, kéo nàng ngồi xuống lại:

- Việc gì phải chạy, để nhỏ Thanh đấy tao.

Thanh chống nạnh tay, chanh chua:

- Mày làm gì được tao, Loan ?

- Tao mét thằng Hùng Honda trị tội cho mày.

- Con nhỏ này đâu ngán ai. Ngon mà!

Loan đổi “chiến thuật”, quay sang nói thao thao với những nhỏ bạn khác đang có vẻ thích thú dõi theo “cuộc chiến” của hai đứa vẫn nổi tiếng phá phách nhất bọn và nhất lớp nữa:

- Chẳng biết ai ngày hôm qua “theo ban C” đi chơi với bồ, ngồi uống nước sinh tố ở Ghềnh Đá hé! Chẳng biết ai tặng bồ hình rồi lấy thơ của Bích Ngọc đề đằng sau rồi bảo là mình sáng tác ra hé! Tụi mày nghe có mùi và lại có đía không này:

“Tôi làm con gái
Tình tôi yêu người
Tròn như ngày tháng
Chỉ một lần thôi
Tôi làm con gái
Tình tôi yêu người
Bao la biển rộng
Xanh màu đại dương” 
 
A… a… một chiều nhìn biển và nhớ anh da diết… a… a…
 
Không để cho Loan nói hết câu, Thanh vội lao người lại, bịt miệng nhỏ bạn vừa làm nàng đứng tim bằng những tiết lộ hết sức bất ngờ mà nàng nhớ chưa bao giờ kể cho ai nghe và đã rất thận trọng giữ bí mật. Trước thái độ hoảng kinh của Thanh, cả bọn phá lên cười. Trâm cũng hòa đồng trong niềm vui vỡ bờ của các bạn. Nàng thấy tuổi học trò vào thời mới lớn thật đẹp – vui đó rồi lại giận hờn đó – không khác gì một đứa trẻ nhưng lại là ra vẻ người lớn – rồi những giao động nội tâm mơ hồ chợt đến không đứa nào hiểu nổi, không biết phân tích hay gọi tên là gì nhưng lại thích thú – đứa nào cũng có ít nhiều chuyện tình cảm riêng tư giấu thật kín nhưng lại thích biết, thích bàn tán chuyện người khác – mà nào có ai giữ kín được chuyện gì đâu vì học trò tinh lắm, chỉ một bộ điệu, một ánh mắt, một lời nói khang khác một chút cũng đủ bị nghi ngờ, theo dõi, điều tra để rồi cuối cùng bao giờ cũng trở thành đề tài cho cả lớp xầm xì, trêu chọc hay thành nguyên nhân cho những vui đùa đến tàn nhẫn, những tràng cười khúc khích ngay trong các giờ học...
 
Trâm nghĩ và cảm thấy nuối tiếc những ngày tháng cắp sách đến trường. Nàng đã bị đẩy ra khỏi những vui buồn mà những bậc trưởng thành vẫn gọi là vẩn vơ hay vớ vẩn, nhưng chỉ trong tuổi mới lớn của thuở làm học trò mới có và mới đầy đủ ý nghĩa. Những ngày mới đoạn tuyệt sách vở, Trâm nặng trĩu mặc cảm, thường tránh gặp bạn bè và thường ray rứt sầu khổ mỗi sáng chiều nhìn thấy những tà áo trắng tung tăng đến trường như những cánh bướm nhởn nhơ trong vườn hoa… Nhưng Trâm càng chạy trốn thì những tình cảm khắc khoải đó như càng bị dồn ép, dày vò Trâm khiến nàng nghẹn ngào hơn. Sau này nghe lời chú Tuấn, thỉnh thoảng Trâm lại nhà nhỏ Thanh, nhỏ Vân, Loan, Trang, nhỏ Huyền, nhỏ Quyên… đồng thời đòi chúng khi nào rảnh ghé thăm nàng hoặc nàng mượn sách vở của bạn hữu để chép bài như thể nàng vẫn tới trường. Nhờ vậy Trâm nguôi ngoai được phần nào những khắc khoải cháy ngầm trong tâm tư. Chú Tuấn còn bảo đừng bao giờ ngồi nghiền ngẫm về một nỗi buồn, bởi vì sẽ không có lợi, nếu không muốn nói mình càng bị đọa đầy hơn trong nỗi khổ; hãy làm bất cứ gì rồi sẽ thấy mình buồn là… dại. Trâm đã làm theo lời chú Tuấn và quả thực đã cảm thấy nhen nhúm tin yêu…
 
Giờ đây gặp các bạn Trâm có cảm tưởng mình đang ngồi trong lớp truyền cho nhau những mảnh giấy trong khi thầy giáo đang giảng bài hoặc trong giờ ra chơi đứng tụm năm tụm ba cười đến chảy nước mắt khi nói đến một đứa trong lớp có “kép”.

Thấy mấy nhỏ bạn còn mải kể tội nhau về những lần trốn học đi chơi với bồ, những lần giả vờ chép bài siêng năng để viết thơ tình, Trâm lên tiếng chắn ngang:

- Thì ra chúng mày đứa nào cũng kinh khủng thế mà còn bầy đặt trêu tao.

Lại nổi lên những tiếng lao nhao phản đối, cải chính, cuối cùng Trâm phải đề nghị:

- Thôi dẹp những chuyện đó đi, để lúc khác tao hỏi tội từng đứa một.

Trâm với chồng sách đặt trước mặt nhỏ Huyền, người vẫn được khen viết chữ đẹp và chép bài vở đầy đủ nhất lớp: 
 
- Hồi sáng tụi bây học gì đâu, cho tao mượn.

- Cô Trang Dung đau, cho làm luận.

Mỗi lần nghe nhắc đến cô Trang Dung, Trâm lại tưởng chừng như được nghe tiếng ngâm thơ ru hồn của cô trong giờ Việt văn năm nào. Trâm nghĩ rằng các bạn của nàng thật có phúc, đã niên học trước năm nay lại được học cô Trang Dung.

- Tao cho nhỏ Trâm mượn cái này này.

- Gì, Vân ?

- Tao mới chép thêm được mấy bài thơ.

- Đâu ?

- Giữ cẩn thận cho tao. Của “hồi môn” của tao đấy !

- Yên chí.

Trâm đỡ lấy cuốn sổ bìa da màu nước biển và được bọc ngoài một lớp nylon. Lật mấy trang đầu, Trâm liếc nhanh vào tựa đề những bài thơ – Áo lụa Hà Đông – Tình thứ nhất – Xuân đầu – Giận hờn – Ngậm ngùi – Áo trắng... Toàn những thơ về tình yêu. Trâm cảm thấy ấm áp trong hồn. Tự nhiên nàng muốn các bạn đi về để nàng được một mình đọc những vần thơ êm nhẹ. Những lúc buồn khổ trước đây, ngoài chú Tuấn, Trâm chỉ còn biết ngồi vân vê những cuốn sách, quyển vở của thời học trò dĩ vãng và tìm vỗ về trong những cung điệu thi phú. Với Trâm, những bài thơ như những thần dược, chúng như có linh hồn để cảm thông nỗi sầu khổ vời vợi của nàng. Trâm chép, Trâm học thuộc lòng, Trâm thầm thĩ những thi phẩm trữ tình như để tự ru chính mình…

- Trâm, mày làm gì mà ngồi đực người ra vậy ?

Nàng chưa kịp trả Lời, nhỏ Thanh đã lên tiếng:

- Nó nhớ… chú Tuấn.

Cả bọn cười. Trâm cũng chả Thèm cải chính nữa – bọn này “gấu” lắm, chúng nó có biết kiêng nể là gì đâu – vớ được dịp trêu ai, chúng chọc đến tàn nhẫn luôn. Trâm biết câu chuyện của mình chỉ đến sáng mai là cả lớp biết; thế nào cũng có những đứa khác tìm tới đây để “điều tra”. Trâm lại tự trách đã không cẩn thận.

- Tụi tao về đây.

Trâm giả vờ, giữ lại lấy lệ:

- Ngồi chơi đã, còn sớm mà.

- Xí! 11 giờ rồi đấy “bà”.

Trâm tiễn các bạn ra tận cổng. Đó là thói quen của nàng. Khi đã khá xa, nhỏ Thanh còn ngoái cổ lại, la lớn:

- Về nghe, bà họa sĩ Trường Tuấn.

Những mái đầu chúi vào nhau. Trâm biết các bạn đang rũ ra cười và lại tiếp tục bàn tán về câu chuyện tình cảm của nàng. Trâm thẹn đỏ mặt, lo sợ có người hàng xóm nào nghe được câu nói trêu chọc của Thanh. Nàng chạy vội vào nhà.

Nhìn đồng hồ, Trâm hơi thắc mắc sao giờ này mẹ mình vẫn chưa đi lấy thuốc về ; còn ba nữa, chắc cũng lại đang say sưa ở một quán rượu. Nhớ tới tập thơ Vân cho mượn, Trâm lật đật đem sổ của mình ra chép. Nàng lấy bút màu xanh, đỏ viền hoa trang giấy rồi nắn nót từng chữ:

Tôi phải đợi như là tôi đã hẹn 
Phải thẹn thò như sắp cưới hay vừa yêu
Phải nói vơ vào rất vội: người yêu
Nếu ai có hỏi thầm: ai thế ?
.....................................
Chả có gì… sao lòng mình cũng thẹn
Đến ngượng ngùng bỡ ngỡ: hay là ai ?
.....................................
Nên đến trăm lần: “nhất định mình chưa yêu”
Hôm nay nữa… nhưng lòng mình sao lạ quá…
 
Trâm ngừng tay, đưa mắt mơ màng nhìn qua khung cửa. Trên nền trời xanh thẳm, một áng mây trắng lơ lửng trôi. Tâm hồn Trâm như bay bổng, thoát tục. Nàng mơ tưởng mình là cụm mây kia ; nàng sẽ bay đi tận cùng trời đất, sẽ xà xuống thật thấp, hôn trên mặt biển hay sẽ đậu trên đỉnh núi, lả lơi với gió ngàn. Áng mây có linh hồn, đêm đêm sẽ chuyện trò với trăng sao, sáng sớm sẽ thâu vào những tiếng hót của chim, tiếng rì rào của lá. Áng mây sẽ muôn đời tự do, sống thỏa với những mong ước của mình, triền miên trong hạnh phúc.

Khẽ đọc những vần thơ vừa chép, Trâm thấy yêu chúng vô cùng. Nàng thoáng thẹn thùng vì chợt thấy một sự mơ hồ trùng hợp với tâm trạng mình. Những lời đùa cợt của bạn bè trở về bên tai. Nàng như bị ám ảnh. Trâm nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ dám nghĩ tưởng tới “chuyện đó” nếu mấy nhỏ bạn không khơi dậy. Bây giờ thì đã như dòng nước trào qua khỏi bờ. Tuy nhiên với Trâm, nàng vẫn chỉ cảm thấy một cái gì đó thật lạ – rất nhẹ – rất không rõ rệt – một cái gì thích thú vu vơ – dạt dào đang ngầm ngấm vào từng tế bào. Trâm vừa lo lắng đồng thời vừa không muốn đánh mất những lăn tăn giao động đang làm cho tim nàng lệch nhịp, hơi thở dập dồn, da thịt căng nóng như đang gần ngọn lửa. Bất giác Trâm cho tay vào túi áo lấy tấm danh thiếp ra nhìn ngắm. Nàng nhắm mắt lại cho những dạt dào làn sóng vỗ nhẹ trong lòng – chú Tuấn, chiều nay cháu sẽ tìm mọi cách tới thăm chú – tại hơn hai tuần lễ nay cháu bị ba cấm không cho ra khỏi nhà chứ đâu phải cháu không muốn. Cháu cũng có nhiều điều để nói với chú, nhất là về một vài đổi thay trong nội tâm làm cháu hoảng sợ, không hiểu. Khi ở tuổi cháu, chú có như vậy không ? – Thật kỳ, chú ạ... Chú Tuấn này, dạo này Trâm của chú ngoan rồi, bớt buồn, bớt khóc rồi, nhờ cháu nghe lời chú xem lại bài vở và học thêm chương trình mới – và cháu chép cả thơ nữa – Hôm nào chú phải “trang hoàng” cuốn sổ này cho cháu thật đẹp, đẹp hơn cả những nhỏ bạn của cháu... Chú Tuấn ạ, cháu nói thật với chú điều này; bây giờ chẳng còn ai thương cháu, kể cả ba, cả mẹ. Chỉ duy nhất có chú hiểu và cảm thông với cháu. Cháu thí dụ nếu chú cũng ghét cháu luôn thì chắc cháu chỉ còn có nước chết... Mà thôi, để chiều nay gặp chú, cháu sẽ nói nhiều. À còn chú, chú có chuyện gì cần nói với cháu vậy ? Chắc chú lại mới hoàn tất mấy tác phẩm chứ gì ? Hay là... hay là... chú cũng... nhớ... cháu…?
Trâm hoảng hốt với ý nghĩ sau cùng. Nàng vội cầm bút để trấn tĩnh nội tâm. Những trang vở được lật qua lật lại. Trâm tìm một bài thơ khác, để chép tiếp: 
 
Thư trước lòng tôi phơi phới quá
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương
Nhưng mà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương
………..........................
 Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên
.................................. 
 
- Trâm!

Trâm giật bắn mình bởi tiếng quát sau lưng. Nàng quay lại. Ông Thịnh, ba Trâm đang quắc mắt nhìn nàng:

- Giờ này còn làm gì mà mày chưa thổi cơm ?

Trâm sợ đến tái xanh mặt mũi, ấp úng:

- Thưa ba... hãy... còn sớm...
 
- Sớm! Mày mù hay sao mà không thấy đã gần 12 giờ rồi, hả Trâm ?

- Dạ... 

 - Mày ở nhà làm gì ?

- Thưa... thưa…

Ông Thịnh xấn xổ Lại, xô Trâm sang một bên, cầm hai cuốn tập để trên bàn, ông nghiến răng:

- Thơ! Thơ! Đói dài người ra đây mà còn thơ với thẩn!

- Trâm!

- Dạ…

- Lại đây!

Trâm lê bước tới, toàn thân run rẩy, mặt nhợt nhạt như không còn giọt máu. Bỗng một cái tát giáng xuống mặt nàng. Cả nghìn đóm lửa lòe lên ; Trâm loạng choạng.

- Trâm!

- Dạ…

- Tao hỏi mày những bài thơ này có nuôi được mày với bố mẹ mày không ?

Trâm nín thinh, len lén nhìn ông Thịnh, sợ hãi. Tiếng quát nạt làm nàng kinh hồn tột độ:

- Mày không trả lời tao hả Trâm ?

- Thưa…

- Làm sao?… có nuôi được hay không ?

- Thưa... không...

 Ông Thịnh cười gằn, đập bàn:

- Biết vậy sao mày còn phí thời giờ ngồi chép ? Ai là người nuôi báo cô mày mãi ?

Lại năm sáu cái tát nữa. Trâm ngã chúi xuống. Một dòng máu đỏ trào ra bờ môi. Trâm cắn chặt răng chịu đựng. Trong khi đó, vẫn chưa hả giận, ông Thịnh xé nát hai cuốn sổ:

- Này thì thơ! Này thì thơ!

Trâm đau điếng, đau hơn cả trận đòn hằn. Nàng òa khóc. Ông Thịnh đứng chống nạnh, chỉ vào mặt Trâm, quát:

- Câm!

Trâm dằn tiếng nấc, nghẹn ngào trong nước mắt:

- Con… con… xin lỗi ba…

Không một mảy may xúc động, ông Thịnh rít lên:

- Thứ con mất dạy, bất hiếu!

Vẫn nằm dưới đất, hai tay chống đỡ thân mình rũ rượi, Trâm van xin:

- Ba… tha lỗi… cho con…

Tiếng ông Thịnh thét lên:

- Đứng!

Trâm vâng theo, nhưng lùi lại mấy bước, kéo vạt áo chùi mép.

- Trâm!

- Dạ…

- Có phải vì tao không có tiền cho mày đi học nữa thì mày đem sách vở ra để bêu xấu tao đây phải không ?

- Thưa… ba… con đâu... có ý vậy...

 - Thế sao cứ khi nào tao đi vắng thì mày lại biên biên chép chép ; ra cái điều ông không cho tôi đi học thì tôi cũng dư sức học lấy một mình. Phải vậy không Trâm ?

- Thưa… dạ... không…

- Mày tưởng tao ngơ đi rồi mày muốn làm gì thì làm phải không, con khốn nạn này ?

- Con… xin lỗi... ba…

Cơn điên trở lại, ông Thịnh nhào tới. Trâm ôm mặt, ngã lăn dưới đất. Tiện chân, ông Thịnh đạp túi bụi trên người nàng, bất kể mặt mũi hay ngực bụng. Trâm lăn lộn một lúc rồi nằm bắt động dưới những tảng đá rơi trên thân thể...
 
Hàng xóm nghe tiếng la hét, đổ dồn sang, nhưng không một ai dám vào can ; phần vì bộ mặt dữ tợn của ông Thịnh, phần vì ngại ngần trước đây đã bị ông ta chửi bới tục tĩu nên người nào cũng chỉ biết đứng ngoài chép miệng thương hại Trâm:

- Tội nghiệp cô ấy hiền lành ngoan ngoãn mà tối ngày bị đánh đập.

- Cha gì dữ như cọp!

- Ai vào can đi không thằng chả đánh chết cô Trâm bây giờ!

- Trời ơi... cô Trâm chết mất, người nào nhào vào lôi cô ấy ra đi!

- Đàn ông, con trai đâu hết rồi... vào đại đi chứ!

Nhưng, vòng trong, vòng ngoài vẫn bất động.

Trong khi đó ông Thịnh vẫn không ngừng đánh Trâm. Hình như sự có mặt của những người hàng xóm lại càng tăng thêm cơn giận dữ trong ông ta. Người Trâm bây giờ tê dại đi như không còn cảm thấy gì nữa. Máu với nước mắt nhòe nhoẹt trên mặt và vương xuống áo, rải rác trên mặt đất. Như con thú dữ say mồi, mất hết lương tri, ông Thịnh chạy lại góc nhà lấy chiếc then gỗ cài cửa. Mặt xám màu chì, răng nghiến kèn kẹt, ông giơ thanh gỗ định quật xuống người Trâm... thì bị một cánh tay bất chợt giữ lại. Nhìn người lạ, ông Thịnh gầm lên:

- Mày là thằng nào ? Vào nhà tao làm gì ?

Người vừa xuất hiện trả lời ôn tồn nhưng giọng nói mang vẻ cương quyết:

- Vô tình tôi đi ngang, thấy ông đánh... cô ấy quá, tôi vào xin ông ngừng tay...
 
Nghe văng vẳng tiếng ai quen thuộc, Trâm cố mở đôi mi mắt tím bầm và bê bết máu, nhìn dáng người mờ mờ trước mặt, bỡ ngỡ:

- … Chú… chú... Tuấn...
  
Không ai nghe thấy tiếng Trâm thì thào vì tiếng thét của ông Thịnh vẫn gầm vang:

- Con tao, tao đánh, mắc mớ gì tới mày?

 - Nhưng ông không thấy là cô ấy gần chết rồi kia à ?

- Chết, tao chôn. Không ai nhờ mày!

- Ông không thể vô tâm như thế được!

- Tao vô tâm đấy!

- Ông không có quyền!

- Tao có quyền! Thằng nào làm gì tao ?

- Tôi yêu cầu ông không được đánh cô Trâm nữa.

- Tao đuổi mày cút khỏi nhà tao!

- Tôi không đi khi nào ông không thôi đánh con ông !

- Con tao chứ con mày à ?

- Ông cũng không được tàn nhẫn như vậy!

- Tao cứ đấy!

- Tôi cấm ông!

- Mày là cha nó hay tao là cha nó ?

- Dù ông là gì cũng vậy!

- Xéo khỏi nhà tao!

- Tôi không đi!

Tiếng đôi co mỗi lúc một gay. Những bàn tay nắm chặt. Những con mắt bốc lửa. Những bộ mặt đầy sát khí...  Thừa cơ hội, mấy người đàn bà lẻn vào bế xóc Trâm ra ; toàn thân nàng mềm nhũn như tầu lá chuối, miệng vẫn thều thào điều gì.

Trong nhà:

- Thằng chó... Mày là thằng chó, xía vào chuyện của tao.

- Ông câm miệng lại.

- Mày là thằng khốn nạn. Đồ chó... 

 - Ông không xứng đáng là một người cha.

Ông Thịnh tay cầm sẵn thanh gỗ, đâm thẳng vào mặt Tuấn. Đã đề phòng trước, Tuấn nhẹ lách mình sang một bên, đồng thời thẳng tay đấm trả lại. Ông Thịnh không phản ứng kịp, ngã bật ngửa trên chiếc ghế dựa. Tuấn bỏ đi.

Đằng sau vang lên tiếng đổ vỡ của đồ vật và tiếng gầm thét của loài thú dữ.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG BA 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>