Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2023

Làm Việc Xã Hội

 

Thư của em NTBH Saigon:

"... Mặc dầu bận học, nhưng ngày nghỉ em rất thích đi cô nhi viện giúp các em bé, hoặc làm những công ích gì khác...

Thứ bảy trước ghé thăm bạn, em thấy chị ấy đi phát thuốc cho đồng bào nghèo, em xin đi theo.

Em lại còn về nhà xin chị em thuốc nữa cơ. Thế nhưng em mới đi được có một buổi, thì bạn em ngỏ ý biểu em đừng đi! Em sững người! Em có vụng về gì không? Nhưng mới có một buổi, em còn xa lạ thành ra ít nói lắm. Thôi em chả đi nữa để bạn em khỏi bị phiền. Tại sao họ không muốn cho em đi hả chị? Họ có muốn độc quyền làm việc thiện không chị?

... Có lẽ vì nhiều trở ngại mà nhiều người không giúp ích gì nhau được phải không? Nhiều khi rảnh rang, ngủ cả chiều thứ bảy, chủ nhật, em chán nản, uể oải lắm chị ạ. Càng lớn em càng thấy mọi người không chịu hiểu nhau, thích làm khổ nhau. Còn chi tiết nữa là ở nhà em nhàn lắm. Em ngại giao thiệp. Má em thương tụi em lắm..."

TRẢ LỜI:

Đọc thư em, chị hoàn toàn thông cảm. Đó cũng là tâm trạng chung của một số em nhiệt thành, nhiều thiện chí, muốn giúp ích, nhưng rồi gặp vài lần như em, dần thành thui chột đi, như là gặp một khối băng, và ngọn lửa của tuổi trẻ tàn lụi dần.

Dân mình hiện nay mắc một cái bệnh thật đáng tiếc, đó là bệnh nghi kỵ. Thành ra mọi người trở thành bi quan, ít ai tin rằng lại có người tốt, chịu làm một việc hoàn toàn vô vị lợi. Mà nhiều khi sự nghi kỵ lại đúng. Có em viết thư cho chị, nói rằng em muốn vào một cô nhi viện kia thăm các em bé nhưng không được phép, sau nhân có người giúp việc, trước có làm trong viện, kể lại mới biết rằng bà giám đốc không thích ai thăm ngày thường, vì các em bị cư xử tệ quá, quần áo dơ dáy, bú cả ngày đêm có 3 cữ, đói quá gặm tay phát lở ra luôn. Duy những ngày nào có quan khách báo trước, bà mới cho ăn diện đàng hoàng thành ra rất được khen ngợi. Nếu sự thực mà xẩy ra như vậy, thì chị em mình chỉ còn biết cầu thượng đế, Ngài giúp cho các em bé đáng thương, cho lương tâm những người lợi dụng các em sớm thức tỉnh, chứ không còn cách gì khi mà người ta đã đem chính các em ra để làm bình phong.

Nhưng chị tin tưởng rằng những trường hợp đó ít thôi. Mình không thể vin vào một thiểu số mà mất tin tất cả. Chị đã thấy trong những vụ nhà cháy, các em H.Đ.S lăn vào lửa để giúp đỡ, các thanh niên thiện chí lặn lội khơi cống hốt rác, các phụ nữ hàng tuần vào bệnh viện để săn sóc cho số bệnh nhân khổng lồ, mỗi ngày mỗi gia tăng khủng khiếp, từ các miền hỏa tuyến ùn ùn được chuyển về.

Số người có thiện chí âm thầm làm việc rất nhiều. Mà có lẽ cũng chính vì còn có nhiều tâm hồn như vậy, nên dù đã gần ba chục năm nước ta chìm trong khói lửa, mà tinh thần dân ta còn được như ngày nay. Chứ cứ xem chỉ mới có 6 năm chiến tranh mà một giống dân kiêu hùng như dân Đức, tinh thần cũng đã suy sụp hơn mình rồi.

Trường hợp em, chị nghĩ rằng có lẽ bữa em đi phát thuốc đó vì mới đi lần đầu, em e ngại nên không vui, vì thế các bạn của bạn em thấy khớp. Bởi vì đi cho, đi giúp, mình cần có bộ mặt vui vẻ, người cho khỏi lầm là mình khinh họ, mà tủi thân. Hoặc giả phát thuốc cần một yếu tố là biết qua về thuốc v.v... Dẫu sao, em không đi nữa là phải. Nhưng đừng vì vậy mà vội nghĩ rằng họ muốn độc quyền. Em nên ráng cởi mở hơn trong tư tưởng, thì cuộc đời sẽ tươi đẹp hơn. Muốn giúp ích, lúc nào và ở bất cứ đâu em đều có thể làm. Không phải cứ tới cô nhi viện mới là giúp. Giúp mà ở nhà, giúp các em, giúp dạy dỗ dùm trẻ con lối xóm. Giúp nhà bà con nào có người đau yếu. Các em nhỏ nào mặc áo rách, đứt nút em khâu dùm. Đi chợ, mua dùm đồ cho bà con. Em ơi! Đầy dẫy những việc tốt đẹp cần tới bàn ta của người thiện chí.

Ngay lúc nầy, em đem quần áo của nhà ra khâu vá rồi tới của trẻ lối xóm. Thứ bảy này em tựu các em nhỏ trong xóm lại, dẫn đến một công viên nào đó, dạy một bài hát, cắt hết các móng tay dài. Chủ nhật em giúp mẹ một ngày nội trợ. Em sẽ không có thì giờ mà ngủ. Việc đó rất thích hợp với tính thích ở trong gia đình của em. Thí nghiệm đi, với nụ cười, đời sẽ tươi đẹp bên em.


Chị Đ. P. K.      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 34, ra ngày 16-4-1972)
 

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2023

Chị Khuyên Em

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tý ơi, em ác ghê đi
Bắt chim làm gì, mẹ nó khổ đau

Khôn hồn em hãy thả mau
Đừng có cứng đầu chị đánh nghe không?

Chim con em nhốt trong lồng
Chim mẹ bay vòng ríu rít kêu thương

Nhớ không bài học nhà trường
Dạy ta phải biết yêu thương muôn loài

Thả ra cho nó tung bay
Trời cao mây rộng sống ngày tự do!

Em dù cho nó ăn no
Sống trong lồng hẹp co ro nó buồn.

Tội chưa, cái chú chim non.

                                              TÚ KẾU

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 35, ra ngày 23-4-1972)

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Một Dĩ Vãng

 

 Phong đứng trên hành lang con tàu, tay nắm nhẹ hàng song sắt. Anh dõi mắt nhìn ra xa. Bầu trời xanh gợn mây trắng, bao la như lòng đại dương dậy sóng. Tự dưng cái vui hồn nhiên của cuộc đời thủy thủ trổi dậy, sống dộng trong tâm hồn anh.

Phong nhớ lại ngày nào khi ba má đã đặt cho anh cái hỗn danh "Cu Toe". Nó không mấy đẹp nhưng tươi vui hóm hỉnh làm sao ấy. Và câu chuyện yêu đời hải hồ bắt đầu từ lúc anh lên sáu...

- Thằng cu Toe đòi gì mà mếu máo khóc kia?

Hôm ấy ba ngạc nhiên thốt ra câu nói trên khi thấy anh khóc rấm rức. Nhìn lại bầy anh chị, ông mới hiểu và cười đùa rằng: A, ạ! Thằng cu Toe đòi đồ mới như mấy đứa nhớn rồi chứ gì. Cu cậu rầu rĩ là phải lắm! Vận áo ngăn phơi cái bụng nước lèo to như ổ trống, quàn chả có làm sao chịu nổi phải không cậu?

Vừa nói ba vừa đưa tay nắn cái bụng tròn trĩnh của Phong và kéo sát vào lòng. Được thể anh chàng nũng già.

- Bé cũng muốn có như thế bố ạ!

Lúc ấy mẹ vừa thử xong đồ cho anh chị, mới quay sang anh nhoẻn miệng nói bông:

- Ừ! Mẹ sẽ mua cho con một bộ nhé: Vui lên đi cục cưng.

Phong chúm chím cười thỏa mãn, thúc mẹ trở lại chợ mua gấp. Mẹ bảo khẽ:

- Xa lắm, để mai đi.

Anh cằn nhằn:

- Ghét mẹ thấy mồ đi!

Mẹ khẽ cười rồi quay lưng đi xuống bếp tiếng guốc gõ dài trên nền gạch. Phong ấm ức lắm, muốn đập cái đầu tròn vào tường để hăm dọa mẹ. Nhưng lúc đó anh hơi ngan ngán, ngán u đầu quá: Mẹ lại hay lấy nước muối thoa bóp mỗi lần như vậy. Úi da, rát và đau lắm!

Đêm hôm đó, anh ngủ chẳng được. Mắt chơm chớp nhìn ra ngoài cửa sổ mong cho chóng sáng để mẹ đi chợ. Ông trời cũng ác, cái mặt nạ đen cứ mãi che mặt. Có lẽ ổng tưởng bảnh lắm nên chả chịu gỡ ra sớm. Cứ mỗi lần anh muốn tìm giấc ngủ dài mơ mộng thấy ông tiên già đạo hạnh nhắp rượu, mời mình đánh cờ. Như lời ba kể truyện, nó hay và thú vị lạ. Nhưng lúc đó đêm mau trôi qua. Khi ngủ, thời gian cụt ngủn như thế: Lúc thức đợi, đêm dài thườn thượt. Ông tiên chả thấy mà giờ đi chợ của mẹ noi noi gần ngút mắt. Tức ói máu đi được.

*

Sáng hôm sau anh tung tăng nhảy nhót trong vườn, không thiết buồn giận ông trời nữa. Nào lượm hạt cuội xám ném vào bầy cá dưới ao, chúng hoảng hốt như chạy loạn. Đôi mắt của chú cá Tàu thao láo, đen như hai cục mực ấy. Ở góc sân, mụ ngan chăn con. Bầy con cứ bị mẹ đạp phải luôn, kêu càm cạp. Anh bắt mụ ta, bóp mỏ rầy rà:
 
- Mầy chừa nghen, giữ con vậy nó "ngủm cù đeo" à!
 
 Bên hàng giậu, chị gà mái vỗ cánh phành phạch tru tréo "cục tác" ầm lên như mỉm cười tự đắc vì sự phải đòn của mụ ngan. Anh vờ cáu sườn chạy đến. Chị ba chân, bốn cẳng ù chạy, vấp vào dây bầu té lăn bò càng. Anh đứng chống nạnh hê hả cười. Nụ cười trẻ dại không phải vì thấy chị gà mái kia làm trò hề mà nghĩ lát nữa, mấy phút thôi là sẽ có bộ quần áo mới.

Có tiếng nhốn nháo ở trước nhà. Rồi giọng anh Hai vọng ra:

- À! Mẹ có mua cho cu Toe rồi nẻ bố.

Ba hồn, chín vía chẳng còn đâu. Mừng quá cỡ, anh vắt giò lên cổ chạy te vào nhà. Đụng vào cây kiểng bày ở cửa, bật gốc nằm chình ình một đống. Nghe động mẹ quay lại. Thấy thế, bà mắng nhẹ:

- Cu Toe hư quá! Mẹ chẳng cho đâu mà tham!

Anh nghe thấy rúc đầu vào kẹt cửa tối, tiu nghĩu. Mẹ vội nắm vạt áo, mỉm cười:

- Đùa tí mà giận rồi!

Anh nghe thế càng ra vẻ hờn, nhìn mẹ bằng nửa mắt.

- Con không cần.

Rồi lại cúi đầu vô góc.

- Thôi cu Toe đừng rầu nữa. Mẹ cho thêm một đồng đây.

Anh sáng rỡ mắt, thầm nghĩ: "Ngon lành thật!". Nào vừa có đồ mới, vừa có đồng chì tròn, lát nữa qua bên tiệm chú Nồi mua kẹo ăn. Nghĩ xong anh ngoảnh mặt ra tủm tỉm. Mẹ xoi mói:

- Gớm! Cu Toe nhà mình thế mà lanh đấy!

Bầy anh chị toe toét cười. Chiếc áo được xỏ vào tay rồi úp lấy mình anh, sau đó cái quần cũng được nối tiếp mặc vào. Ô! Màu trắng tinh. Mẹ khéo chọn ý anh lúc ấy. Chiếc áo có thêm một mảnh vải viền xanh phủ xuống vai, cổ có một cà vạt đen. Còn cái quần trên sát, dưới ống loe ra. Thì ra là bộ đồ may theo kiểu mấy anh chàng thủy quân. Anh thích thú soi gương ngắm nghía chúng mãi. Trước kia anh Long ở xóm đi lính ấy về thăm nhà, anh để mắt theo dõi và mẹ cũng đã tìm hiểu được ý nghĩ thầm kín của anh...

Ba ngồi xem, chắc lưỡi khen:

- Ái chà! Xu Toe đẹp giai quá! Nữa chắc làm thủy thủ đấy!

Anh Việt cười xòa:

- Ồ! Anh thủy quân bụng bự!

Chị Mai rúc rích:

- Cho cu Toe bắt cá mập nhé!

Theo sau những câu châm biếm, những tràng cười như tróc nóc vang dội. Anh không giận dỗi nữa, lại còn hòa theo nhịp điệu vì bấy nhiêu ấy cũng thỏa chí lắm rồi.

... Rồi những ngày học ở lớp nhất tiểu học, anh và các bạn thường ngây ngô hỏi nhau về tương lai cuộc đời. Nào:

- Nữa mày đi lính gì?

Các bạn đều mỗi ý thích nhưng do dự trong câu nói. Riêng anh thẳng thắn đáp lời mạnh bạo ngắn ngủn và cộc lốc:

- Thủy quân!

- Tại sao thế mày? Việc gì định cũng phải có lý do.

- Tao yêu màu xanh hy vọng, có gì đâu, hi hi!

Tất cả dĩ vãng cuộc đời đều ở cả trong đầu óc Phong. Yêu trời, yêu bể, yêu sông núi. Nó có tự thuở thơ dại rồi. Bây giờ, ước nguyện đã thành. Anh ra đi với đôi tay đắp xây hạnh phúc, yên vui cho Tổ quốc, cho cuộc đời mình...

*

- À! Lại mơ mộng gì rồi?

Tiếng bạn đồng đội lôi Phong trở về thực tế. Anh giăng tay, tâm hồn cởi mở sảng khoái, khẽ đáp lời:
 
- Một thời quá khứ đã xa!
 
- Thôi nội ơi nghe mà bắt mệt hà! Hổng lo sáng mai đi hành quân xa.
 
- Ngày mai à?
 
- Ừ, chứ mấy năm nữa nhỉ?
 
Phong lại nhìn ra phương trời xa. Màu xanh hy vọng của tuổi trẻ khiến anh tràn đầy tin tưởng nghị lực. Anh mỉm cười nhìn tấm thân chắc nịch, vững vạc của mình lẩm bẩm:
 
- Thêm một nghĩa vụ vì quê hương.
 
 
LÊ XUÂN QUÂN      
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 43, ra ngày 15-4-1966)
 

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Nắng Sau Hè



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tàu chuối  xanh xơ xác
Che mát cả đàn gà:
Cha vỗ cánh phành phạch
Mẹ, con ngủ gật gà

Trưa hè nồng oi bức
Trời chẳng gợn màu mây
Lửa lựu trái chín đỏ
Ổi thơm lừng trên cây

Bao năm trời phiêu bạt
Trở gót lại vườn xưa
Nắng sau hè gay gắt
Tàu chuối buồn đong đưa

Ngồi ôn bao kỷ niệm
Trưa trốn ngủ sau vườn
Cùng hái hoa, bắt bướm
Ôi ngày xanh yêu thương

Xưa phút giây thân ái
Bên mái ấm gia đình
Nay cánh buồm hồ hải
Anh cứ hoài lênh đênh

Anh: giờ nơi xa khuất
Em: tận cuối chân trời
Nắng sau hè quạnh quẽ
Nhịp thời gian vẫn trôi...

                                  Thơ Thơ
                     (Bút nhóm Hoa Nắng)

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Đùa Với Nắng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bác nắng gọi : Bé ơi mau thức dậy
Chiều sắp tàn còn ngủ nữa hay sao?
Mau dậy thôi ra sân chơi với bác
Chốc nữa đây kẻo bác biến bay cao.

Ông già gió đánh quật vào người Bé
Ô hay ghê làm bay áo người ta
Bắt đền đấy! Gió gió ơi đền đấy
Kìa gió già sợ bé chạy đi xa.

Mây lưng chừng là là bay trước gió
Che mất rồi tấm thảm màu xanh lơ
Ghét ghê là...! Thôi bay nhanh đi chớ?
Còn ngần ngừ làm bộ ngó ngẩn ngơ.

Mắt chú mưa bỗng nhiên rưng rưng lệ
Tội nghiệp ghê! Ai hiếp? Chú làm nư
Hãy nói đi Bé sẽ mách ông Trời
Ông sẽ đánh trả thù giùm cho chú.

Sương rơi nhẹ, tiếng con Oanh thỏ thẻ:
Chị Bé ơi! Bác nắng sắp tìm kia!
Rửa mặt đi, Oanh giúp chị đây nè
Rồi ăn sáng, chị cùng Oanh đón bác.

Nghe mẹ bảo, nắng sớm là tốt lắm
Nên sáng nào Bé cũng bế chim Oanh
Ra ngoài sân bên thảm cỏ xanh rì
Oanh đua bác xem ai là chạy nhanh

Chim bay mệt nhưng bác già không mệt
Oanh thua rồi, ê mắc cỡ lêu lêu!
Oanh đỏ mặt, nũng nịu kêu se sẽ:
- Chị kỳ ghê! Chẳng chịu giúp còn trêu.

                                                 ĐÌNH CHIẾN

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 126, ra ngày 1-4-1970)

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Nai Đầu Đàn

 

Tôi còn nhớ cách đây không lâu, tôi có được đọc một truyện ngắn của Thương Việt Phương đăng trong Tuổi Hoa với tựa đề "Thỏ Đầu Đàn" trong đó Phương đã diễn tả nỗi vất vả lẫn khổ tâm của một cô thỏ chị phải chăm sóc cả một lũ em dại khi vắng cha mẹ. Để thông cảm với hoàn cảnh ấy, đến nay tôi cũng xin "tả oán" nỗi khổ sở của tôi trong chức vụ đầu đàn. Nhưng rất tiếc tôi không được như "cô thỏ" Phương khôn ngoan, láu lỉnh, nhanh nhẹn, tháo vát, tôi chỉ là một "chú nai vàng ngơ ngác" phù hợp với bản tính hiền như bột cố hữu của tôi.

Thú thật với các bạn trong gia đình Tuổi Hoa, niên kỷ tôi năm nay "mới có" vừa đúng 18 tuổi trăng tròn... Tôi tự nhận thấy mình đã lớn nhưng nhiều lúc tôi lại nghĩ rằng: mình vẫn ở cái tuổi "mười mấy" chứ chưa "hai mươi mấy" và hễ "mười mấy" thì tất nhiên vẫn còn là một thằng con nít và tôi vẫn còn được cái hân hạnh kể chuyện con nít, đọc báo con nít, và chơi các trò con nít như thường, Phải không các bạn! (tôi buộc lòng phải dùng danh từ "con nít" cho nó thân mật hơn, các bạn đừng giận nhé!).

Thương Việt Phương có lẽ còn "phúc đức" hơn tôi nhiều. "Bầy thỏ" của Phương tuy đông nhưng được cái là đủ mặt các "tiên đồng ngọc nữ" lẫn lộn, sĩ số đôi bên tương đương nhau, còn "bầy nai" của tôi, nói ra có lẽ chẳng ai tin vì nó khá đặc biệt và hiếm có: "Bầy nai" của tôi có đến 7 "ngọc nữ" và chỉ có 2 "tiên đồng", 7 "ngọc nữ" ấy là Yến 15, Oanh 14, Loan 12, Phượng 10, Uyên 9, Ngọc 7, và Kim Châu 6 tuổi, 2 "tiên đồng" ấy là tôi, Dũng 18 và Hùng 13.

Thật ra thì tôi cũng chưa phải lãnh trách nhiệm đầu đàn nặng nề ấy vì trước tôi còn có một "ngọc nữ" nữa là chị Dung 22 tuổi. Dù sao khi bên con gái đã chiếm đa số thì để cho họ cai quản lấy cũng sướng hơn. Nhưng từ ngày chị Dung lên xe hoa về nhà chồng là chị ấy giao hết "quyền hành" lại cho tôi. Thế mới chết chứ lỵ!

Làm đầu đàn, nghe cái chức có vẻ oai đấy nhỉ! Nhưng sự thật cũng chẳng sung sướng gì đâu các bạn ạ! Khổ ghê vậy đó!!! Để tôi kể cho các bạn nghe: Thấy ông anh cả "tân thăng" đầu đàn mà lại hiền lành, nhút nhát, tụi con gái mặc sức làm mưa làm gió, ba má tôi thì ngày hai buổi bận làm ăn buôn bán, giao phó việc trông nom lũ trẻ cho bà ngoại. Gặp những ngày nghỉ tụi con gái rủ nhau chơi nhảy dây, cò cò, trốn bắt, nô đùa ầm ỹ cả lên ; chúng nó có tuổi sàn sàn bằng nhau, tính tình nghịch ngợm như nhau nên chơi rất "hợp rơ", nhiều lúc chúng nó nghịch đến nỗi tôi bắt nổi sùng, phải ra mặt ông anh quát tháo một hồi chúng mới chịu để yên cho mà học bài. Về phần tôi thì dù sao cũng đã lớn rồi, thằng Hùng còn nhỏ nên chúng tôi ít hợp nhau cho lắm. Nhưng nhiều lúc thấy nó lẻ loi, tội nghiệp nên thỉnh thoảng tôi rủ nó chơi đá banh, đánh đáo, đánh cờ... Hùng ta tuy vậy nhưng cũng được cái là ngang tàng, bướng bỉnh nên cũng đỡ bị tụi con gái ăn hiếp. Còn tôi - nói ra chỉ sợ anh em cười, nhưng để bụng thì cứ ấm ức mãi nhịn không được, thì thôi nói đại - tôi chỉ là một cục kê ngồi chịu trận. Tụi con gái còn tự phong làm "LES SEPT MERCENAIRES", còn hai đứa tôi, chúng nó đặt danh hiệu là "LES DEUX GAMINS" (Hai trẻ lạc loài). Thế có cáu không các bạn. Lắm lúc tôi tức quá, bĩu môi:

- Sức mấy mà đòi làm "Les sept mercenaires", có "Thất Nữ Quỷ" thì có...

Yến chu chéo lên:

- Anh Dũng bảo tụi em là "Bảy con Quỷ cái" nhé, má về em mách cho mà coi...

Tôi nhăn nhó:

- Thế mấy cô chả nô nghịch như quỷ sứ là gì!... Gọi thế đáng lắm!!...

Lập tức tụi con gái la ó:

- Không được... Không được...

Và đập bàn đập ghế ồn lên. Tôi lắc đầu khổ sở:

- Thôi xin các cô, tôi chịu thua rồi... Thôi thì "Les Sept Mercenaires" vậy...

Biết mà, hễ cứ giở giọng làm ầm lên một chập là ông anh bắt nhức đầu, phải nhượng bộ...

Mệt nhất là ở những ngày giữa tháng và cuối tháng. Mỗi lần đi học về là tôi không quên ghé sạp báo mua tờ "Tuổi Hoa", về đến nhà là kéo thằng Hùng ra chỗ vắng dúi vào tay nó bảo nhỏ:

- Giấu đi, tao cho mày coi trước đó...

Hùng ta hí ha hí hửng xách cuốn "Tuổi Hoa" chạy lên gác "xem tư", có hôm không may cho nó là con Loan trông thấy la lên:

- A, có "Tuổi Hoa" rồi tụi bay ơi! Anh Dũng đưa thằng Hùng xem rồi!...

Ba con Oanh, Phượng, Uyên nghe thấy nhào tới chất vấn:

- Để tụi em coi trước, anh Dũng làm như vậy là không công bình...

- Nam nữ bình quyền mà...

Tụi nó ùa đến chỗ thằng Hùng. Anh chàng sừng sộ trông phát tức cười:

- Ê người ta "xí" trước rồi...

Tụi con gái được thể la ó lên ầm ỹ. Hùng ta nổi sùng nhào tới tát con Loan một cái. Thế là nó khóc thét lên. Má nghe có tiếng động từ dưới nhà chạy lên hỏi cớ sự rồi quát:

- Hùng, đưa cuốn truyện cho con Loan mau... Không biết có hay ho gì mà tụi bay giành nhau dữ vậy...

Thế là anh chàng "mất của". Con Loan dụi nước mắt rồi cười to lên có vẻ sung sướng lắm. Hùng ta thì cứ nhăn như "bị". Hai đứa đang gầm ghè nhau thì con Yến xen vào xử huề:

- Thì bây giờ 8 đứa oẵn tù tì, đứa nào thắng coi trước, theo thứ tự...

Ý hẳn Yến nhà ta định bắt chước "sách lược" của Mai Anh Nương. Nó khôn quá, oẵn tù tì thì phe nó thắng rồi còn gì nữa. Thằng Hùng có giỏi mấy cũng chỉ hạ nổi ba đứa là cùng rồi bị loại khỏi vòng chiến. Thế là phe con gái lại thắng thế. Tức không các bạn! Tụi nó lợi dụng ở điểm tôi và Hùng ta thuộc "phái khỏe" nhưng mà ai lại lấy sức mạnh đàn áp "Phái chân yếu tay mềm" bao giờ... Thế là tụi nó được thể tung "chưởng mồm" lên. Hai đứa tôi đã bị thất thế lại thế cô nữa nên đành chịu thua vậy...

Sự kiện "trai thiếu gái thừa" này tuy lắm lúc bực mình thật nhưng nhiều khi cũng cảm thấy vui vui và buồn cười. Chẳng hạn như cứ đến cuối tuần ba cho tiền cả 9 đứa kéo nhau đi xi nê Rex. Chủ nhật nào ở Rex cũng đông nghẹt... ; tôi với thằng Hùng "đường đường là một đấng nam nhi" thành ra có... phận sự mua vé ; tụi con gái "liễu yếu đào tơ" chỉ việc đứng ngoài nhai kẹo chewingum chờ đợi... Mua được mấy cái vé là mồ hôi ra ướt như tắm... Đến khi vào rạp là trăm lần như một, tôi phải bảo Yến:

- Nào, nữ tướng điểm binh xem "quân số" đã đủ chưa hay còn thiếu mống nào?...

Yến quay lại lẩm nhẩm: Oanh, Loan, Phượng, Uyên, Ngọc, Kim, Châu.

- Đủ rồi anh ạ!

- Vào trong rạp nhớ nắm tay nhau mà đi kẻo lạc đấy...

Xong xuôi đâu đấy chín đứa tôi mới vào rạp và chuyên môn khi nào ngồi cũng chiếm trọn cả hàng ghế...

Những lúc rảnh rỗi, ba má tôi thường nhìn bầy con lúc nhúc mà thở dài ngao ngán:

- Nhà mình như vậy là lỗ vốn, sinh được 8 gái mà chỉ được mỗi 2 trai. Sau này lo đám cưới với của hồi môn cho các cô ấy biết làm sao đây?...

Con Oanh giở giọng đạo đức giả:

- Con nhất định không lấy chồng. Ở nhà nuôi ba má.

Lập tức Hùng ta xía vào:

- Thôi đi chị, nói dóc hoài... Con gái chỉ được cái nuôi cho lớn rồi đi về nhà chồng là hết chuyện, coi như là mất luôn, chỉ có con trai là mệt...

Tôi cũng xổ nho:

- Thằng Hùng nói đúng đấy... Vả lại, tổ tiên ta có câu: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", 10 đứa con gái không bằng một thằng con trai... Mà đây mới có 8 gái 2 trai, thế mà còn đòi gì nữa...

Tụi con gái đuối lý nhưng con Loan còn cố cãi bướng:

- Đời xưa khác, đời nay khác, đâu có giống nhau được...

Nhưng cũng vì lẽ đó mà hai đứa con trai được ba má cưng hơn hết, tuy rằng mang danh thiểu số có lúc bị thiệt thòi nhưng phần thắng lợi vẫn nhiều hơn... Hai đứa tôi xin gì ông bà cũng cho, nào may sắm áo quần, giầy, mũ, xe gắn máy... thôi thì đủ cả ; còn tụi con gái xin mãi mới được, một phần cũng vì vấn đề tài chánh: trang phục phụ nữ khi nào cũng mắc tiền cả, nào jupe, áo đầm, áo dài, giầy, guốc, nón... và hễ may sắm cho một đứa thì phải mua sắm cả cho 6 đứa kia, kẻo chúng ganh tị nhau thì khổ, mà nếu may sắm đồng đều thì lại tốn tiền khá bộn...

Dầu vậy, có lúc tôi chỉ muốn hoặc bằng cách này hoặc bằng cách khác để được thoát cái "nợ nần" này cho rồi nhưng mệt một cái là nhà chỉ có mình tôi với chị Dung là lớn, chị Dung thì đã đi lấy chồng, con Yến dù sao hãy còn nhỏ, còn mình tôi là đủ trí khôn "lãnh đạo" bầy em dại... Vả lại, bỏ qua việc đó đi, nếu tôi đi xa thì bỏ thằng Hùng lẻ loi một mình, cũng tội nghiệp cho nó, và nếu cả hai đứa tôi cùng đi thì nhà lại thiếu bóng con trai, chỉ toàn con gái lúc nhúc cũng khổ cho ông bà già... Thôi đành vậy... Biết làm sao bây giờ...


LÊ DŨNG MỸ       

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 67, ra ngày 15-4-1967)

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Chiếc Lọ Sứ

 
Năm tôi 8 tuổi học lớp tư, tôi là một đứa trẻ tinh nghịch và mưu láo nhất nhà. Trong nhà tôi, vật mà ba tôi quí mến nhất đó là chiếc lọ sứ cũ mà cậu tôi đi Hồng-Kông về mua cho. Hơn nữa, ba tôi là một người rất thích sưu tầm đồ cổ. Thời ấy, tôi xem chiếc lọ ấy rất đáng ghét vì nó rất xấu xí, nước men màu xanh, vẽ các cành cây nhưng nó đã sứt mẻ vì lâu đời. Tôi coi nó như là một kẻ thù, vì nó mà tôi đã từng bị ba tôi "tát tai" mấy lần. Vì tính ba tôi cẩn thận, nên ông đã cho chiếc bình này để trên một tủ nước để góc nhà. Chúng tôi chưa bao giờ dám bén mảng đến gần vì ba tôi đã dặn đi dặn lại nhiều lần. Một hôm, chú tôi ở dưới tỉnh lên có đem theo một đàn con gồm 3 đứa. Nhân lúc chú cùng ba má tôi đi vắng, chúng tôi ở nhà như được "phóng sanh" liền tổ chức cuộc chơi trốn bắt ầm ĩ cả nhà. Vì tuổi nhỏ thơ dại, tôi bất chấp lời dặn ba tôi nên bất kể nơi nào kín đáo mà có thể trốn được là tôi vào. Trong lúc tôi đang núp sau cái tủ nước, trên có để chiếc lọ sứ, bất ngờ người em họ đến vồ tôi. Trong lúc hoảng hồn, tôi vung vai lên, tức thì chiếc lọ sứ của ba tôi rớt xuống đất bể tan nát. Tất cả anh em chúng tôi mặt tái nhợt, đứng trân trối nhìn nhau. Nhưng một "mưu thần" lại hiện ra trong óc thơ dại của tôi. Chúng tôi bèn để nguyên những mảnh vỡ ở dưới đất rồi chúng tôi lại kéo nhau sang nhà bác tôi để tránh những lời tố cáo của chị sen nếu chị ta lên bắt gặp. Chúng tôi vui mừng không kể và tự cho mình là mưu cao ; "Mưu Khổng Minh".

Lúc chúng tôi trở về nhà thì thấy chị sen đang đứng tựa cửa "thút thít". Chúng tôi ra vẻ như không biết gì cả, liền hỏi nguyên do. Chị cho biết.

"Chiếc lọ sứ để trên... bàn... nước, mèo... nhảy bể hay ai làm bể... không biết. Ông bà về đổ cho tôi làm bể. Ông... bà đánh tôi còn đòi cuối tháng... trừ tiền lương..."

Chúng tôi ai ai cũng làm bộ mặt thông cảm với chị, nhưng thật ra thì trong bụng ai cũng vui mừng, sung sướng vì đã "thoát nạn". Chúng tôi liền kéo nhau ra ngoài đường, ai có tiền liền dốc ra để cùng mua kẹo đãi nhau để ăn mừng sự thành công đã thoát qua "đại nạn".

Nhưng không ngờ, đến tối hôm đó, cả nhà đang quây quần chung quanh bộ bàn ghế salon để đọc báo. Ba tôi bỗng thấy một mảnh vụn của chiếc lọ sứ, liền tỏ ý tiếc nhớ. Bé Ái, em tôi, một đứa trẻ sáu tuổi nhanh nhẩu nhứt nhà liền nói: "Chiếc bình này con trông xấu quá ba à! Anh Sơn làm bể là phải lắm". Chúng tôi mặt ai cũng tái nhợt, trong lúc đó ba tôi quắc mắt lên tỏ ý tức tối lắm.

Thế rồi, chúng tôi mỗi người bị "đét" hai chục roi vào người vì dám phỉnh phờ mẹ cha. Chúng tôi bị đau thật, nhưng thật ra ai ai cũng đã cười thầm trong bụng vì đã ăn mừng hụt. Rốt cuộc ai cũng phì cười vì "giấu đầu lòi đuôi" vậy.


NGUYỄN THÚC SƠN     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 42, ra ngày 1-4-1966)
 

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

Đừng Ngại Ngùng

 

Hồi đó tôi học ở một trường trung học Vienne. Anh bạn giỏi nhất lớp là một học sinh mười sáu tuổi, có thiên bẩm đặc biệt về mọi phương diện. Rất siêng năng, có cao vọng, có giáo dục, đẹp trai, thông minh xuất chúng; hết thảy chúng tôi đều công nhận tương lai của anh sẽ rực rỡ. Vì vậy chúng tôi mượn tên nhà ngoại giao đại tài Metternich để đặt biệt hiệu cho anh. Có lẽ người ta có thể trách anh một điều là anh ăn bận bảnh bao quá, lúc nào cũng tề chỉnh; quần luôn có nếp mới ủi, cà vạt thắt rất có nghệ thuật.

Những ngày mưa, người tài xế của thân phụ anh lái một chiếc xe lộng lẫy đưa đón anh. Nhưng mặc dầu sống xa hoa, anh vẫn rất giản dị nên chúng tôi đều quý mến anh.

Một buổi sáng, mọi người ngạc nhiên thấy chỗ ngồi của «Metternich» bỏ trống. Tới buổi trưa người ta mới cho hay lý do. Thân phụ anh là một nhà lý tài có tiếng, ông vừa mới bị bắt đêm trước. Công việc làm ăn của ông là một vụ lường gạt đại quy mô. Chỉ hôm trước hôm sau, mấy ngàn người nghèo khó, cực khổ ký cóp trong bao lâu bỗng bị bóc lột hết ráo. Các báo lá cải đăng những tít to tướng làm rùm beng vụ đó lên, in hình thủ phạm và gia đình trong bài tường thuật.

Chúng tôi hiểu anh bạn đáng thương đó vì sao nghỉ học. Nhục nhã quá, anh không dám nhìn mặt chúng tôi. Chỗ ngồi của «Metternich» bị bỏ trống hai tuần lễ, trong hai tuần đó báo chí vẫn tiếp tục bêu xấu.

Tới tới tuần lễ thứ ba, một buổi sáng, cánh cửa mở ra và «Metternich» bước vô. Anh cúi đầu xuống, đi lại chỗ ngồi, mở sách ra và gục đầu đọc liền. Suốt hai giờ học anh không hề ngước mắt lên tới một lần.

Nghe tiếng kiểng, chúng tôi ào ào túa ra hành lang để nghỉ học mười phút. «Metternich» ra trước chúng tôi, quay lưng lại và đứng trước cửa sổ, cô độc, bề ngoài có vẻ chăm chú ngó kẻ qua người lại ở ngoài đường. Chúng tôi biết anh làm bộ « dữ dằn », « nan du » như vậy chỉ để tránh cặp mắt chúng tôi thôi. Anh đứng yên một mình, trong góc của anh.

Chúng tôi bỗng nhiên mất vui, thấu nỗi cô độc ghê gớm của anh. Chúng tôi biết rõ anh bạn đáng thương đó đương chờ một cử chỉ thân ái của chúng tôi. Nhưng chúng tôi rụt rè, ngại ngùng không tiến lại gần anh, không biết tỏ thiện cảm với anh cách nào để khỏi chạm lòng tự trọng của anh. Chúng tôi hèn nhát, chần chừ hoài, không dám bước bước đầu.

Trong khi còn ngại ngùng do dự không biết nên có thái độ ra sao thì kiểng lại đánh, thế là hết giờ ra chơi. Nghe tiếng kiểng, «Metternich» quay phắt lại, chẳng nhìn ai, vội vã về lớp. Nhăn nhó, bực tức, môi nhợt nhạt, anh ngồi vào bàn rồi lại cúi gầm đầu vào cuốn sách. Tan học buổi sáng, anh hấp tấp ra về liền.

Chúng tôi cảm thấy khó chịu về sự nhút nhát của mình, cùng nhau tìm cách cứu vãn. Nhưng đã quá trễ, cơ hội đã bỏ lỡ, không còn trở lại nữa. Sáng hôm sau, chỗ ngồi của anh lại bỏ trống. Chúng tôi kêu điện thoại về nhà anh thì anh không có nhà. Tội nghiệp anh, ở trường về, anh thưa với ba má, anh bỏ học. Và ngay tối hôm đó, anh rời kinh đô Vienne để đến một thị trấn nhỏ, làm công trong một tiệm bán thuốc. Từ đó chúng tôi không gặp lại anh nữa.

Nếu anh tiếp tục học thì chắc chắn anh em chúng tôi không ai theo kịp được anh. Hiển nhiên là tại chúng tôi ngần ngại, do dự, không biết ngỏ ít lời an ủi mà lúc đó anh rất cần, nên anh mới bỏ học làm hại tương lai của anh như thế. Buổi sáng đó, chỉ cần một lời thiện cảm, một cử chỉ âu yếm là anh đủ sức vượt qua khỏi cảnh khốn khổ của anh. Chúng tôi không tỏ chút thân tình với anh, hoặc lãnh đạm, hoặc xấu bụng. Không. Chỉ tại chúng tôi thiếu can đảm. Rất nhiều khi chúng ta thiếu can đảm nên không tìm được lời thích hợp để nói đúng lúc. Đành rằng, đến hỏi chuyện một người có lòng tự trọng đang bị thương tổn mạnh là một việc làm khó khăn và tế nhị. Nhưng kinh nghiệm lần đó đã cho tôi bài học là đừng bao giờ do dự, cứ nên theo xúc động đầu tiên của lòng mà cứu giúp một người đau khổ vì chính trong khi người khác đang bị gian nan, một lời nói, một cử chỉ của mình mới có giá trị nhất.
 

Tác Giả: Stefan Zweig    

Nguyễn Hiến Lê tuyển dịch

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

Giành Sự Sống

 

Một buổi sáng tháng 8, tại một khu rừng già Phi Châu, tôi vừa ăn xong điểm tâm một mình, liếc nhìn chung quanh thấy Văn Đạt, bạn tôi, và người mọi đen vẫn chưa ăn xong bữa ăn sáng, tôi nhíu mày khó chịu, còn An, hắn hãy còn nằm dài trên tấm nệm, không một ai trong số ba người đó có vẻ để ý đến công việc, lý do họ phải biết công việc chúng tôi phải làm trong ngày.

Chúng tôi được gửi đến khu rừng này để hoàn tất một công tác quan trọng. Văn Đạt là một chuyên viên Thủy Lâm, hắn biết rất rành về cách sống ở xứ nhiệt đới này, còn người mọi thì rất khỏe, hắn có thể vác nổi tất cả những hòm vật dụng của chúng tôi, còn tôi là một kỹ sư và là tổ trưởng, chúng tôi có nhiệm vụ phải hoàn tất công tác một cách khả quan.

Trong tuần lễ đầu, cả bốn chúng tôi đều vui vẻ làm việc chung với nhau, rồi dần dần, vì ảnh hưởng sức nóng của rừng già ở miền nhiệt đới, chúng tôi trở nên cáu kỉnh, không còn vui vẻ như trước nữa, tình bạn bè thân thiết mất dần, chúng tôi luôn hằn học và coi nhau như kẻ thù hơn là bạn, lúc này chúng tôi thường hay cãi nhau và thỉnh thoảng xảy ra vụ xung đột, sau cùng không ai buồn nói tới ai, ngoại trừ những khi cần thiết, giọng tôi trở nên gay gắt và nghiêm khắc. Đến bữa ăn, mỗi người ngồi ăn riêng một chỗ, chỉ về tối, khi màn đêm buông xuống, nằm dài trên chiếc nệm tôi mới cảm thấy thanh thản và bình tĩnh đôi chút.

Hàng tuần tôi thường liên lạc với văn phòng tôi bằng máy vô tuyến điện để báo cáo công việc, thường tôi hay mở đầu bằng câu: "Tất cả đều tốt đẹp" rồi tôi yêu cầu họ thả thêm đồ tiếp liệu và thực phẩm, kế đó tới giờ tôi phải liên lạc với cơ quan trung ương, lần này sau khi báo cáo xong kết quả công việc làm trong tuần, tôi yêu cầu họ phải gửi phi cơ đến đón chúng tôi về, công việc tuy chưa hoàn tất, nhưng tôi e rằng nếu tình trạng căng thẳng kéo dài, chỉ cần một câu nói khích đủ làm trở ngại cho công việc, đủ làm tan vỡ tình bạn bè giữa chúng tôi, nguy hiểm hơn nữa là có thể xẩy ra đổ máu.

Văn Đạt và mọi người đã ăn xong bữa điểm tâm khi thấy tôi quở trách An, An vẫn không nhúc nhích, tôi kêu hắn một lần nữa, rồi lại gần chỗ hắn nằm, tôi thấy hắn trợn tròn đôi mắt có vẻ kinh sợ tột bực, mặt xám xanh như tầu lá, nhưng vẫn bất động. Tôi ngừng lại và chăm chú nhìn vào đôi mắt hắn, môi hắn bắt đầu mấp máy như muốn nói, tôi ghé tai gần miệng hắn để cố nghe rõ, hắn thều thào nói: "Con rắn" rồi liếc mắt xuống chân ra hiệu cho tôi nhìn xuống chiếc nệm, tôi thấy một khúc tròn nổi lên dưới lần vải của chiếc nệm gần chân hắn, tôi lạnh toát cả người, máu như ngừng chạy. Tôi nhón gót quay lui trở lại vì chỉ một tiếng động nhỏ đủ làm cho con rắn mổ An. Tới chỗ Văn Đạt và người mọi, tôi thấy hai người đang kinh ngạc há hốc mồm, tôi ghé tai họ và nói thầm cho họ biết là có một con rắn đang nằm dưới chân An. Bỗng tôi sực nhớ đến điều mà chúng tôi đã học trước khi được gửi đến khu rừng này: "Hãy đốt tất cả những bụi rậm về mùa đông, chặt hạ nó xuống về mùa hạ, vì bụi rậm là nơi trú ẩn hấp dẫn của các loài vật nhỏ, chim rừng và rắn rết". Chúng tôi đã quên làm việc đó vì còn mải bận rộn cáu kỉnh và cãi lộn với nhau để đến bây giờ, kết quả là một con rắn đang nằm dưới chân An và sẵn sàng mổ chết hắn. Tôi lại nhón gót quay trở lại chỗ An, quan sát kỹ chỗ rắn nằm dưới nệm để cố đoán xem nó thuộc loại rắn gì? Tất cả chỉ có ba loại rắn độc có thể mổ chết người trong một phút. Đột nhiên người mọi nói: "Thuốc lá, khói thuốc lá có thể làm cho rắn bỏ đi". Văn Đạt và tôi giận tím người, trừng mắt nhìn hắn và chỉ muốn cho hắn vài cái bạt tai, nhưng may mắn con rắn vẫn nằm yên, tôi rón rén rời xa chỗ An, người mọi thấy tôi giận thì sợ hãi và ra hiệu bằng mắt tỏ ý hối tiếc là đã lỡ nói to, rồi với bộ mặt hớn hở, hắn bắt đầu làm điệu bộ giả vờ hút thuốc lá và thở khói ra đằng mồm, cũng bằng điệu bộ, hắn chỉ xuống đất, vẽ hình chiếc nệm, hắn khoanh tròn một lỗ nhỏ trên chiếc nệm ra dấu chỉ chúng tôi, chúng tôi hiểu là hắn muốn nói" "Chúng ta nên khoét một cái lỗ ở trên chiếc nệm, phun khói vào đó, con rắn sẽ bị sặc khói và chui ra". Có thể là người mọi đã có lý. Tôi và Văn Đạt quyết định làm theo hắn. Người mọi bắt đầu lượm những cỏ ẩm chung quanh và vun lại thành một đống rồi nhóm lửa. Văn Đạt chạy đi kiếm chiếc túi bỏ không mà chúng tôi dùng để đựng những vật dụng, chúng tôi cần một hay hai chiếc túi hứng khói mang từ đống cỏ ẩm đến chỗ chiếc nệm, rồi tôi và Văn Đạt rón rén quay trở lại chỗ An, không dám nói một lời tôi chỉ làm hiệu để cho An biết ý định của chúng tôi, An theo rõi điệu bộ của tôi để cố tìm hiểu, mắt hắn đảo lên đảo xuống theo dấu tay của tôi rồi chớp mắt rỏ vẻ đồng ý.

An biết rất rõ về rắn, hắn đã từng kể cho tôi nghe trong tuần lễ đầu, lúc chúng tôi còn thân thiện với nhau những câu chuyện về rắn. Tôi cố nhớ lại những câu chuyện của hắn để tìm cách đối phó. Tôi quan sát kỹ một lần nữa chỗ rắn nằm để tìm chỗ khoét thủng một lỗ tròn để lùa khói vào, tôi là người xưa nay không bao giờ chịu cầu nguyện thế mà hôm nay đứng trước sự nguy hiểm, đứng trước cái chết gần kề của người bạn, tự nhiên tôi đưa tay làm dấu Chúa và cầu nguyện nhẩm trong mồm. An sẽ chết nếu tôi khoét nhầm lỗ thủng quan trọng này.
 
Tôi cẩn thận và rón rén cắt tròn một lỗ ở chiếc nệm, lỗ tròn vừa đủ cho bàn tay người đút vào. Văn Đạt ra hiệu cho người mọi đem cái túi đựng đầy khói lại, tôi nhích lui lại một tí để An có thể trông thấy tay tôi, tôi ra hiệu cho An biết là khi thấy con rắn trườn ra thì lập tức phải lăn ngay xuống đất, hắn chớp mắt tỏ ý hiểu vì hắn biết rằng một khi con rắn bắt đầu trườn ra ngoài, thấy người, thì có thể là nó sẽ lại bò vào trong nệm hay sẽ mổ hắn. Tôi hướng miệng túi đựng đầy khói sát gần lỗ thủng vừa khoét và ép miệng túi lại, một ít khói tỏa ra vương quanh miệng túi, một luồng khói khác dầy đặc lùa vào lỗ thủng rồi tỏa ra ngoài do chiếc lỗ rách ở gần đầu An, khói bốc nghi ngút quanh mặt hắn, nước mắt hắn ràn rụa. Bỗng nhiên con rắn dưới nệm hơi cựa quậy, hình dạng của khúc tròn nổi trên nệm có hơi thay đổi, chúng tôi lại nấp sau một đám bụi rậm, nhưng rồi khói tan hết con rắn vẫn nằm ở trong đó. Chúng tôi rón rén bước lại bên cạnh An, tôi ra hiệu hỏi xem là có nên tiếp tục phun khói nữa không, hắn chớp mắt ra hiệu không. Tôi ước giá tôi có thể lau mặt cho An, mặt An nhễ nhại mồ hôi vì bị phun khói và phải nằm dưới nắng mặt trời, cái nắng của một xứ nhiệt đới.
 

Ta có nên bắn con rắn không? Nên lắm chứ! Tại sao ta không nghĩ ngay đến chuyện đó trước? Tôi tự hỏi như vậy trong óc, bằng cử động của tay tôi ra dấu như muốn cầm súng, ngắm và bắn con rắn, tức khắc mắt An chớp lia lịa tỏ ý không đồng ý. Tôi chợt hiểu tôi là một thằng ngu xuẩn vì tôi có biết đầu con rắn nắm chỗ nào mà bắn. Tôi không thể bắn con rắn được vậy phải làm gì để cứu An bây giờ? Cả ba chúng tôi đã ở bên cạnh An suốt sáu tiếng đồng hồ và bây giờ mặt trời đã lên cao chiếu ánh nắng gay gắt xuống chỗ An nằm, may nhờ có tấm vải lều che mưa căng trên chỗ An nằm nên tránh được một phần nào ánh nắng, nếu không thì chắc An đã bị thiêu nắng. Bỗng nhiên tôi sực nhớ lại một điều An đã kể cho tôi nghe về rắn: "Rắn là một con vật thuộc loài máu lạnh, nó sẽ không chịu được nắng nếu ở ngoài trời, do đó rắn thường ở chỗ bóng rợp, nếu ở ngoài nắng một lúc lâu độ nửa giờ, ánh nắng chiếu thẳng vào nó sẽ hun nóng nó như một thanh sắt nung lửa và nó sẽ bị chết". Với điều đó, tôi biết tôi sẽ phải làm gì để xua đuổi con rắn cứu An, tôi cũng biết rằng việc tôi sắp làm sẽ làm An đau đớn thêm, nhưng tôi vẫn phải làm vì tính mệnh của An, vì tình bằng hữu... Tôi ra hiệu cho An biết ý định của tôi. Tôi sẽ tháo chiếc vải lều ra để cho ánh nắng mặt trời rọi vào chiếc nệm, An lại ra hiệu bằng mắt tỏ ý tán thành. Bộ mặt ngơ ngác của Văn Đạt và mọi người tỏ ra là họ không hiểu ý định của tôi nhưng họ vẫn làm theo điều tôi chỉ gỡ bỏ tấm vải lều xuống. Ánh nắng gay gắt của mặt trời giữa trưa chiếu thẳng xuống người An và chiếc nệm, trông An lúc này như đã chết, đôi mắt nhắm nghiền để tránh nắng, mặt tái mét, Văn Đạt và người mọi đang lâm râm cầu nguyện. Con rắn hơi cựa quậy, tôi hy vọng rằng ánh nắng mặt trời sẽ đem lại kết quả như ý muốn, nhanh chân chúng tôi chạy lại núp bên một bụi rậm và quan sát, Văn Đạt nâng sẵn nòng súng ngang tầm mắt chờ đợi. Khúc tròn trong tấm nệm bắt đầu di động và đổi hình dạng, mới đầu thì tròn, sau nhô lên cao, rồi chuyển thành dài và thấp, kế đó nó hơi nhích về đằng trước gần phía cổ An, rồi một cái đầu sần sùi và thô kệch xuất hiện ở gần cổ An, cái đầu quay về đầu An, ngừng lại vài giây, kế đến một cái thân dài màu nâu sậm trườn ra khỏi tấm nệm, bò qua mặt An, rồi lần xuống đất bò về phía bụi rậm. Văn Đạt vội nổ súng trúng ngay đầu rắn, con rắn chết ngay lập tức, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm sung sướng chạy lại chỗ An đỡ An dậy, dìu hắn rời khỏi tấm nệm đến chỗ bóng rợp, cho hắn uống nước lạnh và đặt nằm trên võng.

An nhắm mắt ngủ thiếp đi, trong lúc An ngủ, tôi, Văn Đạt và người mọi đốn những bụi rậm chung quanh, lúc này chúng tôi đã hết hận thù nhau và đều vui vẻ sát cánh làm việc bên nhau, vừa làm vừa nói chuyện, đôi khi còn pha trò để gây hứng thú, chúng tôi đã trở lại tình bạn thân thiết như hồi tuần lễ đầu, không còn đố kỵ lẫn ganh ghét ám ảnh nữa.

Sáng hôm sau, An kể cho chúng tôi nghe: "Con rắn đã chui vào tấm nệm của An trước khi hắn đi ngủ. Khi đặt mình nằm, chạm phải con rắn, tuy kinh sợ nhưng hắn không dám động đậy vì sợ rắn mổ, hắn phải nằm im chịu trận cho đến khi tôi gọi hắn và thời gian lúc đó đối với hắn dài như hàng thế kỷ.

An từ chối không chịu nghỉ dưỡng sức thêm, hắn quả quyết là hắn đủ sức làm việc. An làm việc bên cạnh tôi cho tới tối thì chúng tôi nghỉ tay. Tôi trở về chỗ, lấy chiếc máy vô tuyến điện ra liên lạc với cơ quan của tôi. Bây giờ tôi không còn cần phi cơ đến đón chúng tôi về nữa, cả bốn chúng tôi đều muốn ở lại khu rừng này để cùng nhau vui vẻ làm việc cho đến khi hoàn tất công tác, tôi chỉ yêu cầu phi cơ chở thêm đồ tiếp tế để chúng tôi có đủ phương tiện hoàn thành sứ mạng, lần này cũng như mọi lần trước, tôi vẫn mở đầu cuộc điện đàm bằng câu: "Tất cả đều tốt đẹp" nhưng với giọng chân thành hơn phát ra tự đáy lòng.


VĂN VIỆT                   
Phỏng dịch theo truyện           
"Death waits in a sleeping bag"   
đăng trong tạp chí Reader's Digest  

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 32, ra ngày 2-4-1972)
 

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

Hương Xưa

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Em hãy hát bài đồng dao ngày trước
Cho anh quên nỗi phiền muộn bây giờ
Và em hãy nở nụ hoa hàm tiếu
Cho anh uống tròn mộng đẹp làm thơ

Anh đã lớn theo tuổi đời, tuổi chiến
Đã lâu rồi thèm một chút hương yêu
Bao nhiêu năm quên tuổi ngà, tuổi ngọc
Tuổi hoa niên như đã sắp về chiều

Cho anh về làm loài chim nhỏ nhất
Đậu bên bờ yêu thưởng thức hương hoa
Làm trẻ lại tâm hồn khô như cát
Theo chân em tìm ngày cũ đi qua

Em nhớ nhé! Cho anh về tuổi ngọc
Hương mùa xuân! Hương hạnh phúc hương đời
Anh sẽ được tìm ngày xưa đã mất
Sẽ vô cùng yêu một thuở xa xôi.

                              TRẦN HỮU NGHIỄM

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 198, ra ngày 1-4-1973)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>