Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Hàng Cau Quê Ngoại


Buổi chiều, hai bà cháu dắt nhau ra cánh đồng lúa chín. Thằng bé tung tăng chạy bên cạnh ngoại, tay cầm một bọc đậu phộng rang. Ở đây buổi chiều xuống thật chậm. Bầu trời hơi đỏ, hình như là màu tím. Màu tím nhạt bàng bạc khắp nơi, gần mặt trời có những cụm mây đỏ ửng. Màu tím xem cũng buồn, mênh mang như tiếng sóng vỗ mỗi chiều ầm ì vào vách đá. Gió thật nhiều nhưng chẳng có được một con diều như ngày xưa.

Bà ngoại ngồi xuống đám cỏ xanh, thằng bé vẫn chạy nhảy tung tăng. Bà có vẻ buồn, bà cầm một cành lúa dõi mắt nhìn theo thằng bé. Ồ, chiều hôm nay trời đẹp quá. Cậu bé nghĩ thầm. Cậu chạy men theo bờ ruộng đuổi bắt mấy chú cào cào. Thỉnh thoảng có một cành hoa súng nở trên mặt nước. Cậu bé với tay hái.

- Khéo ngã đấy con!

Cậu bé quay lại, cầm cành hoa nhoẻn miệng cười với ngoại. Hương hoa súng ở đồng quê nhẹ nhàng như được ướp mùi lúa, mùi đất ngai ngái của quê hương. Cậu bé chạy mãi, chạy mãi mất hút trong sóng lúa chập chùng. Cậu bé muốn chạy đến chân trời màu tím kia để xem mặt trời cho rõ. Vì ở biển cậu thấy mặt trời nhưng không đến được. Nước mênh mông lội ra ngoài đó nhỡ cá mập ăn thịt sao. Eo ôi! Cậu bé bật cười thích thú với ý nghĩ đó.

Đi hết cánh đồng lúa cậu bé bước chậm lại. Cái gì trông hoang vắng thế kia. Cậu bé le lưỡi. Trước mặt cậu là những bao cát nằm ngổn ngang, có bao bị rách ló đất ra ngoài. Những dây kẽm gai nằm rải rác, trói buộc từng bao cát. Những trụ sắt, vải xanh, vải trắng nằm từng đống. Cảnh hoang vắng điêu tàn như có gì đổ vỡ. Mặc dầu chưa biết rõ những vật đó cậu bé cũng sợ hãi. Cậu rùn vai, những đóa hoa súng héo úa trên tay. Cậu bé vất bừa lên đó rồi chạy về.

Có tiếng ngoại gọi vang vang ngoài kia. Cậu bé thích thú, đi chậm lại. Cậu hái những đóa hoa súng trắng ở bên bờ ruộng bên này. Lạ ghê, hình như một bên toàn hoa tim tím, một bên chỉ có hoa trắng. Lần này cậu bé hái hoa trắng bên phải, những cánh hoa tinh khiết, tươi tắn. Cậu bé định sẽ hù cho bà ngoại giật mình chơi. Trông cậu bé cứ như một chú nai tơ, láu lỉnh, hồn nhiên.

Cậu bé vừa ra khỏi đồng lúa thì nhìn thấy bà ngoại. Bà chạy đến ôm cậu bé vào lòng:

- Con đi chơi xa quá, ngoại tìm con nãy giờ!

- Cháu đi tìm bắt ông mặt trời đấy, ngoại xem mấy cánh hoa này có đẹp không?

- Đẹp lắm, nhưng con không được đi xa nữa nhé.

Cậu bé xịu mặt, nhưng rồi cậu vui vẻ lại ngay. Cậu bé liến thoắng kéo bà ngoại lại ngồi dưới cỏ. Cậu bé nói:

- Ngoại cầm hộ cháu mấy cánh hoa này nhé. Ngoại ơi cháu thấy đằng kia có một vũng nước nhiều cá lắm đó. Ngày mai cháu rủ tụi bạn đến đó câu cá – Nhưng cậu bé bỗng nhớ lại – Mà ngày mai cháu đâu còn ở đây nữa. Buồn quá há ngoại!

Bà nhìn cậu bé cười móm mém. Bà vuốt ve những sợi tóc mềm, âu yếm nhìn cậu bé.

Màu tím ở cuối chân trời không còn nữa. Mặt trời lặn gần đến những bông lúa. Màu tím thật mỏng manh mỗi chiều chỉ đến chút xíu rồi đi ngay.

Cậu bé đã ăn hết bọc đậu phộng. Cậu lại bứt những bông lúa, lột vỏ mút sữa. Lúa chưa chín nên những hạt gạo hãy còn là sữa ngọt, ăn ngọt ngào, thơm lúa. Cậu bé quay lại định khoe với ngoại, cậu bỗng thấy ngoại ngồi buồn thiu. Cậu chạy đến cạnh ngoại. Bà ngoại vẫn vuốt tóc cậu bé như những lúc cậu ngồi bên cạnh. Cậu bé ngây thơ hỏi:

- Mai cháu đi rồi ngoại có ra đây ngồi không hở ngoại? Ngoại có buồn không?

Nụ cười buồn, héo hắt trên môi ngoại:

- Không có con ngoại ra ngoài này làm chi.

- Sao vậy ngoại, chiều ngoại ra đây ăn sữa lúa đó, ngon ghê lắm ngoại à.

Ngoại thở dài:

- Ngoại già rồi mà con.

Biết ngày mai mình đâu còn ở đây nữa, cậu thấy buồn buồn làm sao ấy. Tiếng ngoại:

- Thôi về con.

Cậu bé đứng dậy. Vẫy tay như một buổi chiều mẹ đã dẫn cậu bé ra bãi biển, mẹ cũng vẫy tay như thế:

- Từ giã buổi chiều nhá!

Cậu bé cười với cánh đồng, với màu mây buổi chiều.

Hai bà cháu dắt nhau về. Cậu bé hỏi ngoại:

- Tối nay ăn cơm với gì thế ngoại?

Bà ngoại không nghe rõ nên không nghe ngoại trả lời. Cậu bé nuốt nước bọt tưởng tượng những món ăn đặc biệt chỉ có ở đồng quê, ở quê hương mà thôi.

Buổi tối ngoại ngồi trên cái ghế xưa, cậu bé nằm võng ngoài sân, trăng đêm nay thật đẹp, ánh trăng lọc qua kẽ lá lấp loáng. Những cánh hoa mướp, nở lúc chiều xuống giờ rực rỡ lên. Màu vàng không hiểu vì ánh trăng hay là màu hoa. Hương dìu dịu tỏa rộng. Cậu bé ngạc nhiên vì không thấy trẻ nhỏ vui đùa. Ngày xưa mẹ bảo ở đây những đêm trăng thực là vui. Tiếng chày giã gạo, tiếng trẻ nhỏ ca vang. Cậu bé ráo rức lắm chỉ muốn ra đầy để đùa với bọn trẻ. Nhưng về đây hơn tháng rồi cậu bé chả thấy cuộc vui nào cả. Cậu lớn tiếng hỏi:

- Ngoại ơi sao trời đẹp như vầy mà chẳng có đứa nào đi chơi vậy hở ngoại? Mẹ cháu nói có cả người ta giã gạo nữa mà.

- Tại… tại… Mà thôi con đừng nghĩ làm gì.

Cậu bé thắc mắc, nhưng rồi vui lại ngay vì dì Út vừa mang dĩa kẹo đậu phộng ra, kẹo ngọt, dẻo dính cả răng, thơm đậu rang. Cậu bé nằm nhai một cách thích thú. Trong đêm, hương thơm quyến luyến quanh nhà. Nghe như có mùi thiên lý, mùi hoa mướp, mùi lúa chín, hương hoa cúc hương, và mùi đất quê hương. Cậu bé thở khoan khoái và ngủ say lúc nào.


Sáng sớm không có tiếng chim hót vang ngoài bụi chuối. Không có tiếng gà gáy. Bầu trời ẩm đục, lưa thưa những vì sao. Ngoại đánh thức cậu bé sửa soạn đi. Cậu bé luyến tiếc khi xa, biết bao giờ mới trở lại.

Buổi sáng không có bóng người vác cuốc ra đồng lũ lượt như trong sách tập đọc của cậu bé. Buổi chiều không có tiếng sáo diều, mục đồng ngồi trâu thổi sáo và không có khói lam chiều nhà ai thổi cơm. Quê hương chỉ còn là huyền thoại xa xưa. Cậu bé thấy buồn.

Hai bà cháu ra khỏi nhà trời còn mờ mờ. Vần trăng nhợt nhạt trên bầu trời. Cậu bé quay lại nhìn giàn mướp đầy trái, nhìn hàng cau im lìm trong sương. Nhìn lần cuối! Hình như ngoại khóc, cậu bé thấy ngoại đưa khăn trên đầu lau nước mắt! Con đường làng rộng thênh thang vắng bóng dân làng. Những hạt sương vẫn đời đời đọng trên cỏ vào mỗi sáng. Cậu bé thấy những chiếc lá mục nát bên lề đường. Bà ngoại không nói gì nhưng ngoại buồn lắm, cậu bé biết thế.

Đến bến đò thì vừa hừng sáng. Ở đây có một chiếc thuyền nhỏ đang chờ khách bên kia sông. Ngoại kéo cậu bé ngồi xuống đất, nhắn nhủ:

- Lên đó ráng học nha con, cho ngoại gửi thăm ba mẹ mày nghe!

Rồi ngoại khóc, ngoại nhét vào túi cậu bé tiền đi đò:

- Cầm tiền này đi xe, nhớ nhà cậu Bảy ở gần bến xe không con. Qua đó rồi cậu Bảy dẫn về với ba mẹ.

Ngoại sụt sùi khóc. Cậu bé thấy lòng mình nao nao:

- Thôi cháu không về đâu, cháu ở đây với ngoại.

- Đâu được, con phải về đi học nữa cơ mà. Nghe lời ngoại nhé.

Chiếc đò đã sang đến giữa dòng. Ngoại soạn lại những món quà quê hương đựng đầy giỏ. Đò cập bến, bà ngoại bảo cậu bé:

- Thôi, con đi đi.

Cậu bé lưu luyến:

- Con đi nha ngoại!

Cậu bé định cười nhưng thấy ngoại lấy khăn chậm nước mắt, cậu thấy mắt mình cay cay. Rồi cậu  bé cũng vô tư như thường, thò tay nghịch nước sông buổi sáng.

Qua đến bên kia bờ, cậu bé còn thấy ngoại đứng yên. Rồi ngoại quay về, bóng áo nâu mất hút trong cỏ mịt mùng.

Cậu bé lên xe xuống nhà cậu Bảy. Bên kia sông lúc này sương như nhiều hơn. Cậu bé nghĩ thầm, sao lạ thế, lúc này sao còn sương xuống. Bến đò bên kia nhòa dần.


Một ngày mù sương đã xa hẳn trong trí nhớ. Quê hương huyền thoại giờ nát tan hơn xưa, xóa nhòa trong trí Hải. Hơn 6 năm còn gì. Hải (cậu bé ngày xưa) vẫn nhớ khuôn mặt hiền lành, miệng móm mém nhai trầu, tóc bạc phơ của ngoại.

Trong những năm đầu còn liên lạc với cậu Bảy, Hải biết tin ngoại. Hẳn ngoại tưởng Hải còn bé lắm nên thường gửi những món ăn quê mà Hải rất thích. Từ hơn 2 năm nay chẳng thư từ cho cậu Bảy được. Hải bỗng lo sợ, nó nghĩ nhỡ ngoại có chuyện gì.

Nhiều lần xin về thăm ngoại nhưng ba không cho, ba bảo hải còn bé. Bé? Mình lớn rồi kia mà. Mình 13 tuổi rồi mà. Hé này Hải nhất định phải về nên nó xin ba hoài. Này nhé. Hải cuối năm lĩnh thưởng hạng nhất nhưng không chịu nhận cây bút máy ba tặng. Thế là ba còn nợ Hải một món và Hải đề nghị ba cho về quê ngoại. Ba cười thằng bé khôn quá, nhưng về dọc đường nguy hiểm lắm con à. Hải xịu mặt chực khóc. Mẹ an ủi Hải và mẹ thuyết phục ba được. Thế là Hải được đi. Ngày mai khởi hành. Bây giờ lớn rồi nên Hải đi một mình. Ngày mai. Hải nghĩ đến ngày mai. Một sớm mai hồng đầy hy vọng.

Hải vềề đến nhà cậu Bảy lúc trưa. Bước vô nhà, nó cảm thấy ấm áp như đã về đến nhà ngoại. Ngồi nhắc lại những kỷ niệm về ngoại Hải thấy nhớ hơn. Cậu Bảy tròn mắt nhìn Hải ngạc nhiên. Cậu thở dài và lặng yên nghe Hải huyên thuyên kể. Khi nghe Hải định về, cậu can:

- Cháu về đó làm gì nữa, đường sá mất an ninh. Làng mạc buồn thiu, vắng hoe không biết về có đến nơi không nữa mà về.

- Thế ngoại cháu vẫn còn ở chỗ cũ hở cậu?

Cậu Bảy cười chua xót. Nụ cười gượng gạo làm sao. Cậu đáp hờ hững:

- Ừ, vẫn vậy thôi…

- Dì Út có còn ở chung với ngoại không? Cháu nhớ ngày đó ngoại hay khóc vì dì Út đòi đi nơi khác.

Cậu Bảy gật đầu. Hình như cậu không muốn nghe Hải nói nữa. Hải mỉm cười. Người lớn vẫn vậy, họ không muốn nghĩ đến dĩ vãng. Cậu bảo:

- Thôi cháu đi tắm rửa rồi ăn cơm. Để mai hãy hay.

- Đâu được cậu, cháu phải về ăn cơm với ngoại chứ. Cháu nhớ canh mướp của ngoại ghê.

Mặc cho cậu Bảy cản, Hải xách va ly chạy ra bến xe. Cậu Bảy chạy theo, cậu đứng nhìn Hải buồn bã. Cậu thở dài quay vào nhà. Hải cười thầm, lúc này cậu Bảy làm sao ấy.

Con đường này 6 năm trước Hải đã đi vào một sáng tinh mơ. Bây giờ thay đổi nhiều. Ngày xưa đã có lần hải mơ ước một căn nhà xinh xắn như căn nhà bên đường. Căn nhà giờ vẫn còn nhưng lạ quá. Hàng rào ngả nghiêng, mái ngói vỡ nát. Những đóa hoa bìm bịp dại mọc khắp nơi. Hình như không còn ai ở. Cỏ dại mọc cao che lối vào. Chả thấy vườn hoa đẹp ngày nào. Hải chợt thấy xót xa, chẳng dám nhìn hai bên đường nữa. Vì đâu còn hình ảnh ngày xưa, cứ để cho trí óc nghĩ đến con đường thực đẹp còn hơn.

Đến bến đò Hải bước xuống với ngỡ ngàng. Còn sớm nhưng chợ vắng hoe. Vài quán tạp hóa nghèo nàn, buồn tênh. Chẳng thấy con đò nào cả. Sao lạ vậy nhỉ. Hải lẩm bẩm. Giòng sông vẫn chảy mang nước đục ngầu. Bến sông bên kia cỏ dại mọc đầy, chẳng còn dấu tích xưa. Lúc này, trí nhớ nổi dậy. Hải nhớ từng phiến đá ở bực sông, từng thân cây đa già. Nó mím môi, hình như nước mắt sắp trào ra rồi đó.

Hải lại hỏi một người bán tạp hóa:

- Dạ… bác cho cháu hỏi thăm chút.

- Gì vậy cậu?

Hải ngập ngừng:

-Sao không có chiếc đò nào sang bên kia sông hở bác?

- Trời đất, cậu không biết gì sao? Bến đò này bỏ hơn hai năm rồi đâu có ai qua bên đó làm chi.

Hải run giọng:

- Tại sao vậy, hả bác?

- Ghê lắm cậu ơi. Hôm đó ở đâu mấy chiếc máy bay đến nó thả bom quá chừng. Tui đứng đây coi thấy ghê luôn. Nó chao xuống thả mấy trái nổ ầm ầm, khói bay mù mịt. Rồi từ đó đến giờ đâu có ai qua bển làm chi, mà bên đó cũng chẳng còn ai nữa.

Ngỡ mình nghe lầm, nhưng rõ ràng như vậy mà. Hải lặng người, nước mắt chảy ướt mặt. Chợt Hải nhớ đến cử chỉ của cậu Bảy. Thôi rồi chắc ngoại không còn nữa. Hải ra gốc cây cạnh giòng sông. Bên kia chỉ có cỏ um tùm. Đâu thấy hàng dừa ngả bóng bên sông. Không biết ở bên đó ngoại nằm yên nơi nào. Hay là bom đạn đã vùi ngoại dưới mái tranh. Cố nhìn sông Hải cũng chỉ thấy lờ mờ. Chỉ thấy màu xanh của cỏ dại, đâu còn màu xanh của lúa, của dừa, của giàn mướp nhà ngoại. Ngoại ơi, cậu bé ngày xưa tìm về đây thì ngoại không còn. Tìm về một chân trời quê hương thanh bình mà không thấy được. Quê hương ngợp hương lúa thơm nồng, ngọt ngào câu ca dao thanh bình há ngoại? Ngoại có mơ ước như thế không? Nhưng ngoại không bao giờ nhìn thấy được! Bây giờ con phải nhìn hàng cau gãy vì đạn, cây cau nhà ngoại oằn oại gãy, tàu lá như những sợi tóc rũ xuống. Hình ảnh quê hương mình đó ngoại ơi!

Ba mẹ vẫn thường cầu nguyện luôn, ngoại hãy phù hộ cho mơ ước chóng thành, ngoại nhé…

Thất thểu Hải bước ra bến xe để về nhà cậu Bảy. Bước lên xe, lòng nó nhen nhúm một nỗi buồn giờ lan rộng. Bên kia sông hàng cau ngả nghiêng trong gió. Chỉ có một cây độc nhất bên đó. Nó nghiêng như sắp gãy. Hải nghĩ thầm, chắc là nó buồn lắm thì phải…


TRẦN HỮU NGHIÊM  
(bút nhóm hoa nắng)   


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 22, ra ngày 20-3-1972)

Hình bìa : Trong ánh mặt trời

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Vịnh Hai Bà Trưng

Bìa của Vi Vi : Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa































Giúp dân dẹp loạn trả thù mình,

Chị rủ cùng em kết nghĩa binh.

Tô Định bay hồn vang một trận,

Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.



Mới dày bảo vị* gia ơn trọng,

Dã đội, hoa quan xuống phúc lành**.

Còn nước, còn non, còn miếu mạo,

Nữ trung đệ nhất đấng tài danh.

                 
            HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP

----------------------------
* Bảo vị : lên ngôi

** Thời Lý Anh Tông một năm bị đại hạn, nhà vua sai đến đền Hai bà cầu đảo quả được mưa.


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 87, ra ngày 15-3-1968)

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Học Sử















"Bà Trưng quê ở Châu Phong..."

Bé vừa nói sõi, ngồi lòng học thơ

Ôm con, mẹ đã ngâm nga

Những vần thứ nhất bao giờ con quên,

"Hồng quần nhẹ bước chinh yên..."

Những vần Quốc sử con đem vào đời

Rồi thường khi ngắm mây trôi

Thấy hình Thánh Nữ cưỡi voi đuổi Tầu.

                                    TRẦN THỊ TUỆ MAI

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 123, ra ngày 1-4-1974)


HAI BÀ TRƯNG

Bà Trưng quê ở Châu Phong

Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên

Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền Tướng quân

Ngàn Tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.

Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta

Ba thu gánh vác sơn hà

Một là báo phục, hai là bá vương

Uy danh động đến Bắc phương

Hán sai mã Viện lên đường tiến công

Hồ Tây đua sức vẫy vùng

Nữ nhi chống với anh hùng được nao

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo

Chị em thất thế phải liều với sông

                                   (Quốc Sử diễn ca)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Cùng Soi Lại Gương Hai Bà Còn Sáng Chói Ngàn Thu




CÁI CHẾT CỦA THI SÁCH, GIỌT NƯỚC LÀM TRÀN LY CỦA TRÙM THAM NHŨNG TÔ ĐỊNH

LỰC LƯỢNG CỦA HAI BÀ ĐÔNG TỚI 6 VẠN NGƯỜI

LỜI THỀ CỦA HAI BÀ KHI PHẤT CỜ KHỞI NGHĨA

QUÉT MỘT HƠI, 65 THÀNH TRÌ RƠI RỤNG NHƯ LÁ MÙA THU


Thái Thú Tộ Định trùm tham nhũng đất Giao Chỉ

Cuộc đảo chính của Tể tướng Lữ Gia, lật đổ triều đình Triệu Ai Vương và xử tử Cù Thị Thái Hậu (đã tư thông với An Thiếu Quí, sứ giả của nhà Tây Hán) đã xảy ra trong chớp nhoáng. Nhưng chế độ mới của Triệu Dương Vương cũng không kéo dài được quá một năm. Nhà Triệu đã bị tiêu diệt để mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Lấy được Nam Việt, nhà Hán thiết lập một cơ cấu hành chánh mềm dẻo: các lạc hầu, lạc tướng nhà Triệu vẫn được giữ nguyên, nhưng đặt dưới quyền điều khiển của quan Thứ Sử, toàn là người Trung Quốc. Có nhiều quan Thái Thú là người tốt như Tích Quang, Nhâm Diên, nhưng cũng có lắm kẻ tham nhũng cỡ chúa trùm như Ích Xương, Tô Định.

Tô Định là Thái Thú quận Giao Chỉ, kẻ được bổ nhiệm sang thay Tích Quang. Người đi chưa hết tiếng khen, kẻ tới đã biểu lộ bộ mặt tham nhũng hạng bự, vừa tham tàn, vừa hiếu sát, trong mấy năm đầu đã gây ra bao nhiêu sự bất mãn làm môi trường nẩy mầm tốt đẹp cho lực lượng cách mạng vùng lên. Nhân vật lãnh đạo cách mạng là một Huyện lệnh có nhiều uy tín ở Châu Diên, thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên ngày nay.

Đó là ông Đặng Thi Sách, con rể của quan Lạc Tướng huyện Mê Linh, làng Hạ Lôi, tỉnh Phúc Yên, chồng bà Trưng Trắc, anh rể bà Trưng Nhị. Lực lượng cách mạng lên tới 6 vạn người. Thi Sách thoạt tiên chủ trương cách mạng ôn hòa để tiết kiệm xương máu.

Ông chỉ viết một lá thư với lời lẽ đanh thép, lên án gắt gao chính sách cầm quyền của Tô Định, cảnh cáo nặng nề chủ trương tham nhũng, hiếp bóc dân lành và báo động một cuộc chiến tranh khởi nghĩa nếu Tô Định không chịu thay đổi đường lối của mình.

Tô Định trả lời lá thư tuyên chiến này bằng cách thừa lúc sơ hở, đem quân vây bắt Thi Sách rồi chém đầu gọi là để làm gương. Ly nước đã đầy, hành động đó như một giọt nước cuối cùng làm tràn ra khỏi miệng.

Lực lượng cách mạng nhất quyết vùng lên. Người cầm đầu chính là Bà Trưng Trắc, với bốn lời thề gởi hào kiệt bốn phương:

1) Thề khôi phục nghiệp lớn của giòng Lạc Hồng.

2) Thề trả thù cho Thi Sách.

3) Thề giết kỳ được Tô Định.

4) Thề ai có công to thì gả em là Trưng Nhị cho.

Lời kêu gọi của hai bà được các đảng nghĩa dũng hưởng ứng nồng nhiệt. Kiểm điểm thấy gồm có đảng của bà Nguyễn Đào Nương, đảng của ông Cao Doãn, đảng của ông Trương Quân, đồng thời các đồng chí của Thi Sách ở các vùng lân cận như Đông Sàng, Liên Chiểu, Phù Sá cũng đem quân trợ giúp rất nhiều. Lực lượng cách mạng lên tới 6 vạn người.


Cờ vàng oai dũng trong biển máu

Mặc dù hãy còn đại tang, Hai Bà không hề tị hiềm mà trang sức vô cùng lộng lẫy (để tạo uy thế và đánh trúng tâm lý khiếp nhược của đối phương). Hai Bà cỡi voi trên bành vàng, che lọng vàng, bận áo giáp vàng, phất cờ vàng tiến quân đánh thẳng vào Liên Lâu Thành là trụ sở của Tô Định, đuổi quân tướng Trung Hoa về Tầu, rồi thừa thắng xông lên, tiến quân ào ào như thác lũ, khí thế mạnh mẽ như chẻ tre. Quân cách mạng đi đến đâu, dân chúng hưởng ứng nhiệt liệt tới đó, và với chiến thuật tốc chiến tốc thắng, Hai Bà đã chiếm một hơi 65 thành trì, đem giang sơn Việt thâu gồm một mối, chấm dứt cuộc nô lệ phương Bắc đã kéo dải đằng đẵng trên một trăm năm dưới ách thống trị của nhà Hán.

Năm đó là năm 40 sau Tây lịch kỷ nguyên.

Hai Bà thắng trận xong, liền xưng Vương và đóng đô ở Mê Linh. Việc triều chính chưa kịp lo sắp xếp ổn định, thì mùa đông năm sau (41 sau Tây lịch), vua Hán Quang Vũ sai một Thượng Tướng Trung Hoa là Mã Viện (tức Mã văn Uyên) lúc đó đã bảy chục tuổi, đầu bạc trắng nhưng kinh nghiệm chiến trận rất dồi dào, lãnh hai chục ngàn quân qua N.V. lại huy động hàng vạn dân phu phá rừng, mở núi để tiến sang.

Cuộc chiến tranh kéo dài tới hai năm liền với những trận đánh rất anh dũng từ đồng bằng lên miền núi, từ cực Bắc của lãnh thổ đến cực Nam quận Nhật Nam. Nhưng rút cục, vì bộ đội mới thành lập, ít được tôi luyện và trang bị kỹ càng; lại thêm quân Hán vừa tinh nhuệ vừa đông đảo nên Hai Bà thất thế phải lui về Cấm Khê thuộc tỉnh Phú Thọ, rồi trầm mình trên dòng sông Hát (1 nhánh của sông Nhị) vào giữa ngày mồng 6 tháng 2 năm Quí mão (năm 43 dương lịch). Theo lời dân chúng thì ngọc thể của Hai Bà trôi về bãi Đồng Nhân gần Hà Nội, nên ở đấy cho đến nay vẫn còn có đền thờ Hai Bà, và cả nước ta ai ai cũng ghi nhớ ngày 6 tháng 2 là ngày trọng đại trong lịch sử dân tộc.


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 30, ra ngày 19-3-1972)


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>