Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

CHƯƠNG VII_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG VII


Khách đã ra về. Khép cửa lại, Diệu cúi đầu suy nghĩ. Vừa rồi, trong khi đối đáp, tuy ngoài miệng nói cứng nhưng trong bụng không ngớt phập phồng. Đã đành mẹ già giống như ngọn đèn trước gió làm sao sáng tỏ mãi được, song phận làm con có bao giờ nỡ để cho ngọn đèn bỗng dưng phụt tắt.

Vì thói quen phản ứng rất nhanh, ông quay phắt người lại khi nghe một tiếng động kín đáo nơi cửa ra vào. Nét mặt đăm chiêu của con người thua trận đột nhiên rạng rỡ hẳn lên.

- Dũng đấy hả, con? Chúng nó giam mẹ ta và con ta ở đâu? Chú Đồng về chậm quá hay sao mà không cứu kịp?

Vừa hỏi dồn dập bằng một giọng ôn tồn trái ngược hẳn với một tâm hồn nát ngướu, vừa dịu dàng đỡ chàng trai đang độ lớn quì mọp và khóc rũ ở dưới chân.

- Con trai, ai lại khóc thế! Người ta cười chết… Thôi đầu đuôi câu chuyện ra sao, nói mau cho ta nghe đi.

- Bẩm chú Đồng đưa tin ông bà bị bắt về, cụ buồn lắm. Nhưng cụ nhất định không chịu lánh vào Gia Định như ý ông bà muốn. Cả cô Bạch Liên cũng thế.

Thấy Dũng ngập ngừng, Diệu khuyến khích:

- Có điều chi khó nói hả? Cứ kể hết ra đi, ta không trách cứ đâu mà sợ.

- Dạ. Từ bé, con chưa thấy cụ nổi giận bao giờ. Hôm ấy mới thấy cơn lôi đình của cụ là một. Cụ mắng chú Đồng như tát nước vào mặt: “Chú đã từng cầm quân đánh giặc, sao khi chủ tướng sa cơ, chú không lập mưu đánh tháo cho chủ? Chạy về đây làm chi cho mất thì giờ?…”. Cụ sỉ vả luôn cả ông bà nữa…

- Ờ, cụ mắng vợ chồng ta thế nào?

- Cụ than: “Cả vợ chồng nhà Diệu cũng là một lũ vô mưu. Chưa chi đã chịu thua non! Sao không kiếm cách thoát thân để rồi đánh tháo cho vua Cảnh Thịnh? Thua keo này bày keo khác. Lo lắng đến ta làm gì cho mất công. Chúng nó không biết rằng ta đây là một con cờ không cần phải giữ hay sao? Kẻ kia dù muốn triệt ta, cũng không dám giết vì còn phải giữ gìn tai tiếng. Lo cho ta là một việc tối vô ích. Đồ ngu! Mấy đứa bây toàn là một lũ ngu!

- Rồi sao nữa?

- Chú cháu con còn đang phân vân chua biết tiến lui thế nào cho phải thì có tin cấp báo: giặc sắp đổ vào bao vây làng để bắt hai bà cháu. Cụ giục chú cháu con phải thoát đi ngay và phải lo cho ông bà thoát nạn, chứ cụ dù bị bắt tính mệnh vẫn vững như bàn thạch.

- Còn con gái ta sao?

- Bẩm, cô Bạch Liên tuy nhỏ tuổi mà gan dạ phi thường. Cô nhất quyết không chịu chạy trốn để sống lấy một mình. Cô thích gặp ông bà để cùng ông bà cùng chết.

- Bộ nó không nghĩ đến bà nội trơ trọi một mình trên trần thế hay sao?

- Dạ có, cô ân hận không thể sống để thay ông bà phụng dưỡng cụ cho đến khi trăm tuổi.

- Hiện chúng nó giam mẹ và con ta ở đâu? Đối đãi ra sao?

- Bẩm, chúng dùng nhà Cung Quán làm nơi tạm giữ. Ở đó, có người ngoại quốc ra vào, chúng phải giữ thể thống để tránh tai tiếng nên cụ và cô Bạch Liên không bị ngược đãi.

- Còn vợ ta? Có làm cách nào đưa tin cho vợ ta được không?

- Bẩm, bà bị giam ở trại Võ Lâm. Nhờ có nhiều người thương tình giúp đỡ, thím Đông đã vào lọt trong ấy và đã được gặp bà.

- Bà có nhắn bảo gì không?

- Thưa, bà chỉ nhờ mua giùm cho bà mấy chục thước lụa.

- Đã mua chưa?

- Thưa đã. Nhận được súc lụa, bà cảm ơn và cười nói vui vẻ lắm.

- Ờ!

- Con không biết lúc này bà sắm lụa làm gì. Bà có vẻ coi như là việc hệ trọng lắm.

- Hệ trọng lắm chứ, con. Con chưa va chạm với đời nhiều nên chưa hiểu được lòng dạ con người có thể độc ác đến mức nào. Vậy ta giảng rõ cho con nghe. Ngoài đức vua Quang Trung ra, chỉ có vợ ta là người cầm quân vây khốn chúng trong nhiều trận lớn khiến chúng bị bao phen sợ hãi mất mật. Cho nên chúng thù ghét bà ấy vô cùng. Nay có dịp, thế nào chúng cũng bày ra những trò man rợ hành hạ bà ấy cho bõ tức.

Dũng thấy choáng váng mặt mày, la lên:

- Trời ơi! Làm sao bây giờ ?

- Không sao, Bà đã có cách gỡ rồi. Trong các cực hình của chúng, có cái trò voi giầy là dã man nhất. Nó tung người lên trên không rồi đưa cặp ngà nhọn hoắt ra hứng lấy, rồi lại tung lên, cứ như thế vài ba bận là quần áo rách nát hết. Khi nó lấy chân to bằng cái cột nhà giầy xéo lên người thì thế nào thân thể cũng bị lõa lồ hết. Để tránh cái cảnh khó coi ấy, bà dùng lụa quấn chặt khắp người. Voi có thể quật chết được bà, nhưng không ai có thể làm cho bà xấu hổ được.

- Dạ, con hiểu. Nhưng chẳng lẽ tài giỏi như ông bà lại đành bó tay chịu chết như vậy hay sao?

Viên hổ tướng họ Trần thở dài:

- Thì biết làm sao được? Trời đã không tựa nhà Tây Sơn thì tài ba đến mấy cũng bằng thừa. Hiện giờ, chắc chúng nó vây bọc bốn phía chung quanh như tường đồng vách đá, mà vợ chồng ta thì một tấc sắt trong tay không có.

Dũng cúi xuống loay hoay trong giây lát lôi ra một ngọn trủy thủ giấu trong chiếc bao da cột dọc ống chân. Y hai tay nâng đao đưa cho chủ:

- Bẩm, đây là một thanh đao báu chém sắt như chém bùn. Một tráng sĩ mới quen ở dọc đường cho con mượn để giúp ông làm nên việc lớn.

Họ Trần ngắm nghía hồi lâu, tấm tắc khen;

- Ồ, nước thép xanh biếc, hơi toát lạnh rợn người, quả là một con dao quý. Nhưng ta không muốn chém giết nữa, con giữ lấy mà dùng, tốt hon.

Trước sự ngạc nhiên của chàng trai trẻ, vị danh tướng trải trên trăm trận ngậm ngùi cắt nghĩa:

- Cứ như tài sức của vợ chồng ta thì với ngọn trủy thủy sắc bén này chúng ta có thể thoát thân một cách dễ dàng. Nhưng khó lòng mà cùng một lúc cứu nổi mẹ và con ta. Muốn giải thoát cho vua Cảnh Thịnh và hai vị hoàng thân lại càng khó khăn thêm một từng nữa.

- Bẩm, con nghĩ các việc ấy để sau lo dần dần cũng được.

- Không được đâu, con. Vì một khi vợ chồng ta chạy thoát, họ sẽ trả thù ngay tức khắc. Việc đầu tiên họ sẽ làm là đem mổ thịt mẹ ta, con ta và anh em vua Cảnh Thịnh, một là để vợ chồng ta phải ân hận suốt đời vì tham sống mà để mẹ già chết thảm. Hai là để ta mất đất dung thân vì không còn danh nghĩa để tung hoành nữa. Anh em vua Cảnh Thịnh không còn thì lấy ai mà dựng lại nhà Tây Sơn cho được?

Dũng rụt rè tranh luận với thầy:

- Nhưng theo như cụ và ông suy luận thì họ không dám gia hại cụ cơ mà.

Quang Diệu cười buồn:

- Đó là nói trường hợp họ diệt xong vợ chồng ta rồi và cởi bỏ được mối lo tâm phúc. Trái lại nếu vợ chồng ta còn vùng vẫy, không khi nào chúng để mẹ ta yên. Đến người chết rồi họ còn dám đào mả lên, thử hỏi họ sợ gì mà không giết một bà cụ già 80 tuổi?

Giọng nói của ông mỗi lúc một ngùi ngùi:

- Vợ ta đã nhờ mua lụa, tức là đã quyết chí không cưỡng lại số trời nữa rồi đấy. Ta cũng nghĩ như vậy là phải.

Uất ức, Dũng liều mạng cãi hăng hơn:

- Nhưng ngộ số trời chưa dứt thì sao? Biết đâu một cuộc cướp pháp trường lại không là thượng sách?

Quang Diệu trợn mắt gằn giọng hỏi:

- Cướp pháp trường? Ai xúi con làm việc dại dột ấy?

Dũng vừa sợ vừa tức, vừa ngạc nhiên trả lời, tiếng nói nghe như có đượm nước mắt:

- Con và chú Đồng bàn nhau chỉ còn mỗi một cách ấy mới cứu vãn được. Có nhiều người tự ý giúp chúng con. Chẳng hạn như cái anh không quen biết cho con mượn con dao báu.

- Biết rồi! Họ là những người có lòng, họ thương ta và muốn cho ta sống. Trái lại, có những người ghét ta và muốn cho ta chết. Nhưng số đông đi xem pháp trường là những kẻ không thương mà cũng chẳng ghét. Họ kéo nhau đi xem xử như xem đóng một tấn tuồng. Nếu chẳng may xảy ra một trường chém giết thì chỉ những người chất phác và vô tội ấy là bị thiệt thòi nhiều nhất. Ta không nỡ để vì ta mà nhiều người phải chết oan. Ta cấm ngặt con và chú Đồng hoặc bất cứ ai làm việc ấy. Nghe rõ chua?

- Bẩm, con xin tuân lệnh.

Thấy thằng bé đứng tiu nghỉu cũng tội nghiệp, Diệu thân mật vỗ vai an ủi:

- Thanh đao ngắn ấy là một vật báu, con giữ lấy mà dùng. Thế nào chả có lúc nó được việc.

- Vâng, con sẽ dùng nó thật đúng chỗ.

- Ờ, thế thì tốt… À, ta có việc này muốn nhờ con.

Dũng mừng rỡ:

- Dạ dạ. Ông cứ sai, dù khó khăn thế nào, con cũng cố làm cho kỳ được.

- Chả có gì khó khăn đâu. À, con đóng vai kẻ ăn người làm “Ở cửa tiền quân” chắc phải đóng luôn vai một tên không biết chữ đấy chứ?

- Dạ.

- Vậy tốt. Con cầm lấy mảnh giấy này nói là nhặt được khi thấy ta say rượu ngủ quên và để rơi xuống đất. Con phải mang về nộp vì không hiểu giấy gì. Có thể đó là giấy tờ quan trọng…

Dũng còn ngẩn ngơ chưa hiểu. Ông Diệu mỉm cười bảo:

- Con cứ mở ra đọc khắc rõ.

Dũng liếc mắt qua mấy hàng chữ vắn tắt.

- Bẩm, có phải đây là bút tích của ông Võ Tánh không ạ?

- Đúng rồi. Trước khi nhảy vào lửa ở lầu Bát Giác, Tánh gửi cho ta lá thư này xin ta tha mạng tất cả các tướng sĩ dưới quyền y. Hà hà hà!… Hà tất phải xin! Ta đâu phải là một con người khát máu.

Dũng đánh bạo hỏi:

- Nhưng con không hiểu ông định chuyển thư này đến tay ông Thành để làm gì?

- Để ông ấy có cớ mà thức tỉnh lương tri của người có quyền cao hơn ông ấy trong trường hợp kẻ này nhất định “muốn nhổ cỏ, phải nhổ cho hết rễ“, dù đó chỉ là một cái rễ quá già không thể làm hại gì được ai cả.

- Dạ, con hiểu. Và biết đâu nhân dịp này, cái rễ non và yếu ớt cũng được để lại.

Diệu cười chua chát:

- Ta chắc không có cái may mắn hiếm hoi ấy đâu. Kẻ kia là một con người đa nghi, nhẫn tâm và hiếu sát. Không bao giờ y có thể để sống sót một người như con gái ta.

- Một cô gái ngây thơ, vô tội, thùy mị, yếu đuối vô cùng.

- Nhưng lại vô cùng thông minh mới chết chứ!

- Thưa, cô Bạch Liên chỉ thích cứu giúp mọi người. Đặc biệt là không ưa võ nghệ.

- Cái đó, chắc y đã biết. Nhưng y không tin đâu cũng như vô số người đã không tin vì như ta đã nói, y rất đa nghi. Thế nào y cũng cho rằng đó là một chuyện giả trá để che mắt thiên hạ. Và kế hay nhất để khỏi lo lắng về sau là diệt trừ phứt đi cho rồi. Bé Bạch Liên sẽ cùng chung số phận với vợ chồng ta là vì lẽ ấy.

- Vậy thì tội nghiệp cho em con quá!

Dũng kêu lên, giọng ướt đẫm nước mắt. Rồi âm thầm than thở:

- Và cũng tội nghiệp luôn cho con nữa. Con yêu em Bạch Liên hơn cả mạng sống của con.

- Ta biết. Từ ngày thầy con, một người bạn quí của ta, mất đi, vợ chồng ta coi con như con đẻ và định sau này gầy dựng cho con. Nhưng bé Bạch Liên có tướng lạ lắm. Dường như là một nàng tiên bị đày xuống trần một thời gian ngắn rồi lại được trở về trời… Không phải là một người thường lớn lên sẽ lấy chồng sinh con đẻ cái như muôn nghìn người con gái khác đâu.

- Vâng, vâng, con cũng cảm thấy điều đó. Nàng chỉ thương con như thương một người anh ruột. Tuy nhiên, con chỉ muốn chết cùng nàng một ngày và được chôn chung một huyệt.

Người cha đáng thương gạt phắt đi cái ý nghĩ bi thảm ấy:

- Không nghĩ bậy như thế được. Con còn mẹ già ở nhà phải phụng dưỡng. Còn chí tang bồng một người con trai. Ngoài ra ta còn muốn nhờ con sau này trông nom giùm mẹ già của ta nữa.

- Dạ, dạ.

- Còn một điều này cũng quan trọng không kém. Vợ chồng ta khi đã về trời, thân xác ra sao cũng mặc. Nhưng em nó còn tinh khiết quá, không thể để thi hài bộc lộ được. Vậy con phải sống để lo cho em một nấm mồ ở một nơi cao ráo sạch sẽ. Chung quanh có bóng mát hương thơm càng tốt.

- Vâng. Con xin nghe lời ông chỉ dạy. Nhưng, một ngày kia, nếu có dịp thế nào con cũng kiếm cách trả mối thù này.

Dũng gạt nước mắt bước ra, cố dọn một bộ mặt thật tươi tỉnh để viên giám mục khỏi nghi ngờ.

Chàng tất tả trở về phủ Tiền Quân, lòng náo nức mong vị võ tướng này khéo nói xin được cả cho Bạch Liên khỏi chết.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VIII
 

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

CHƯƠNG VI_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG VI


Tiếng khóa, tiếng xích sắt khua rổn rảng lôi kẻ sa cơ ra khỏi cơn mộng. Cửa ngục mở toang, viên giám ngục chạy vào khoanh tay báo:

- Bẩm, có quan Tiền quân muốn xin vào ra mắt.

- Vậy hả? Phiền ông mời vào.

Một viên võ tướng mặt trắng râu dài ba chòm đen nhánh, dáng dấp phong lưu, thong thả bước vào, vái chào rất lịch sự:

- Quan Thiếu Phó lâu nay vẫn được mạnh giỏi đấy chứ?

Vị danh tướng họ Trần khét tiếng một thời, nghiễm nhiên đáp:

- Cám ơn! Cám ơn ông Tiền quân, tôi vẫn được… bình an. Chả mấy khi được ông dời gót ngọc tới thăm, tôi vì bận tay vướng chân không tiếp đón theo lễ nghi chủ khách được, xin ông miễn trách cho nhé.

- Ủa!

Làm bộ ngạc nhiên, người tới thăm lớn tiếng gọi viên giám ngục vào sai mở trói cho ông chủ để ông tiếp khách cho thoải mái.

Nguyễn văn Thành, tên vị khách quý, nói như tâm sự với người tử tội:

- Ông với tôi, chúng ta quen biết nhau kể cũng đã khá lâu. Đánh nhau cũng đã nhiều trận, nhưng chưa có lúc nào nói chuyện với nhau được quá ba câu…

Trần Quang Diệu cười ha hả tiếp lời:

- Ba câu trao đổi với nhau khi đối trận đâu có phải là những lời nói dễ nghe, phải không ông? Hôm nay ngày xuân mát mẻ, việc quân nhàn rỗi, chắc cuộc đàm đạo có thể được vững bền hơn… Ông quá bước tới chỗ tối tăm ngột ngạt này, hẳn có điều chi dậy bảo?

- Vâng. Tôi muốn thưa với ông vài lời quan trọng. Kẻ nói cũng như người nghe đều cần suy nghĩ chín chắn. Bữa nay thư thả giá ông vui lòng uống với tôi vài chén rượu thì hay biết mấy. Ông liệu xem có thể được cùng chăng?

- Được, được. Được lắm chứ. Chả mấy khi được ngồi đối ẩm với “Tướng quân hay rượu”. Chà chà! Chắc chắn là được uống rượu ngon?

- Vâng. Rượu chính tay tôi cất lấy. Và cũng chính tay tôi hạ thổ đủ một trăm ngày.

Quang Diệu nhích mép cười châm biếm:

- Bữa tiệc hôm nay thú vị nhất ở chỗ chúng ta có thể phóng tâm mà uống cho thật say. Không còn có chi phải lo ngại nữa.

Lời nói bóng gió của con người tế nhị thoáng qua thật nhẹ nhàng nhưng vẫn đủ làm cho kẻ đối thoại, tế nhị không kém, phải đỏ mặt. Cái mưu mẹo thấp hèn của tên Tuệ làm xấu lây tất cả những người đứng cùng một bên chiến tuyến với y.

Để đánh trống lảng, Thành quay ra gọi người nhà:

- Bưng vào đây. Bày biện cho tươm tất để quan Thiếu Phó cùng ta đánh chén.

Cả gia nhân “dạ“ lên một tiếng thật to rồi lễ mễ bưng vào một mâm thịnh soạn. Chiếc mâm cỡ lớn bằng gỗ dầy sơn son thếp vàng, trên chất đầy bát đĩa, phải một tay lực sĩ mới bưng nổi để nước canh không sóng sánh.

Quang Diệu thầm phục tên quân ít tuổi này có đôi cánh tay thật khỏe. Y cúi đầu so đũa, thoáng trông thấy mặt mũi cũng sáng sủa ra vẻ con nhà. Y kín đáo ngẩng mặt lên khi thấy vị “Tướng quân hay rượu” đang từ tốn và trịnh trọng đập tảng đất thó niêm chặt trên chiếc hũ sành. Vừa đúng lúc ông tướng họ Trần chăm chú nhìn y.

Hai tia nhìn gặp nhau cùng sáng lên như điện và cùng nói rất nhiều.

Hơi rượu phả ra thơm phức. Thành quay lại bảo tên người nhà lúc ấy đã bày biện xong, đang khoanh tay đứng hầu:

- Cho mày ra ngoài kia chơi. Tao còn uống rượu ở đây lâu. Đến xế chiều hãy trở lại dọn dẹp mâm bát cũng được .

Rượu được vài tuần, Thành nâng chén lên ngang mày, tấn công trước:

- Chả mấy khi được ngồi hầu rượu Tướng quân mà tôi xin mạn phép được coi là tri kỷ. Mời Tướng quân cùng cạn chén thứ ba này trước khi nghe tôi nói vài lời tâm huyết.

- Tướng quân cứ nói. Tôi xin lắng tai nghe.

- Vâng. Tôi xin trình bày với tất cả tấm lòng thành thật mong Tướng quân thông cảm. Từ trước đến nay, Tướng quân vẫn là một ngôi sao sáng trên nền trời võ học nước nhà. Cả bạn lẫn thù đều công nhận Tướng quân là một trang tuấn kiệt đời nay. Chúa công từ tôi lâu vốn hâm mộ tài đức của Tướng quân, sớm tối chỉ mong được nghe lời dạy bảo…

Diệu thẳng thắn lắc đầu từ chối:

- Không được đâu ông.

- Sao vậy?

- Giản dị lắm. Vì chỉ có hai điều.

- Xin ông cứ cho nghe.

Người anh hùng thất thế đặt chén rượu uống dở xuống thành mâm, ngó thẳng mặt kẻ đối thoại, nói rành rọt từng tiếng, mỗi tiếng như một lát đao báu chém sâu vào đá tảng:

- Điều thứ nhất là bình sinh tôi chỉ phục có một người. Và tôi may mắn được thờ người ấy. Khỏi nói chắc ông thừa rõ đó là Vua Quang Trung Nguyễn Huệ .

Thành vội cướp lời:

- Nhưng nay ông ấy đã mất rồi. Vua Cảnh Thịnh đã bị bắt và mai kia đây chắc sẽ không ở trên dương thế nữa. Còn ai đâu mà ông cố chấp lấy chữ trung?

Quang Diệu cười nhạt đáp:

- Tôi đã thờ nhà Tây Sơn thì phải sống chết với triều đại ấy, không thể làm tôi một ai khác được.

Thành cố gặng hỏi:

- Thế còn điều thứ hai?

- À điều này thật sự hơi khó nghe một chút, nhất là đối với ông.

Thành ngạc nhiên gạt đi thật nhanh:

- Đối với tôi à? Vậy không hề chi. Có gì ông cứ nói thẳng, tôi quyết không giận ông đâu.

- Vậy thì được, tôi xin nói thẳng. Tôi không phục “kẻ kia”. Ông ta thắng, chẳng qua là ưa may chứ không phải nhờ tài giỏi. Trời không tựa chúng tôi thì chúng tôi đành chịu. Và tôi thà chết còn hơn là chịu khuất kẻ mà tôi coi thường.

Thành thở dài, biết khó mà lay chuyển nổi con người có tấm lòng son sắt đang ngồi trước mặt nghiễm nhiên coi sự sống chết không hơn một trò múa rối. Tuy nhiên, đã có chủ đích từ trước ông ta chưa chịu lùi bước.

- Thế ngộ nhỡ chúa công tôi tha chết cho ông thì ông tính sao?

Cười nhạt Diệu đáp:

- Làm gì có chuyện đó. Tôi không dám nói tôi hiểu rõ tâm địa “người ấy” hơn ông. Nhưng tôi e ông quá quý mến tôi mà hoá ra lạc quan quá đấy. Dù sao tôi cũng trả lời rõ ràng câu hỏi của ông trong trường hợp hi hữu đó xảy ra. Tôi sẽ “bịt tai bẻ kiếm” trở về quê nhà làm ruộng, thờ mẹ dạy con. Thề đến chết không lý đến việc hơn thua với ai nữa.

- Nghĩa là nhất định ông không chịu giúp đỡ chúa công tôi?

- Vâng. Nhất định!

- Thế còn lệnh đường? Không lẽ ông nỡ để…

Trong phút giây, họ Trần chợt hiểu. Thì ra mẹ già đã bị bắt, thảo nào thằng Dũng có mặt ở nơi đây. Nếu không, ắt nó đã phải vào Gia Định cùng với Lê Đồng theo hầu cụ và trông nom con bé Bạch Liên rồi.

Một thoáng mây buồn, một tiếng thở dài não ruột. Nhưng lời lẽ vẫn đanh thép:

- Mẹ tôi tuổi Tý, năm nay vừa chẵn tám mươi. Giá yên hàn tôi được về chúc thọ Người thì sung sướng cho tôi biết mấy. Nhưng bây giờ, sự thể đã đến nước này thì tôi đành mang tội bất hiếu.

Làm bộ phẫn nộ, Thành rắn giọng trách:

- Ông nhẫn tâm để cho cụ thọ hình à? Lòng ông sắt đá như vậy được sao?

- Mẹ tôi cũng như mẹ các ông, tùy ý các ông muốn xử sao cho phải thì xử.

Bầu trời u ám được chính kẻ nắm chắc cái chết trong tay làm cho sáng sủa. Quang Diệu bàn sau một lúc trầm tư:

- Người ta không dám giết mẹ tôi đâu ông ạ. Tôi nói: Không dám, chứ không phải là không nỡ. Mẹ tôi như ngọn đèn trước gió không biết tắt lúc nào, cần gì phải giết để cho thiên hạ, trong đó có cả người ngoại quốc chê cười. Dân chúng dù theo ai chăng nữa, bao giờ cũng sáng suốt và nhớ dai lắm. Họ sẽ nhắc đến cung cách đối xử với những kẻ ngã ngựa khi Diệu tôi hạ xong thành Qui Nhơn. Nhớ để so sánh với cung cách người ta đối xử với mẹ Diệu khi Diệu sa cơ thất thế. Nhiên hậu mới đánh giá được triều đại mới. Đó. Tôi nói vậy, ông cứ ngẫm mà xem có đúng không?

- Song còn lệnh ái thì sao? Tôi nghe nói cô Bạch Liên còn nhỏ, đẹp và thông minh lắm. Ông nỡ để cho lệnh ái lìa đời khi mới chớm bước vào tuổi thanh xuân?

Một nụ cười vừa tự nhiên vừa kiêu hãnh nở trên môi người cha xấu số:

- Ấy, nó chết về cái thông minh ấy đấy! “Kẻ kia” rất sợ những trang thông minh tài tuấn. Vì có thông minh tài tuấn mới biết cách lật ngược thế cờ, xoay chuyển lại thời cơ! Mà “Người ấy” thì lúc nào cũng lo xa, lo hậu hoạn! Còn con tôi nó là con Trời con Phật chỉ muốn làm việc thiện hay đi tu. Nó thích theo hầu chúng tôi hơn là ở lại với những kẻ không ra gì.

Thành vờ than thở:

- Uổng quá nhỉ! Lại còn bà Thiếu Phó nữa chứ. Lệnh ái thì chưa rõ số phận ra sao, chứ quý phu nhân, theo tôi biết, thật khó thoát cực hình nếu ông không đổi ý.

Uống cạn một hơi chén rượu mới rót đầy, danh tướng họ Trần cười rung cả phòng giam chật hẹp, khoái trá như đang bàn đến số phận một kẻ thứ ba không hề có một chút thân tình:

- Nhà tôi ấy à? Bà ấy còn cứng rắn hơn tôi gấp mấy lần. Ngoài Đức Quang Trung Hoàng Đế và kẻ hèn này ra, bà ấy coi trong thiên hạ không ai vào đâu cả. Nói chi đến chuyện hàng với chẳng hàng!

- Tôi sợ cái chết của bà không giản dị và chóng vánh nhu ông tưởng đâu.

Thản nhiên nhưng cương quyết, Quang Diệu nói như tâm sự với một người tri kỷ:

- Vợ chồng chúng tôi thương dân mà không hiếu sát nên sống chúng tôi làm tướng, chết chúng tôi sẽ làm thần. Như vậy chết cách nào cũng thế thôi. Tôi xin nói trước để các ông yên tâm. Dù có bị băm vằm mổ xẻ, lột da lóc thịt, hay voi giày ngựa xé đi chăng nữa chúng tôi quyết định đón nhận cái chết mà chẳng cau mày…

Không còn gì để nói thêm nữa, Diệu đứng dậy tiễn khách. Thành tỏ ý bịn rịn không nỡ dứt. Chủ nhà cảm động nói mấy lời tạ từ chân thành:

- Cám ơn Tướng quân đã có lòng nghĩ đến chúng tôi rất nhiều. Để đền đáp tôi xin có đôi lời lưu niệm.

Cảm động không kém. Thành chấp tay nói:

- Dạ, tôi xin kính cẩn nghe lời dạy bảo.

- Tôi hay nói thẳng, mà lời thật lại hay mất lòng, ông có thứ lỗi cho tôi trước tôi mới dám thưa.

- Lời nói của ông là lời vàng đá, tôi xin để dạ ghi lòng chứ đâu dám phiền trách.

- Vậy tôi xin nói. Diệu tôi quá nửa đời lăn lóc trong thiên hạ, sống với đủ hạng người nên xét đoán ít khi lầm. “Kẻ kia” có cái tướng “chỉ chung được hoạn nạn, mà không chung được phú quý”. Vợ chồng Diệu tôi một khi chết đi, các ông ắt không còn đại địch nữa. Tôi e lúc ấy những kẻ công cao chức lớn như ông sẽ khó còn đất sống. Liệu rút lui sớm đi thì hơn.

Thành thở dài tâm sự:

- Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó. Khốn nỗi, ngoài chút tài sức võ biền, kẻ hèn này lại có được đôi chút học vấn có thể dùng được. Và tôi tiếc không muốn bỏ phế cái sở học khi thấy mình đủ sức san định lại bộ luật cho dân nhờ khi tất cả đã thu về một mối.

- Thế thì khó gì! Khi nào làm luật gần xong hãy lo về vui thú điền viên. Như vậy là ổn.

- Thành tôi xin chân thành lãnh giáo.

Hai kẻ tử thù chia tay nhau, bịn rịn như hai người bạn thiết.

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

CHƯƠNG V_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG V


Đến địa đầu huyện Thanh Chương, mọi người mới hoàn toàn vững bụng. Không sợ quân theo, cũng khỏi lo bị đánh úp. Lại còn yên trí được nghỉ ngơi ăn uống.

Vì đã được tin báo trước nên quan huyện sở tại tổ chức cuộc đón tiếp thật chu đáo. Từ vua quan đến lính tráng, ai nấy đều có chỗ nghỉ chân tươm tất. Riêng đối với vợ chồng quan thầy cũ, ông huyện cố mời về tư thất để những giờ khắc nghỉ ngơi được thoải mái và ấm cúng. Trước cung cách niềm nở của họ Châu, vị nữ tướng họ Bùi tỏ ra hài lòng lắm.

Cẩn thận, Trần Quang Diệu căn dặn các tướng cạnh:

- Về đến đây, kể ra cũng đã tạm ổn. Tuy nhiên các ông nên nhớ đêm hôm vẫn phải tiểu tâm phòng bị. Nhất là chớ nên quá chén.

Một phó tướng thưa:

- Bẩm, tôi tưởng đã về đến đất nhà thì còn chi phải lo sợ nữa.

Diệu cười dễ dãi:

- Làm biếng như vậy không được đâu. Những tay cầm quân giỏi bao giờ cũng rình đánh vào lúc không ngờ nhất và vào chỗ cũng không ngờ nhất. Biết đâu đêm nay giặc chẳng tấn công trong khi chúng ta đang nhậu nhẹt hay là đã say bí tỉ!

□ 

Tiệc tẩy trần dọn lên thật là thịnh soạn. Quan huyện họ Châu thân rót rượu khuyên mời.

Quang Diệu thân mật nắm tay Văn Mẫn, kéo xuống ngồi cạnh.

- Ngồi xuống đây đi, ta cùng uống cho vui. À, tôi giao hẹn trước, mỗi người chỉ làm ba chén, rồi ăn cơm đấy nhé. Đủ để đỏ mặt thôi. Rượu nhiều không nên, ta còn phải đề phòng mọi việc bất trắc.

- Dạ.

Nâng ly lên chưa kịp uống, Diệu sực nhớ lúc nãy chỉ thấy bà huyện cùng cô con gái lên chào, còn cậu con trai thì vắng mặt.

Với giọng thân tình, ông thăm hỏi:

- À, thằng Tuệ con nhà ông bà dạo này làm ăn gì? Có khá không? Ở nhà hay đi vắng mà tôi không thấy?

Châu tri huyện hơi tái mặt, trả lời có vẻ lúng túng vì xưa nay không quen nói dối:

- Dạ, bẩm, cháu nó thói nào vẫn tật ấy, lêu lổng hoang đàng, đã bỏ nhà ra đi đến hơn một năm nay, chẳng đoái hoài đến cha đến mẹ...

- Nó đi biệt tích à?

Châu cúi gầm mặt thở dài:

- Dạ.

Uống một hơi cạn chén, danh tướng họ Trần khà một tiếng khoái trá khen:

- Rượu cúc của ông ngon thật đấy. Nhưng ông ngâm cái chi mà tôi nghe như hơi đăng đắng. Không được dịu như mọi lần.

- Dạ. Bẩm, tôi kiếm được ít mật nhân ngâm thêm với bài thuốc trước. Mật nhân có đắng thật, nhưng nó trị được bệnh tê thấp một cách thần tình...

Ông tướng gật đầu:

- Vậy cứ nên dùng. Nhất là bọn võ tướng chúng tôi lăn lộn quá nửa đời người ở những sơn lâm chướng khí chả mấy ai tránh được cái bệnh tê thấp...

- Dạ.

Quay trở lại câu chuyện vừa khiến cho chủ nhà buồn bực, vị thượng khách khuyên nhủ bằng những lời bộc trực:

- Ông Châu à, sinh con ai nỡ sinh lòng, ông cũng chả nên phiền làm chi. Duy có điều, trong thời buổi loạn ly này lòng người thay đổi thật khó lường. Nhất là những kẻ đã cùng đường. Chúng có một lối thoát khỏe khoắn vô cùng là "theo giặc".

Trong khi nhà chủ có tật giật mình, cứ cúi gầm mặt xuống, vị khách quý vẫn vô tình khuyên nhủ tiếp:

- Chẳng phải là tôi có bụng nghi ngờ gì thằng con của ông đâu. Nhung chuyện đời biết sao mà bàn trước được. Người ta thường nói: "Giáo đâm đang hoàng dễ tránh, tên bắn lén khó lường". Thật rất đúng. Nói giả dụ thằng con ông có bụng dạ nào, đố ông làm thế nào đề phòng cho siết được.

Viên tri huyện hồi hộp, tưởng chừng như đã bị quan thầy đoán đúng tim đen. Để khỏa lấp sự ngượng nghịu cố hữu của những người bắt buộc phải giấu giếm khi không quen dối trá, ông đứng dậy lên tiếng gọi xuống nhà dưới:

- Bà nó bảo con bưng tiếp đồ nhắm lên cho tôi nhé.

Không có tiếng đáp. Ô hay kìa, mẹ con nó chạy đâu rồi nhỉ?

Chưa kịp ngạc nhiên, ông đã thấy đầu óc choáng váng. Cũng bình rượu này, mọi ngày uống gấp đôi gấp ba vẫn tỉnh táo, sao bữa nay mới có ba chén đã chân tay bải hoải, phải vịn vào ghế mới đứng vững?

Bùi phu nhân là một người vô cùng tinh tế. Từ lúc vào tiệc đến giờ bà không bỏ sót một lời nói, một cử chỉ lúng túng của chủ nhân cũng như những lúc ông biến sắc.

Tửu lượng của bà rất cao, lúc vui đối ẩm với chồng cả bình chưa thấm tháp. Vậy mà bây giờ đã thấy mắt hoa, người hơi lảo đảo.

Bà nắm tay chồng khẽ bảo:

- Xem chừng không khéo chúng ta trúng phải thuốc mê.

- Phải rồi. Tôi đã hơi có ý nghi. Không ngờ lại là sự thật!

Ông cố đem hết ý chí chống lại với sức thuốc đang hoành hành trong cơ thể.

Viên tri huyện vừa gục xuống góc nhà bất tỉnh thì có tiếng người từ dưới nhà chạy lên hớt hải:

- Ông ơi! Ông có sai cái Tâm đi đâu không? Xưa nay có bao giờ nhà có khách mà nó dám bỏ bếp nước trống trơn thế này. Lạ quá ông ơi! Tôi chạy cùng khắp tìm đâu cũng không thấy nó.

Tới nhà trên bà huyện đứng chết sững trước cảnh tượng bi đát bất ngờ. Bà chưa kịp cúi xuống thử lay đánh thức ông chồng dậy thì từ dưới sân vọng lên mấy tiếng con Vàng tru thê thảm.

Rồi con vật tinh khôn xồng xộc chạy lên đại sảnh, ngó mặt chủ sủa vang trước khi cắn gấu áo lôi bà xuống sân.

Mất tinh thần, bà huyện để mặc cho con vật trung thành dẫn đi, không phản ứng.

Trong thời gian ngắn ngủi ấy, vợ chồng danh tướng họ Trần kẻ trước người sau, gục xuống bàn, bên tai còn nghe văng vẳng tiếng thét tiếng la, trước khi mê man hẳn.

Chập sau, họ tỉnh dậy để thấy mình đã bị trói bỏ nằm còng queo dưới đất. Dây trói bằng gân hổ, chắc vô cùng.

Một bọn đầu trâu mặt ngựa lục lạo khắp gian phòng. Cầm đầu là một tên mặt mũi sáng sủa nhưng dáng điệu nghênh ngang hống hách.

Tưởng ai xa lạ, chả hóa ra thằng Tuệ, con trai của ông bà huyện Mẫn. Thì ra chính tên du đãng loại có học này đã dắt giặc về. Thảo nào lão huyện cứ lúng ta lúng túng!

Ông quan sở tại đáng thương này vừa hồi tỉnh, đang lồm cồm bò dậy. Ơ hay! Tai vạ xảy ra mau chóng đến thế kia ư? Đã tỉnh hẳn, ông ý thức được ngay mối nguy hiện tại và cái trách nhiệm to tát của mình trước biến cố do mình gián tiếp gây ra.

Có tiếng khóc thê thảm vọng lên như từ mạn cuối vườn. Nghe văng vẳng những lời kể lể. Trời ơi! Đúng là tiếng vợ ông! Lại tai vạ gì nữa đây? Ông tự hỏi và linh cảm một bất hạnh to tát vừa giáng xuống người con gái ông. Bây giờ ông mới nhớ Tâm vắng mặt một cách đáng nghi ngại trong khi nhà đang có khách.

Ông giật mình thấy vợ đầu tóc rũ rượi từ dưới nhà xông lên túm áo thằng con trai, vừa đánh vừa xé, vừa chửi như một mụ điên.

- Mày giở trò khốn nạn để hại người. Sao mày còn nhẫn tâm bóp cổ chết em mày để bịt miệng? Quân tàn ác! Đồ mọi rợ!

Ông chồng từ từ bước tới, giữ lấy tay vợ, kéo ra và khuyên giải bằng một giọng bình tĩnh bất ngờ:

- Thôi bà ơi! Việc đã dĩ lỡ rồi, khóc than cũng đến thế thôi. Bà phải để yên cho tôi bàn bạc với con nó xem có kế nào vẹn toàn không chứ.

Chả ai dám ngờ ông huyện trở mặt mau đến thế, trừ bà huyện đã thông cảm sau cái nắm tay can khéo của chồng.

Tự ái được vuốt ve, cậu cả Tuệ dương dương tự đắc:

- Thầy biết điều sớm như vậy là phải. Con vẫn bảo dù sao thầy cũng là người sáng suốt, hiểu thời cơ.

- Ờ, anh bảo các ông ấy ra ngoài kia chốc lát. Thầy có một điều cơ mật cần bàn với anh ngay bây giờ.

Hất hàm ra hiệu cho đồng bọn tạm rút xuống sân, Tuệ hách dịch truyền:

- Nghe tiếng ta gọi, các chú mới được lên, nghe.

Cẩn thận, ông huyện bảo vợ và con:

- Hai mẹ con hãy đóng giùm cửa nẻo lại cho thầy kẻo ở đây tai vách mạch rừng, không tiện.

Chiều ý người cha đã chịu thua mình một vố thật cay, Tuệ quay gót bước ra phía cửa chính. Nhanh như cắt, ông Mẫn vớ lấy bình rượu gần cạn trên mặt bàn ăn, vung lên và giáng thật mạnh xuống đầu thằng con "quý tử". Nghe tiếng gió, Tuệ vội nghiêng đầu tránh. Bình rượu đập trúng một bên đầu và cổ y, vỡ tan tành, miểng rơi loảng xoảng. Tuệ gục xuống sau một tiếng rú rợn người.

Hai vợ chồng chủ nhà, vội chạy lại mở trói cho hai vị khách quý nằm dưới đất theo dõi tấn kịch từ đầu chí cuối.

Quan văn và đàn bà có khác, họ lúng túng mãi chưa cởi được mối nào, lấy dao cắt mãi cũng không đứt nữa.

"Ầm ầm ầm", cánh cửa thông xuống vườn đã được phá tan. Bọn đầu trâu mặt ngựa tràn vào, hăng hái thí cho vợ chồng ông huyện mỗi người một nhát nằm quay đơ.

Tuệ mở mắt ra, khẽ la:

- Chớ có giết hai tên chánh phạm!

Trong khoảnh khắc, quên hẳn tình trạng bi đát của mình, hai cây cột chống trời của triều đại Tây Sơn ngậm ngùi rớt nước mắt xót thương cho nỗi bất hạnh to lớn của người cộng sự trung thành nhưng vô phước.

Riêng họ, những người suốt đời xông xáo trong chốn muôn quân nghìn ngựa vẫn không hề hấn gì, bây giờ bỗng thấy mình dường như sắp chết đuối khi chẳng may lơ đãng bước hụt chân vào một lỗ chân trâu nông choèn. Họ linh cảm thấy phen này nguy cơ thật lớn lao tuy bề ngoài tưởng như chẳng có gì đáng lo ngại lắm.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VI

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

CHƯƠNG IV_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG IV


Cánh cửa nhà bếp hé mở được đẩy rộng dần ra, không gây nên một tiếng động nhỏ. Một bóng đen quen thuộc khẽ lách vào êm như ru.

Cô gái đang lúi húi với siêu nước sắp sôi bỗng giật bắn mình khi nghe gió ngoài vườn phả vào lưng lạnh ngắt. Nàng đứng phắt dậy, quay lại trố mắt ngó người lạ mặt.

Nàng reo lên sau một phút thảng thốt:

- A! Anh Tuệ! Anh Tuệ đã về đấy ư? Thầy mẹ mong anh mãi.

Có tiếng la từ nhà trên vọng xuống:

- Cái gì léo nhéo dưới ấy hả Tâm?

- Dạ, thưa anh Cả con đã về đấy ạ. Thầy ơi! Mẹ ơi! Anh Cả đã về! Trời ơi! Anh về nhà em mừng hết lớn.

Hai anh em dắt nhau lên nhà trên, nơi ông bà huyện Châu văn Mẫn đang ngồi bàn chuyện giữa chiếc sập gụ chân quỳ bóng lộn.

Bà huyện mừng rỡ, đứng dậy, ôm hai vai cậu con trai, nói tíu tít:

- Thảo nào, tao nghe thấy con Vàng sủa có mỗi một tiếng, rồi nó nhảy cẫng lên mừng. Tưởng ai hóa ra thằng Cả. Thế nào, con đi đâu cả năm nay không ngó ngàng chi đến nhà cửa? Làm thầy mẹ nhớ thương hết sức! Bây giờ con ở đâu, làm nghề ngỗng gì? Có khá không?...

Cô em gái săn đón hỏi anh:

- Chắc anh Cả chưa sơi cơm tối. Để em xuống bếp làm thật nhanh vài món anh ăn nhé.

- Thôi, ăn rồi!

Bà mẹ và cô con gái vui vẻ và vồn vã bao nhiêu thì cậu con trai lừng khừng và ông bố nghiêm nghị bấy nhiêu.

Vẫn ngồi xếp bằng trên sập, ông huyện Mẫn trừng mắt hỏi, giọng gay gắt:

- Cậu bỏ nhà đi đâu cả năm nay thế? Không theo giặc đấy chứ?

Tuệ mím môi hậm hực. Trợn đôi mắt ti hí lên nhìn cha, y cố nén giận để câu trả lời còn giữ được lễ phép chút đỉnh:

- Thật con không hiểu tại sao bất cứ ai khác với những người thầy ưa, thầy đều cho là giặc cả.

Ông chồng ngồi lẳng lặng, kéo cái điếu bát bằng sứ lại gần, trong khi bà vợ ôn tồn nói sau một tiếng thở dài kín đáo:

- Lạ quá! Hai cha con vừa mới gặp nhau, chưa nói với nhau được đến hai câu đã xung khắc nhau rồi!

Ngắm nghía thấy con trai ăn mặc chững chạc, bà cũng mừng, lại tíu tít như hồi nãy:

- Này, mẹ hỏi con phải nói thật. Bây giờ con làm gì? Có dễ chịu không? Nói cho thầy mẹ mừng đi con.

Ngạo nghễ, y buông ba tiếng cộc lốc:

- Con làm quan!

Vừa ngậm vào chiếc xe điếu chưa kịp hút, ông bố vội nhả ngay ra, thốt cộc lốc không kém:

- Quan!...

Ông kịp dừng lại không nói nốt những lời cay độc chỉ đào sâu thêm cái hố chia cách giữa hai cha con.

Như đọc được ý nghĩ của chồng, bà huyện cười dàn hòa, rồi nhỏ nhẹ bảo chồng:

- Nếu con có chí tiến thân và nhờ trời gặp được vận may thì cũng là một điều đáng mừng chứ sao. Vả lại, như tài học của con nó, tôi nghĩ làm quan cũng chẳng phải là một điều khó khăn cho lắm.

- Biết rồi! Tôi có bảo nó kém thông minh bao giờ đâu. Nhưng nó lười như hủi, lại ham chơi, tối ngày chỉ túm năm tụm ba với những phường vô lại, rượu chè cờ bạc, thử hỏi thế thì đỗ đạt vào đâu, và làm quan vào cái khổ nào?

Tuệ cười khẩy:

- Nói như thầy thì cứ phải làm con mọt sách, gậm cho nát mấy chữ "chi hồ dã giả" mới hiển đạt được hay sao?

Ông bố cười gằn, hỏi vặn:

- Vậy ra mày kiếm lối đi làm quan tắt?

Cậu con đáp, giọng chắc nịch:

- Vâng. Đường lối nào chả thế miễn cho tới được mục đích thì thôi!

Ông huyện Mẫn lắc đầu, khẳng định:

- Không được! Đã là con tao thì có muốn làm quan, phải theo con đường thẳng băng, đường đường chính chính...

Bây giờ đến lượt người con châm biếm:

- Nghĩa là phải học rạc người ra để giật cho được cái cử nhân hay cái tiến sĩ, rồi lẹt đẹt làm ông quan huyện như thầy. Khi ì ạch leo lên được cái ghế tri phủ thì đã sắp sửa "hai năm mươi" rồi còn gì ! Xin lỗi thầy, con không ưa cái trò lẩm cẩm đó.

Lời lẽ tuy có hỗn láo xấc xược, nhưng ý nghĩ của y thật đã rõ ràng.

Muốn tìm hiểu thêm, người cha đành nuốt giận hỏi:

- Vậy chứ mục đích của cậu, cậu đã đạt được phần nào chưa?

- Chưa, nhưng cũng sắp sửa. Chả mấy hồi! Có thể nói cái "quận công" con đã nắm chắc ở trong tay.

Cả hai ông bà cùng giật bắn mình. Tuệ nhơn nhơn nói tiếp:

- Hiện giờ, con mới giữ một chức quan nho nhỏ thôi. Cũng kẻ hầu người hạ như ai, nhưng con chưa toại nguyện. Phải cao hơn thế nhiều, đại khái như: văn thì làm một bực đường quan, võ thì phải làm đại tướng. Có thế mới thỏa được chí bình sinh... Chẳng những vậy...

Thấy y trầm ngâm chưa chịu nói tiếp, bà huyện hỏi dồn:

- Sao nữa hả con?

- Chẳng những vậy, con còn muốn giúp cho thầy con được vinh thăng...

- Vinh thăng? Vinh thăng lên chức gì nào?

- Nói giả dụ như lên chức trấn thủ Nghệ An, có được không hở mẹ?

Như lờ mờ đoán được thâm ý của thằng con ngỗ nghịch, ông huyện kín đáo đưa mắt ra dấu cho vợ nên thận trọng lời nói. Bà hiểu ý, nín lặng đợi y nói tiếp. Tuệ hạ thấp giọng, nói chỉ vừa đủ nghe:

- Nếu con không lầm thì trưa hay chiều mai, đại quân của ông bà Thiếu Phó tới đây... Thầy mẹ đừng giấu giếm vô ích. Con biết hết, biết tường tận là đàng khác. Nếu thầy chịu nghe con, chỉ cần ra tay một chút xíu, chả khó nhọc gì mà cả hai cha con mình đều làm nên sự nghiệp...

Mẹ y hỏi gặng:

- Nghĩa là sao, con?

- Nghĩa là lừa bắt trọn ổ, trói cổ dâng cho Nguyễn Ánh.

Cơn giận nổi lên đùng đùng, ông già đập tay đánh chát xuống mặt văn kỷ, quát tháo ầm ầm:

- Muốn sống muốn tốt, mày hãy câm cái mồm lại, đồ bất hiếu bất mục, bất nhân bất nghĩa! Mày không nhớ ai giải cứu cho cả nhà mày khi gặp nạn ở Thanh Hóa hay sao? Ai thương tình tao mà tha tội chết cho mày khi mày cậy thần cậy thế đánh chết người dân hiền lành vô tội? Ai mở đường cho mày ăn năn hối cải mà bây giờ mày lấy ơn làm oán? Thôi, tôi hiểu hết rồi, mày đổ đốn đâm đầu theo giặc. Rồi nghe lời giặc về đây dụ tao phản chủ. Có phải thế không? Thôi thôi, đừng nói thêm câu nào nữa, mày khôn hồn hãy bước ra khỏi nhà tao ngay lập tức!

Biết con không ai bằng cha, nhưng thương con cũng không ai bằng mẹ. Bà huyện gạt nước mắt can:

- Xin ông bớt giận. Con nó dại dột ăn nói bậy bạ. Sự thực, đâu có dám làm sằng. Ông tha thứ cho con đi.

- Tha thứ! Để nó gây tai vạ và bôi tro trát trấu vào mặt tôi hay sao?

Vẫn đấu dịu, người đàn bà van vỉ:

- Bây giờ đã khuya rồi, ông cho con nó ở nhà đêm nay để cho tôi khuyên nhủ. Mai hẵng hay.

- Bà muốn làm thế nào thì làm. Sáng mai, tôi không muốn trông thấy cái mặt nó ở nhà này nữa.

Tâm đon đả nắm tay anh:

- Em đã đặt nước tắm cho anh rồi đó. Nước vừa sôi, anh xuống tắm một cái cho nó khoẻ. Rồi em hâm nồi cháo gà, anh sơi nhé.

Trông thấy bóng hai anh em bước xuống sân, ông Mẫn lắc đầu, than thở với bà vợ đang đứng tựa vào cột nhà, nước mắt ràn rụa:

- Tôi nóng quá thành ra hơi hớ. Đáng lẽ mình phải dằn lòng gạn hỏi cho ra mưu mẹo nó định dùng để hại ông bà Thiếu Phó.

Ngẫm nghĩ một lúc lâu, ông thú thực với bà:

- Về văn chương chữ nghĩa, nó không bằng tôi. Nhưng về mưu mô quỷ quyệt, quả tình tôi thua nó xa. Tôi không tài nào đoán được nó định giở trò gì.

- Tôi đồ chừng nó cũng chưa có mưu mẹo gì đâu. Hoặc giả mưu mẹo của nó phải được ông tiếp tay mới thi hành được.

- Bà nói có lý. Tôi cũng chỉ mong như vậy.

Vẫy Tâm vừa rón rén từ nhà dưới bước lên, ông thì thầm căn dặn cả hai mẹ con:

- Tôi đã nói từ trước: thằng Tuệ nhà mình có tướng phản trắc. Cái khẩu khí của nó ngày hôm nay cho thấy nó quả là một tên đáng sợ. Vậy hai mẹ con phải kín mồm kín miệng, không được để hở cái tin chiều mai nhà mình có tiệc. Sáng sớm mai, nó nấn ná cách nào để ở lại nhà, bà cũng phải tìm cách tống khứ nó đi. Còn con Tâm, nhớ để mắt vào những đồ ăn thức uống làm sẵn chờ đãi khách. Chớ để cho nó láng cháng lại gần mấy cái hũ rượu thuốc của thầy mà khốn đấy. Hễ thấy nó làm cái gì đáng nghi ngờ, mày cứ kêu toáng lên, một là để cho nó sợ, hai là để có người hay chừng mà tiếp cứu...

- Dạ.

Tâm ngơ ngác không hiểu anh nàng có thể làm cái gì ghê gớm đến nỗi cha phải dặn dò kỹ càng và gắt gao đến thế.

________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG V

CHƯƠNG III_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG III


Bạch Liên chạy tắt vào cửa mé sau vườn, còn Dũng cho ngựa sải một vòng ra cổng trước.

Qua một sân gạch rộng mênh mông, hai chú cháu bước lên thềm nhà trên. Vắng hoe, Đồng ngạc nhiên hỏi cháu:

- Kẻ ăn người làm đâu cả mà lặng ngắt vậy cháu?

- Nhà trơ trọi có hai bà cháu. Nuôi thêm một bà già giúp việc, suốt ngày lúi húi trong bếp hay ngoài vườn, làm chi mà chẳng vắng.

Trong khi Dũng loay hoay mở mấy cánh cửa ra cho thoáng, Đồng ngay người đứng ngắm gian chính dinh cơ của một vị trọng thần triều Quang Trung hoàng đế.

Ông chú lắc vai thằng cháu:

- Đồ đạc nhà quan Thiếu Phó trần thiết ở đâu? Sao để trống trải thế này?

Dũng cười buồn:

- Có đồ đạc đâu mà trần thiết! Nhà này thanh bạch lắm. Tiếng là được hưởng lộc của mấy xã đấy, nhưng sự thực thì thu được cũng hay, mà không thu được cũng thôi. Đúng là "tiếng cả nhà không" mà.

Vẫn chưa thấy cụ cố bà ra khách, chàng trai trẻ nói chuyện tiếp cho ông chú nghe đỡ sốt ruột.

- Hai ông bà cùng làm quan lớn mà nhà chẳng có gì. Càng ngày càng nghèo, nhất là từ ngày được Đức Vua ban cho một món quà quí giá là một chú voi con. Nó ăn dữ quá, không lẽ người nhịn để voi xơi cho thích miệng.

Nghe câu chuyện hay hay, Đồng gượng cười:

- Bây giờ chú mới biết cái vụ nhà nghèo nuôi voi đấy chứ.

- Khốn nỗi nhà đã nghèo mà cả hai bà cháu đều hay làm việc nghĩa. Cả làng này chả mấy ai là không chịu ơn bà cụ và cô bé.

Đồng ngây thơ hỏi:

- Chú tưởng làng này giầu có chứ. Bình Phú mà!

- Bình thì có bình, nhưng phú thì không phú mấy. Hoặc giả có giầu tình, giầu nghĩa mà thôi.

- Ờ, cứ coi đám trẻ đứng vây chú để lo bênh vực cô Bạch Liên, cũng đủ thấy dân làng này trọng nghĩa...

Có tiếng cửa mé trong mở rộng. Ánh sáng ùa vào. Bà cụ vịn vai cháu gái bước lên nhà trên. Đồng vội quỳ gối lạy chào. Bà cụ vừa ngồi xuống ghế vừa bảo Dũng:

- Đỡ chú đứng lên đi. Vợ chồng nhà Diệu có nhắn gì, chú nói cho già hay đi, tốt hơn là làm đại lễ.

Đồng đứng lên, nước mắt ràn rụa. Bấy nhiêu đủ báo cho hai bà cháu biết trước một tin chẳng lành.

Thấy vậy, bà cụ thở dài hỏi, giọng chán chường nhưng bình tĩnh:

- Vậy là cả dâu, cả con trai của già đều bị hại rồi hay sao?

Đồng lắc đầu, mấy giọt nước mát từ khuôn mặt sạm nắng rơi xuống như những giọt mưa lác đác:

- Bẩm cụ, chưa ạ. Ông bà Thiếu Phó con đều bị giặc bắt ở huyện Thanh Chương.

Cả hai bà cháu cùng la lên, kinh ngạc đến tột cùng:

- Huyện Thanh Chương?

- Dạ.

Bà cụ lắc đầu, chậm rãi như nói một mình:

- Lại có chuyện vô lý đến thế sao? Nhà Diệu làm trấn thủ Nghệ An. Không lẽ nó ăn ở bất nhân thất đức đến độ bị bắt ở ngay huyện Thanh Chương là huyện nhà!

- Bẩm cụ không phải thế đâu ạ. Ông bà con lui quân về vẫn được bà con huyện nhà tiếp rước chu tất. Nhưng chẳng may trong số những kẻ đã chịu ơn sâu của quan trấn thủ, lại có một tên phản bội. Nó theo giặc từ lâu mà không ai hay biết. Vì thế ông bà mới vô tình mà mắc phải mưu gian.

- Đầu đuôi việc ấy thế nào chú cứ nói. Già đủ can đảm nghe những chuyện không may ghê gớm nhất. Vì vợ chồng nhà Diệu đã làm tướng thì cái chết lúc nào chả cầm chắc trong tay... Sớm hay muộn có xá gì!

- Dạ con xin kể đây. 



Có thám mã báo tin về cho đại quân nhà Nguyễn Phúc vừa bị một mẻ chết hụt ở thành Trấn Ninh hay: vợ chồng đại tướng Trần Quang Diệu hiện đang cưỡi chung một thớt voi từ Thanh Hóa dẫn quân vào đàng trong, chả mấy chốc quân Tây Sơn sẽ tới huyện Thanh Chương là một nơi đất giầu dân mạnh.

Đạo quân truy kích đang hăng hái rượt nà được tin mừng ấy bỗng dưng khựng lại. Từ lớn tới nhỏ, họ đều ngán không muốn đụng độ với hai người mà họ kiềng mặt nhất kể từ sau ngày Bắc Bình Vương băng hà.

Đặc biệt lần này cả các danh tướng cũng ngoảnh mặt làm ngơ để cho bọn đàn em có dịp trổ tài thao lược mà lập công với bề trên.

Quả có mấy viên tì tướng tình nguyện làm cái công việc "trói hổ" khó khăn ấy thật.

Chiều nay, gần đến huyện Thanh Chương, họ kiếm một chỗ thật kín đáo, quây quần nhau đánh chén và bàn mưu tính kế.

Toàn là một lũ đầu trâu mặt ngựa, tên nào cũng có ít ra là một nét tàn ác hơn tên nào. Duy có gã cầm đầu là khác hẳn: mặt mũi trắng trẻo và thân hình đều đặn. Nếu không có cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn trộm thì khó lòng người đối thoại dám cho y là một tên nguy hiểm cần phải đề phòng.

Mâm đã dọn lên, rượu đầy bình và đồ nhậu ê hề. Tên chủ tọa nâng ly, ngó đồng bọn với một vẻ dương dương tự đắc.

- Uống đi, uống đi, các chú! Bây giờ các chú nào biết tại sao thiên hạ để cho thằng Cai Tuệ này cáng đáng công việc khó khăn nhưng béo bở này không?

Cả bọn lắc đầu. Y cắt nghĩa:

- Này nhé, mọi bận hễ có cơ đánh thắng là họ tranh nhau đi. Có lúc vặc nhau lung tung beng. Nhưng lần này thì khác hẳn. Tiền quân lắc, hậu quân cũng lắc. Tả quân làm ngơ thì hữu quân cũng lờ luôn. Tại sao vậy?

Y đặt câu hỏi dồn dập để chính y giải đáp:

- Là vì miếng mồi mới thấy tưởng là ngon, kỳ thực rất khó nhá. Mà nhá không xong thì thân bại danh liệt ngay lập tức. Nếu ta chịu khó kiểm điểm tình hình thì thấy ngay: bên kia tuy thua nhưng lực lượng còn mạnh. Họ Trần và họ Bùi là hai con mãnh hổ còn y nguyên móng vuốt. Đụng vào chả có gì là chắc ăn. Trái lại, dám vỡ mặt như chơi...

Còn bên mình tuy ngoài miệng hăng thật đấy nhưng trong bụng còn run mỗi khi nhớ lại cái cảnh bà Bùi Thị Xuân cưỡi voi thét tướng sĩ vây thành Trấn Ninh trong hai ngày ròng rã. Nếu không vì một chuyện hiểu lầm, bên kia vội rút lui lúc chiến thắng đã gần kề thì e rằng giờ này thây chúng ta đã phơi đầy trong Lũy Đồng Hới rồi. Từ lớn chí bé, ai cũng sợ, ai cũng ghét bà Xuân, và ai cũng muốn giết bà ta cho hả giận. Nhưng không ai dám cầm quân đánh bà. Còn ông Diệu thì một số lớn quân ta còn nhớ cái trận ông hạ thành Qui Nhơn. Họ đã được ông tha chết và chắc rằng ít nhiều họ phải nhớ ơn. Cầm đám quân ấy mà đánh với ông Diệu thì mười phần nắm được mấy phần thắng, mấy phần bại? Thua là cái chắc, nên ai dại gì đưa đầu ra chịu báng?

Đám bộ hạ mặt mũi đỏ gay, miệng nhồm nhoàm, tranh nhau nói:

- Đại ca luận rất hay, có lý vô cùng. Nhưng đàn em xin hỏi một câu: Tại làm sao bỗng dưng đại ca lại đưa vai ra gánh vác trong khi thiên hạ đều sợ co vòi?

Cai Tuệ cười vang, ra vẻ đắc chí:

- Có thế mới hay chứ! Làm được cái việc mà thiên hạ không ai làm nổi mới đáng được gọi là anh tài!

Uống một hơi cạn chén, y khà một tiếng hả hê, rồi ề à nói tiếp:

- Lấy sức ra mà đấu thì ta chẳng bằng ai. Vậy không thể dùng sức được. Mà đã không thể dùng sức thì ta phải dùng mẹo. À, à, mẹo cũng có năm bảy thứ. Không phải bất cứ ai cũng có thể dùng được bất cứ mẹo nào. Nghĩa là có những cái mẹo mà ông Thành ông Duyệt không dám làm, hay không thèm làm vì sợ ô uế mất thanh danh. Nhưng ta làm được. Ta chỉ là một tên vô danh tiểu tốt.

Y lại cười to hơn trước:

- Thiên hạ ai biết thằng Cai Tuệ này là cái thằng chó chết nào mà chê với chẳng cười! Chỉ biết một khi mẹo ta thành ta sẽ được ban khen, ta sẽ được thăng quan tiến chức... Có tiền, có thế lực rồi thì... khỏi nói. Đứa nào ấm ớ, ông sai quân đánh cho vỡ mặt! Không thì cũng ở tù mọt gông!

Bọn đàn em phụ họa, bốc đàn anh lên như diều:

- Đại ca đã ra tay thì phải biết! Đến ông Gia Cát Khổng Minh sống lại cũng chưa chắc sánh bằng! Trời ơi! Phen này, đàn anh lập được công to thì đàn em cũng có phận nhờ đấy nhé. Nhưng...

- Nhưng cái gì?

- Nhưng không biết cái mưu thần của đại ca nó ra làm sao?

- Bí mật! Thiên cơ bất khả lậu! Rồi các chú khắc rõ. Bây giờ chỉ mới nên biết sơ sơ rằng bao nhiêu mưu thần chước quỷ đều nằm ở trong cái đầu này. Còn phép tắc "đảo hải di sơn" thì ta để cả trong cái túi áo này.

Vừa nói, y vừa vỗ vào đầu, rồi vào túi áo kêu bồm bộp.

Trời đã tối hẳn, y đứng dậy trong khi lũ kia còn ngồi nán lại tuyên bố phải uống cho kỳ hết chỗ rượu còn lại mới thôi. Y tỏ ra thông cảm:

- Được rồi, đêm nay chẳng có việc gì làm, các chú cứ phè phỡn cho thỏa thích đi. Mai hẵng hay. Bây giờ ta phải đi lo giương bẫy chẳng những chỉ để bắt có hai con mãnh hổ mà thôi đâu, mà còn tóm trọn ổ cả bầy chồn lũ cáo.

Ngẫm nghĩ một lát, y dặn dò đồng bọn:

- Đêm nay, ta về huyện Thanh Chương xếp đặt. Các chú chỉ có mỗi một việc thật dễ là lo giấu cho thật kỹ các bộ quần áo lính và những khí giới phòng thân thôi. Trưa mai các chú nhớ đội khăn mặc áo cho chỉnh tề, ta sẽ có việc điều động. À, ngựa cũng giấu đi, chỉ để lại một vài con dùng vào việc liên lạc với đoàn quân tiếp ứng mà thôi nhé.

Dứt lời, y phóng mình vào trong bóng đêm mất dạng.

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

CHƯƠNG II_HỒ SEN VOI PHỤC


CHƯƠNG II


Sáng sớm, trời mát mẻ là thế mà con ngựa toàn thân ướt đẫm mồ hôi, phi đến mạn phía bắc xóm Đình thì quỵ xuống, hất tung người cưỡi lên cao.

Con vật sùi bọt mép và không đứng lên được nữa, nhưng người cưỡi mặc dầu mặt mũi hốc hác, quần áo tả tơi, vẫn đứng vững sau khi uốn mình hai vòng thật đẹp trên không.

- Giỏi quá!

Khách lạ giật mình, ngó về phía có lanh lảnh tiếng reo, thấy một cô bé gái ngồi chễm chệ trên lưng một con ngựa bạch cao lênh khênh, đang mỉm cười nhìn mình, thích thú như một đứa trẻ xem diễn trò mãi võ.

Bực mình, người lạ mặt cau mày quát hỏi:

- Bé con, đây là đâu? Phải làng Bình Phú không?

- Dạ phải.

Cô bé vừa tung mình xuống đất vừa đáp, lễ độ, mặc cho con ngựa quen đường chậm rãi bước tới lũy tre gặm cỏ.

Khách vẫn một giọng ngang tàng, cấm cẳn, khó thương, hỏi trống không:

- Vậy xóm Đình đâu?

- Xóm Đình đây rồi chú.

- Sao không thấy đình?

- Tại chưa tới.

- Mà sao ta cũng chưa thấy cả cái cây cầu bằng đá nữa?

Cô gái cười khúc khích:

- Chắc tại vì chú hay là ngựa của chú thích chạy qua đoạn cầu bằng gỗ đấy.

Sực nhớ lời căn dặn của chủ tướng, gã kia đâm lo, chỉ sợ lạc đường thì khốn. Y cuống lên, quát hỏi:

- Thế nhà thằng Dũng đâu?

Người con gái hơi nhíu mày trước thái độ mỗi lúc một thêm lỗ mãng của người khách lạ. Nàng tức mình hỏi lại, giọng gắt gỏng... vì kẻ kia động chạm đến tên người nàng quen và quý mến:

- Dũng nào?

Dáng điệu ung dung của người con gái giống như một thái độ chọc tức làm cho người khách lạ điên lên:

- A, con nhãi ranh này! Không biết con cái nhà ai mà hỗn thế!

Lời nói chưa dứt, y đã xốc tới vung quyền lên đánh.

- Ơ ơ! Cái chú râu ria này, sao bỗng dưng lại đánh tôi?

Ngây thơ thực sự và ngạc nhiên cũng thực tình, cô gái nghiêng đầu tránh, bước sang phải, quay qua trái lùi lại đàng sau, vô tình nhắc lại đầy đủ và khéo léo phép né đòn chân truyền của dòng họ Bùi nổi tiếng ở Bình Định.

Ngày xưa, những lúc có chút thì giờ nhàn rỗi, bà Bùi thường muốn truyền dạy võ nghệ cho con gái, nhưng Bạch Liên nhất định không chịu học. Giận dỗi, gắt mắng hay dỗ dành thế nào cũng không được, bà thường than thở với chồng:

- Vợ chồng mình hiếm hoi được mỗi một mụn con gái. Em thấy nó xinh đẹp và nết na không mấy ai bằng. Cái mộng của em là làm thế nào cho con nó thâu góp được tất cả cái tinh hoa sở học của vợ chồng mình... Con bé thật thông minh, học một hiểu mười, nhưng chỉ phải cái ương ngạnh...

Ông chồng hỏi đùa:

- Có ương ngạnh bằng mình không?

Bà vợ cười:

- Em chỉ bướng bỉnh từng lúc và khi được giảng giải đàng hoàng thì hết ngang chướng ngay. Mình có nhận thấy thế không nào?

- Đúng vậy.

- Nhưng con gái chúng mình thì lại khác. Bình thường, nó ngoan thật là ngoan. Nhưng lúc nó ương ngạnh thì thật hết chỗ nói. Em cũng phải chịu thua nó đấy.

- Dĩ nhiên là anh cũng chịu hàng luôn.

Bà Bùi hậm hực:

- Em nghĩ mãi không hiểu tại sao con nó cứ khăng khăng một mực không chịu học võ. Người ta lạy sứt trán, cầu còn không được. Mình thì nói vã bọt mép dỗ dành con học không xong. Lắm lúc nghĩ tức mình ghê đi.

Ông Trần khoáng đạt hơn, an ủi:

- Con nó không thích thì thôi, mình để tâm làm chi cho mệt. Theo anh nghĩ, con nó rất thông minh có thể hiểu hết được những gì vợ chồng ta truyền thụ. Nhưng lĩnh hội được là một chuyện. Có đủ sức khoẻ để luyện tập được những gì lĩnh hội được lại là một chuyện khác. Không đủ lực mà cứ cố gắng tập cho kỳ được, e có hại hơn là có lợi. Chi bằng cứ để tùy ý thích của con. Bao giờ nó thấy cần học võ, vợ chồng mình dậy cũng chưa muộn...

Dù không chính thức tập luyện võ nghệ, người con gái sinh ra trong cửa tướng không thể không đắm mình trong một không khí võ từ thuở lọt lòng cho đến khi khôn lớn. Mỗi ngày một ít, các chiêu các thức nàng trông thấy biểu diễn và luyện tập liên miên thấm vào óc nàng lúc nào không hay. Cho nên tuy không hề tập tành, nàng vẫn có đầy đủ cốt cách của con nhà võ.

Những lúc vui đùa, cha mẹ nàng đôi khi giơ tay đánh dứ nàng. Lần nào nàng cũng tránh được đòn, đúng cách và nhanh như cắt!

Lần này, đối diện với người khách lạ, qua một phút thảng thốt đầu tiên, nàng cũng tự nhiên đối phó như tham dự một trò nô giỡn.

Lạ một nỗi, không những chỉ biết tránh né mà thôi, nàng còn đoán được rất đúng những miếng người kia sắp đánh.

Vừa quát xong một tiếng và tung ra một đường quyền sấm sét, người đàn ông hùng hổ đã ý thức được ngay cái lỗ mãng vô lý của mình. Nhưng khi thấy người con gái bé bỏng né tránh được một cách quá sức tài tình, y lại đâm ra thắc mắc, muốn thử xem tài nghệ của cô bé cao siêu đến mức nào.

Y tiếp tục đánh với tính cách dò dẫm. Và y ngạc nhiên rồi kinh sợ đến toát mồ hôi khi nhận thấy đối phương như đọc được hết cả ý nghĩ của mình.

Có lúc chưa kịp đánh ra, y đã vội rụt tay về vì thấy tia mắt tinh ranh của cô bé nhìn đúng vào chỗ sơ hở nhất mà nàng có thể đánh được nếu nàng có cái ý thích tai hại ấy.

Cuộc đấu võ lạ kỳ đã trót bắt đầu cứ phải miễn cưỡng tiếp tục. Một đằng là một cô bé ung dung gần như đứng yên một chỗ, trên môi luôn nở nụ cười. Còn một đằng là một đấng tu mi, râu hùm hàm én, vừa đấm vừa đá, vừa nhẩy vừa la, xoay như chong chóng mà toàn đánh vào chỗ không người.

Mặt trời đã lên cao, mồ hôi vã ra như tắm, y vội nhảy lùi, định thở một lúc rồi chạy phứt đi cho rồi.

- A! Thua rồi!

Tiếng reo mừng của nhiều người đồng loạt vang lên khiến cho người khách lạ giật thót mình vội quay lại ngó.

Y ngạc nhiên thấy mình đứng ở giữa một vòng vây, xung quanh toàn trẻ nít từ 15 tuổi trở xuống, đứa nào cũng thủ một cây gậy hay một đòn gánh chỉ chực phang.

Chúng không đông lắm, nhưng chia nhau đứng có phép tắc, phảng phất như trận đồ ông bà Thiếu Phó thường dạy cho quân sĩ.

Đang lúc chưa biết tiến lui bằng cách nào cho ổn, y bỗng nghe có tiếng vó ngựa từ cánh đồng phía Nam vọng tới.

Ngựa phi tới gần, bụi bay mù mịt. Rồi từ trên lưng ngựa một bóng người bay qua đầu lũ trẻ để buông mình xuống trước mặt y, nhẹ như một cánh chim. Lũ trẻ lại rập nhau reo:

- A! Anh Dũng!

Hai người đàn ông trố mắt nhìn nhau. Và cùng một lúc, cả hai cùng la lên vui sướng.

- Thằng Dũng!

- Chú Đồng!

Họ ôm chầm lấy nhau, một trẻ một già cùng rưng rưng nước mắt:

- Sao chú lại về đây?

- Tao đi gấp ngày đêm về tìm mày đó.

- Có việc gì thế chú? Chắc phải là chuyện quan trọng lắm.

Vòng vây đã siết chặt dần dần không phải để đánh nhau mà là để tò mò nghe lóng xem chú Đồng, con người lạ hoắc, có thể mang tin tức ở đâu về cho Dũng.

Đồng hạ thấp giọng, thói lỗ mãng đột nhiên biết mất nhường chỗ cho tính thận trọng:

- Quan trọng lắm mày ơi! Nguy hiểm nữa là đằng khác. Để lát nữa, lũ trẻ tản đi, chú sẽ nói tường tận cháu nghe. À, cô bé con kia là con cái nhà ai mà ghê gớm thế?

Dũng bỗng nhớ lại việc vừa qua, nhăn mặt hỏi:

- Sao chú hay gây sự ẩu thế? Cô Bạch Liên, con gái cưng của ông bà Thiếu Phó đấy.

Đồng hoảng hốt, mặt tái đi, nói như khóc:

- Chết cha tao rồi! Suýt nữa thì bỏ mạng. May mà cô ấy giỏi võ, nếu không lỡ đánh trúng cô ấy một thoi thì còn mặt mũi nào nhìn lại chủ tướng nữa. Dũng, mày nói mấy câu cho khéo để tao xin lỗi cô ấy đi.

Dũng cười hì hì, kéo tay Đồng đến trước mặt Bạch Liên đang ngó hai người trân trối:

- Em Bạch Liên à, đây là chú Lê Đồng, tùy tướng của ông bà Thiếu Phó. Chú là em kết nghĩa với thầy anh. Vì chưa có dịp nào về đây chơi nên không biết mặt em...

Bạch Liên cười thật tươi, hồn nhiên tiếp lời:

- Và cũng không biết đường tới xóm Đình nữa mặc dù đang đứng giữa xóm Đình!

Đồng chắp tay xá dài, trịnh trọng:

- Tôi lỗ mãng quá, thật là có lỗi lớn với cô, mong cô Bạch Liên vui lòng đại xá đi cho nhé.

Bạch Liên gạt đi:

- Lỗi phải gì đâu chú! Vụ lộn xộn vừa rồi, chú bỏ qua đi. À, chú về đây chơi hay có việc gì? Thầy mẹ cháu có nhắn chi về cho gia đình hả chú?

- Có chứ. Cụ có ở nhà không cô?

- Có. Bà cháu già cả nên ít khi bước ra khỏi cửa. Chỉ có ngày rằm, mồng một cụ mới lên chùa lễ Phật thôi.

- Vậy thì được rồi. Cô lên ngựa về nhà trước đi. Tôi với thằng Dũng theo sau. Có việc khẩn cấp phải trình cụ ngay tức thì. Dũng, tao với mày cưỡi chung một ngựa được chứ?

- Dạ được.

Đám trẻ trong làng dãn ra, bàn tán lao xao trước khi giải tán. Đồng không ngờ được giải vây một cách êm dịu đến như vậy, tự nhủ:

- Từ rầy, việc lớn việc nhỏ gì mình cũng phải ráng giữ gìn cho cẩn tắc. Suýt nữa thì mình làm hỏng cả một việc to tát chỉ vì cái tính nóng nẩy không đâu. Dù không phải tội, mình cũng sẽ ân hận suốt đời!...

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_HỒ SEN VOI PHỤC


 CHƯƠNG I


- Liên!... Bạch Liên!... Bạch Liên ơi Bạch Liên à!

Từ ngoài hàng rào, một chàng trẻ tuổi, thân hình cao lớn, cố hạ thật thấp giọng gọi vào, dường như sợ kinh động đến những con chim đang đậu trên cành hay những đóa hoa đang hé nở trong vườn.

Chàng sắp lên tiếng gọi tiếp thì từ trong ngôi nhà ngói ngự giữa vườn cây một cô gái, tuổi chừng 14, 15 hấp tấp bước ra mở cổng.

Chàng trai ngây ngất đứng nhìn ngón tay tháp bút của nàng đưa lên, để hờ hững trên môi mà tưởng chừng như nàng đang phác một cử chỉ thần tiên chàng chưa từng thấy.

Nàng ngạc nhiên hỏi, nhẹ như gió thoảng:

- Hôm nay anh đi đâu mà sớm thế?

- Thế tối qua em dặn anh cái gì, không nhớ sao?

Nàng mỉm cười, nụ cười êm như cánh bướm đậu trên một nụ hồng:

- Em dặn cái gì nhỉ? Em có dặn gì đâu! Anh Dũng là chúa hay tưởng tượng.

- Thật không? Vậy ai nói sáng nay có việc phải đi đâu sớm?

Người con gái khẽ gật đầu, mái tóc huyền xõa xuống đong đưa quanh khuôn mặt trái xoan tươi mát:

- À, câu ấy thì em có nói. Nhưng sớm lắm cũng phải đầu giờ thìn mới đi được. Đi sớm quá, bà mắng. Bà bảo đi lúc trời còn sương dễ bị cảm. Thầy mẹ em lần nào viết thư về cũng dặn dò em vậy.

Nàng ngẫm nghĩ một giây, bỗng cười khanh khách:

- Cả anh nữa, anh cũng cản hoài không cho em đi đâu sớm mà.

Nàng vội im bặt:

- Chết! Cười to quá, bà nghe thấy bà la!

Hai người sóng bước đi vào. Trên cây mấy chú chim cất cánh. Sương đọng trên cành rơi xuống lộp bộp trong khi những tiếng hót véo von vút lên cao.

Chàng trẻ tuổi nắm cánh tay cô gái:

- Không, bà không nghe tiếng đâu mà sợ. À, bà làm chi trong nhà vậy?

Cô gái nghiêng người, gỡ tay ra và tránh xa một chút:

- Bà đang tụng kinh đó. Cả thầy mẹ em cũng không bao giờ dám làm kinh động bà trong lúc bà lần chuỗi hạt.

- Được rồi, chúng ta nói chuyện thật khẽ.

- Thật khẽ nhé?

- Ờ. Thế bây giờ em trả lời câu hỏi của anh tối qua đi.

Đôi gò má ửng hồng, nàng đáp:

- Chịu thôi. Nói chuyện khác cơ. Em không thèm nghe chuyện ấy đâu.

- Ngoài chuyện ấy, anh có biết chuyện gì nữa đâu mà nói.

- Xí. Thế thì anh dở quá. Con trai phải nói chuyện dẹp loạn yên dân, con gái phải lo cứu giúp những người cơ nhỡ, thiếu gì chuyện đáng nói. Thế mà thầy mẹ em vẫn khen anh là người khá, có cốt cách...

Chàng trai ngây người nhìn cô gái mỗi lúc một đẹp thêm lên. Đôi mắt tinh anh, giọng nói cương quyết và vóc dáng mảnh mai yếu ớt của nàng, mỗi điểm nhỏ nhặt đều mang một nét quyết rũ tuyệt vời.

Đột ngột, nàng trỏ tay lên ngọn cây ở hướng đông:

- Ồ, mặt trời đã lên cao rồi. Em phải đi đây. Anh ở lại một lát xem bà em có sai bảo gì không nhé.

- Được, nhưng em đi đâu? Phải nói trước để bà có hỏi, anh biết đường mà thưa lại.

- Vâng. Sáng nay em lên xóm trên làm giúp bà Hai Lộc một buổi, tội nghiệp, bà ấy mới ở cữ xong còn yếu ớt mà hai ba đứa con cùng lên sởi một lúc.

- Ờ nhỉ, mẹ anh cũng có nói, trưa nay làm đồng về sẽ ghé thăm bà Hai và giúp đỡ bà ấy gánh khoai.

Bạch Liên huýt gió thật nhẹ nhàng. Từ phía sau dãy nhà ngang, một con ngựa bạch yên cương sẵn sàng cất vó bay tới. Nàng thót lên yên thành thạo như một tay kỵ mã lành nghề.

Anh chàng Dũng si tình lẩm nhẩm một mình khi ngựa phi ra khỏi cổng rồi mất hút.

- Con nhà tướng có khác! Trông cung cách sải ngựa, đố ai dám bảo con nhỏ từ bé đến giờ chưa hề tập võ!

Có tiếng ở trong nhà hỏi vọng ra:

- Con Liên đi lên xóm trên rồi phải không?

Nhảy vội lên mấy bực thềm bước vào nhà chàng thưa:

- Thưa bà. Vâng ạ!

- Thằng Dũng con nhà Cả xóm Đình đấy hả?

- Dạ. Con đây ạ.

- Ờ, vào đây bà bảo. Lấy cái cối để trên bàn thờ kia, giã giùm cho bà cối trầu đi con.

Bộ cối giã trầu của bà cụ thật sang, khác hẳn bộ quần áo nâu sồng và đồ đạc bày biện chung quanh.

Đỡ lấy cối trầu ngắm nghía, bà cụ mỉm cười khen:

- Ờ, thằng bé này mạnh tay, giã trầu bao giờ cũng đỏ thắm và ngon đáo để.

Lần nào cũng như lần nào, bà cụ khoe, nhắc đi nhắc lại một chuyện cổ tích mà cả làng đều thuộc.

- Đức Vua biết vợ chồng nhà Diệu còn mẹ già nên người ban thưởng cho bà một bộ cối giã trầu bằng ngà voi có bịt vàng. Càng lâu, ngà lên nước càng đẹp.

Bà cụ ngậm ngùi:

- Thấy vật lại nhớ đến người. Tiếc Đức Vua chết trẻ bao nhiêu, lại thương vợ chồng nhà Diệu vất vả bấy nhiêu.

Rồi cụ thở dài, rơm rớm nước mắt:

- Còn con nhỏ Bạch Liên, cứ nhớ và nhắc đến bố mẹ nó hoài. Riết rồi lại thương luôn cả con Tiểu Tượng nữa mới khổ chứ.

Dũng mỉm cười:

- Vâng, em con thương chú voi con ấy lắm. Con còn nhớ cái ngày thả nó vào rừng. Bạch Liên khóc sưng húp cả mắt.

- Thì biết làm sao khác được. Nhà cửa thanh bạch thế nầy lấy đâu ra mà nuôi nổi một con voi mỗi ngày mỗi lớn, ăn thật khoẻ, phá cũng thật mạnh...

- Thưa bà, thật tình con cũng như cả làng ta chỉ biết ngày xưa Đức Vua ban cho ông bà Thiếu Phó một con voi chứ không ai hiểu rành sự tích của nó ra sao.

Bà cụ tươi cười như sống lại những ngày rực rỡ đã qua:

- Thế hả? Có gì đâu, để bà kể cho mà nghe. Chắc con còn nhớ sự tích năm Kỷ Dậu chứ?

- Thưa bà, vâng, con nhớ. Năm ấy, thầy con còn sống, có theo Vua cùng ông bà Thiếu Phó ra lấy Bắc Hà và đánh trận Đống Đa.

- Phải rồi. Quân ta đánh đuổi quân nhà Thanh một trận mù trời tối đất. Rồi ban sứ về Phượng Hoàng trung đô (1) luận công phong thưởng cho các tướng sĩ. Ngày ấy là một ngày vui sướng nhất của Đức Vua cũng như của thầy mẹ con Bạch Liên.

- Và cũng là ngày vui sướng nhất của toàn dân đó thưa bà.

- Ờ, con nói phải. Trời xui khiến sao bữa ấy lại nhằm ngày sinh nhật của con bé Bạch Liên lúc đó mới lên ba lên bốn thì phải. Đức Vua cao hứng vỗ vai nhà Diệu, nói mấy câu thân mật mừng "Chú thím Diệu" mà Người lúc nào cũng đối đãi như em ruột. Người đang vuốt râu ngẫm nghĩ không biết mừng cho cháu bé vật chi ngồ ngộ thì thị thần vào tâu có một thớt voi vừa hạ sanh được một chú voi con thật kháu khỉnh. Người cười lên ha hả, đặt tên cho bé voi ấy là "Tiểu tượng" và làm quà cho bé Bạch Liên cưỡi chơi cho vui. Hà hà!...

Dũng cười theo:

- Chỉ Vua Chúa mới có món quà sinh nhật quý lạ ấy. Chả trách em Bạch Liên con lúc nào cũng chỉ thích cưỡi voi.

- Ờ, nó là con nhà tướng mà. Chả phải tập tành chi cả cũng phi ngựa cưỡi voi thuần phục đáo để.

- Thưa bà, quả vậy. Duy có điều này con lấy làm kỳ. Em con thích làm con cháu bà Trưng bà Triệu, sao cứ nhất định không chịu học võ trong khi ông bà Thiếu Phó võ học đầy mình mà không có người để truyền nghệ.

- Tại nó không thích đánh nhau, lại càng không thích trông thấy cảnh chém giết. Thầy tướng bảo nó có cốt cách thần tiên, không ưa sát phạt. Nó chỉ ham làm việc thiện để chuộc tội cho tất cả mọi người. Bà nghĩ làm được điều đó cũng xứng đáng làm con cháu bà Trưng bà Triệu...

Sực nhớ ra một điều, Dũng đánh bạo hỏi:

- Thưa bà, sáng nay có chuyện gì buồn không mà con thấy mặt em con có ngấn nước mắt?

Vừa nhai trầu bỏm bẻm, bà cụ chậm rãi đáp:

- Có, có một chuyện hơi buồn. Chả biết có phải là một điềm gở không. Bà mong đó chỉ là một chuyện tào lao.

- Chuyện ra sao, thưa bà?

- Đêm qua, bà nằm mộng. Một cái mộng thật dữ dằn. Bà sợ quá. Sáng ra kể lại cho con Liên nó nghe. Nó lo nên nó khóc.

- Mộng thế nào hở bà?

Bà cụ vơ cái ống phóng tròn nhỏ bằng đồng bạch để trên bàn, nhổ cốt trầu trước khi kể, giọng chìm hẳn xuống:

- Canh ba đêm qua, bà nằm mộng thấy vợ chồng nhà Diệu lâm nguy. Cả hai sa xuống một cái hố sâu đầy rắn rết, cố gắng mãi không làm sao lên thoát được. Đứng trên miệng hố, con bé Bạch Liên dang rộng hai cánh tay yếu đuối cố cứu cả cha lẫn mẹ. Đã không lôi được ai lên thì chớ, nó lại còn chới với, ngã xuống theo... Bà giật mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra đầy mình, tai còn nghe văng vẳng tiếng rú thê thảm của con bé khi đụng chân vào lũ rắn...

Dũng tìm lời trấn an:

- Ông bà Thiếu Phó đi chinh chiến lâu ngày, bà mong nhớ nên sinh ra mộng mị. Chả có gì đáng tin cả, bà ạ, vì mấy ngày rầy con nghe nói ông Thiếu Phó vừa thắng được một trận thật lớn và đã hạ được xong thành Qui Nhơn rồi.

- Ờ, tin ấy bà cũng đã có nghe. Bà vui mừng nhất không phải ở chỗ con trai bà hạ được thành, mà ở chỗ nó đã tự ý tha chết cho tất cả các tướng sĩ địch, không giết hại một người nào, cũng không ép buộc một ai phải quy hàng.

Chàng trai trẻ hớn hở tiếp lời bà:

- Thưa bà, vâng ạ. Thiên hạ đã khâm phục tài thao lược của ông Thiếu Phó, lại càng cảm phục tấm lòng nhân ái của ông. Thói thường, sau những trận vây đánh khó khăn vất vả, lúc hạ thành xong kẻ thắng hay phóng tay sát hại thật nhiều cho hả giận. Ông Thiếu Phó, trái lại, rộng lượng tha hết. Lại còn lo tống táng cho hai người tuẫn tiết là Vô Tánh và Ngô Tùng Châu thật tươm tất. Ông hơn người ở chỗ đó. Bà và em Bạch Liên, cả con, cùng tất cả mọi người trong làng ta nữa, cũng đều được hãnh diện ở điểm đó.

Sẵn siêu nước sôi trên lò, Dũng bắc ra pha trà dâng bà cụ. Chàng nấn ná ngồi hầu chuyện, bụng bảo dạ lát nữa ấm áp vào rừng đốn củi cũng chưa muộn.

Bà cụ vui miệng tâm sự:

- Con à, lo thì bà có lo, buồn bà cũng có buồn. Nhưng nói cho ngay, con người ta có số cả, thành hay bại là do mệnh trời, lo buồn làm chi cho mệt. Như Đức Vua tài đức trùm đời, bỗng dưng tạ thế thì nước Nam mình còn biết nói sao? Đến như vợ chồng nhà Diệu, cả bạn lẫn thù đều xưng tụng là danh tướng. Mà thế gian thường ngâm nga hai câu thơ thế nào về mỹ nhân và danh tướng, con có nhớ không?

- Thưa bà, có ạ, để con ngâm bà nghe.

Chàng hắng giọng ngâm:

"Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu"


- Ờ, phải rồi, hai câu ấy đó. Thầy con Bạch Liên là danh tướng đã đành. Mẹ nó tuy đã hai thứ tóc trên đầu mà vẫn được coi vừa là mỹ nhân, vừa là danh tướng nữa mới chết người ta chứ.

Dũng bỗng thấy hăng hái:

- Con có nghe kể những trận đánh long trời lở đất của ông bà Thiếu Phó. Cái chết lúc nào cũng gần kề, chỉ cách một đường tơ một kẽ tóc.

Người mẹ già họ Trần bỗng rầu rầu nét mặt:

- Từ ngày Đức Quang Trung hoàng đế băng hà, bà thấy như nước ta gãy mất cây cột chống trời. Vợ chồng nhà Diệu chịu ơn nặng tiên đế thác cô, tuy vẫn tận tụy giúp thiếu quân nhưng bà thấy như có ý chán nản... Bây giờ, nếu họ có mệnh hệ nào...

Bà cụ nói tiếp sau một phút trầm tư đầy cay đắng:

- Bà đã 80 tuổi rồi, cái tuổi gần đất xa trời, như ngọn đèn trước gió. Chỉ tội nghiệp cho con bé Bạch Liên bơ vơ mà thôi...

Đang nói chuyện, hai bà cháu bỗng giật mình nghe có tiếng người la thất thanh ở ngoài cổng. Tiếng chân chạy hấp tấp vào nhà cùng với tiếng la mỗi lúc một rõ:

- Anh Dũng ơi! Ra mau. Có người đang đánh cô Bạch Liên ở xóm Đình nhà anh kia kìa. Mau lên! Y dữ tợn lắm.

Cùng sợ hết hồn, hai người một già một trẻ đứng phắt dậy, thấy thằng Sáu Hợi bước lên nhà thở hổn hển.

- Có một người lạ mặt, cưỡi ngựa đến làng ta. Y cao lớn vạm vỡ, tính nóng như lửa. Y hỏi thăm đường, chả biết cô Bạch Liên nói thế nào mà y vung quyền đánh tới tấp. Anh Dũng phải lấy ngựa chạy mau lên mới cứu kịp.

Bừng bừng lửa giận, Dũng phóng mình ra cửa, không kịp để lại một lời chào.

----------------- 
(1) Tên Vua Quang Trung đặt cho tỉnh Nghệ An.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II

Hồ Sen Voi Phục




Truyện : CHÂN PHƯƠNG
Loại Hoa Đỏ


Sưu tầm và đánh máy : Nguyễn Tuấn, Nhạt Nắng, Yên Chi

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Hổ Về Buôn


Heo Mọi hấp tấp bỏ chạy. Hai bên mỏ của nó vương vãi chút nước gạo vo. Thằng Pay tinh nghịch rượt nà, không để con heo vục mỏ vào cái nồi đất sét nung thô thiển. Cái nồi đã mẻ một góc to và dùng đựng cặn cơm nguội cho mấy con gà. Heo Mọi chạy cà cồng. Nó không dám luồn quanh dưới sàn nhà mà băng riết qua rẫy dưa gang vừa đơm bông. Thằng Pay cười hăng hắc, tiếp tục ném đất về phía Heo Mọi. Cho đến khi Heo Mọi mất dạng thằng Pay vẫn chưa bỏ cuộc. Thằng Pay xục xạo từng lùm bụi khả nghi. Có tiếng sột soạt khẽ sau lưng. Thằng Pay đắc ý, quay phắt lại, ném thẳng tay. Thằng Pay chỉ nghe tiếng chó tru tréo vì đau đớn. Con Mực cụp đuôi dông về. Thì ra thằng Pay lầm Heo Mọi với con chó trung thành. Không lộn sao được khi tên Heo Mọi nuôi 5, 6 tháng vẫn choắt cheo như con chó giữ nhà. Lông đã đen đúa khó coi, nó lại hay đẫm bùn ở bất kỳ cái vũng cạn sệt nào. Nó chỉ được cái đỡ tốn cơm, nhờ nó biết tự kiếm ăn, đào củ, moi khoai với rau dại… trong rừng. Mấy hôm rày Heo Mọi trở buồn. Không phải vì cô đơn (Chủ nhà lớp bán, lớp ăn, bầy heo chỉ còn sót lại Heo Mẹ và 2 heo con thôi.) mà vì 1 hung tin : “Hổ về buôn”. Hổ đã cắn đứt họng chú Trâu Be. Khi thợ rừng tìm Trâu Be để tròng ách kéo cỗ xe gỗ về mới hay. Người ta không dám thả trâu đi rong nữa. Đến phiên mấy gã Bò khờ khạo bị Hổ đến tận chuồng cõng đi. Có lần phát giác kịp, người ta đập cồng cầu cứu ầm ĩ cả buôn. Con Hổ thoát một cách tài tình. Thợ săn quả quyết đây là con Hổ già. Những dấu chân nó chứng tỏ móng đã mòn, không phải nó biết thu vuốt như mèo. Thêm một lẽ nó không còn sung sức và nhanh nhẹn để bắt giết thú rừng. Nó phải mò về buôn vồ gia súc chậm chạp, hiền lành nếu không muốn chết đói. Lỡ gặp loài người, trong tình thế chẳng đặng đừng nó dám tấn công dù no hay đói. Chưa có gì mà Hổ đã gieo bao kinh hoàng cho khắp dân trong buôn vốn sống an lành từ 2 năm qua. Họ không chịu được sự đe dọa thường trực, khiến tinh thần căng thẳng mỗi khi đi rừng nữa. Họ hô hào làm hàng rào cọc nhọn xung quanh buôn, rồi đào hầm chông, đặt bẫy sụp, bẫy cần, bẫy giựt… rải rác mọi nơi. Cha mẹ cấm trẻ con vào rừng lượm nấm, củi, ăn ong… (xưa giờ vẫn là dịp tốt cho chúng đùa nghịch, tắm suối, bắn chim với hái trái…) Cha mẹ lo sợ con cái sa bẫy của chính họ. Điều đó cũng ảnh hưởng lây đến gia súc. Trẻ con và gia súc mất cả tự do. Heo Mọi thèm thuồng nhìn qua kẽ hở của hàng rào tre tầm vông. Ngoài kia là khoảng rừng rộng đầy quyến rũ. Chim vẫn hót líu lo, thanh thoát. Bất chợt Heo Mọi gặp một chỗ đất bùn. Một tên Cày Hương ra dáng đạo tặc đang đào, khuân đất, làm một đường hầm thông thương trong và ngoài hàng rào. Tên Cày Hương có thể luồn lội qua hàng rào với thân hình nhỏ bé. Nhưng nó muốn phá phách và tạo một lối đi thư thả hơn. Có lẽ nó sợ người ta thấy đang tha vật thực trộm được nên phòng xa, bề gì nó quẳng đó, thoát thân cũng dễ. Tên Heo Mọi lân la làm quen, định dụ tên Cày Hương nới rộng địa đạo. Tên Cày Hương nghi ngờ ý kiến của Heo Mọi bèn rút vào rừng. Heo Mọi chẳng thất vọng, trái lại còn tiếp tục moi lấy. Heo Mọi sử dụng mỏ, chân triệt để. Lâu lắm, nó chui lọt ra ngoài và thở một hơi dài khoan khoái. Khí trời nào khác bên trong, nhưng sao ở ngoài hàng rào Heo Mọi cảm thấy thay đổi rất nhiều. Heo Mọi quên mất lời Heo Mẹ, nhắm hướng bìa rừng thẳng tiến. Tiếng chim vang lời chào anh bạn vừa gặp lại. Heo Mọi vui chân đi xa lắm, tận nguồn con suối trong vắt. Gia đình Rùa lười biếng nằm phơi mai, dưới ánh nắng chênh chếch qua lá rừng giao khít ngọn cây. Oắt Rùa chộ tên Heo Mọi:

- Mày coi chừng Cá Sấu táp giò.

Heo Mọi e dè ngó quanh quất chỉ thấy mấy dấu chân Nai, Hoẵng thôi. Nó chợt nhớ đến lão Hổ. Ngẫm nghĩ một hồi, nó tìm lối quay về. Oắt Rùa nhướng mắt cười nhạo rồi thụt đầu, chân vào cái mai nứt nẻ ngủ tiếp. Heo Mọi cố lắng nghe tiếng chuông leng keng nơi cổ tụi Trâu Be để biết phương hướng. Cùng lắm nó sẽ dọc dòng suối mà không sợ lạc lối. Heo Mọi dừng bước để moi sắn dây. Loại củ này cũng khá hấp dẫn. Heo Mọi chợt nghe tiếng khịt mũi gần bụi sim. Đôi mắt hấp háy của nó nhận ra đôi sừng cong bén của lão Trâu. Nó không chọc ghẹo ai, nhưng sao đôi mắt ngầu đỏ của lão Trâu đầy vẻ gây sự.

- Ê, làm gì đó?

- Đào sắn.

Lão Trâu lúc lắc cái đầu tiến tới:

- Mày không ngán tao?

- Còn lâu, tôi đi về nhà ăn cám đây.

Lão Trâu Núi cộc cằn, không như Trâu Be được người nuôi thuần thục, giận dữ lao mình nhắm bụng tên Heo Mọi để lụi đôi sừng vào. Heo Mọi đâu dám đương đầu. Nó chạy ngoằn ngoèo. Nó không khôn lanh làm giảm tốc độ lão Trâu Núi, mà bởi nó còn phải nhìn nghiêng xem lão Trâu Núi rượt tới đâu. Chạy một hồi, Heo Mọi có cảm giác bất ổn. Lão Trâu Núi trốn chăng? Hay lão rình ở gốc thông nào? Một cái bóng vằn vện vút ngang làm hoa mắt Heo Mọi. Mùi tử khí như lảng vảng. Heo Mọi điếng hồn và nhũn cả 4 chân. Thôi chết rồi, sát tinh Hổ Vằn xuất hiện. Nhưng lão Hổ vẫn chưa thấy con mồi bé nhỏ. Đối tượng của lão Hổ là lão Trâu Núi to sầm sầm. Heo Mọi cố gắng mở to cặp mắt hí để quan sát. Lão Hổ bình tĩnh rạp người, bước khoan thai và nhích lần thân hình uyển chuyển. Những lằn đen vàng chuyển động lẫn với đám cỏ tranh như gió đùa cỏ làm dợn sóng. Trái lại lão Trâu Núi đang tức tối giậm chân, hoác mồm ra mà rống. Khí thế của lão theo đám bụi đất bắn hung hăng. Lão Hổ rình nhảy lên lưng lão trâu. Lão Trâu chờ lão Hổ ló ra sẽ chém tét bụng địch thủ. Thình lình lão Trâu Núi tấn công. Tên Heo Mọi nhắm tịt mắt, tưởng chừng mình sắp là nạn nhân. Lão Trâu Núi lao mình nhanh không kém gã lực sĩ Tê Giác lúc nổi cơn.  


Chiêu đầu tiên bị hụt vì Hổ Vằn đã kịp thời né sang bên. Cái đuôi lão Hổ không ngớt đập, vừa lấy đà vừa đếm nhịp con tim. Đôi bên ghìm nhau từng cử động. Rồi lão Hổ xông lên. Lão Trâu nào kém, giơ sừng hứng đòn. Trận quần thảo loạn đả và chấm dứt cũng nhanh. Lão Hổ bất tài không đủ sức hạ địch thủ tuy kém mình mà dám liều mạng. Hổ Vằn xước một bên mông và bỏ cuộc. Lão Trâu Núi chưa lãnh dấu răng nào nhưng trầy trụa cùng mình. Lão Trâu ngơ ngác tìm bóng lão Hổ. Lão chẳng thấy gì ngoài cái bóng đen của tên Heo Mọi vừa tỉnh táo, ù té chạy. Nhớ chuyện hồi nãy, lão rượt ngay. Tên Heo Mọi chạy bán sống bán chết. Ghê thay cho lão Trâu, lão Hổ còn phải nhịn nữa là Heo Mọi. Gì chứ chạy thì Heo Mọi thừa sức. Thấp thoáng mấy nếp nhà sàn hiện ra khiến Heo Mọi vững tâm. Cũng là lúc Heo Mọi nghe lão Trâu Núi rống lên kinh hoàng. Mặc lão, Heo Mọi quên tuốt ngõ địa đạo. Nó đến cổng rào “ột ệt” cầu cứu vang rân. Mấy đứa nhỏ kéo nó vô trong khi người lớn tay ná, tay mác ào đến chỗ Trâu bị nạn. Lão Trâu Núi rớt xuống hầm chông thủng ruột, chết thê thảm. Người ta còn khiêng theo hai con heo nữa về. Đó là Heo Mẹ và Heo Chị của Heo Mọi, vì đi tìm Heo Mọi nên bị sụp bẫy. May thay, ở đó không có chông nhọn như chỗ lão Trâu Núi rớt. Heo Chị từ đấy què 1 chân và đi khập khiễng. Heo Mọi tắt hẳn ý định lẻn vào rừng một mình. Tin lão Hổ càng ngày càng lộng. Lão đã khỏi phải đối phó với Trâu Núi đáng ngại thì sợ gì ai : “… lão chụp tét lưng một thợ săn. Vết thương hành ông ta nằm mất ba bữa. lão cắn cụt tay ông già đi hái thuốc. Đêm đêm lão Hổ thơ thẩn quanh vòng rào. Gia súc nghe động nhốn nháo từng chặp. Lão ám ảnh đàn bà, trẻ con yếu bóng vía. Họ nhìn cái gì cũng hoa lên và tưởng là Hổ. Ôi! Cái oai của con Hổ về già…” Dân trong buôn quyết mời cho được một tay thiện xạ dưới đồng bằng. Họ cần ông diệt trừ Hổ với bất cứ giá nào. Ông này theo đuổi Hổ cả mấy tuần liền. Hễ ông lùng khu Đông, Hổ kiếm ăn khu Tây. Ông đi cuối con suối, Hổ men lên ngọn suối. Luôn luôn Hổ tránh mặt nhà thiện xạ. Dĩ nhiên Hổ đói lả. Nhà thiện xạ cũng hơi nản chí. Ông thực hiện một mưu kế mới. Ông tìm một con vật hy sinh. Tên Heo Mọi được lựa chọn trong đám bạn ốm yếu hơn nó. Ông ta biết lựa khúc suối Hổ Vằn hay ra thấm giọng. Con mồi Heo Mọi vùng vẫy. Cái dây choại bện chắc quá. Heo Mọi đâm tuyệt vọng nhưng không ngừng than khóc. Nó có dám lén vào rừng nữa đâu, sao người ta lại cột nó nhử Hổ. Heo Mọi gào lên gọi mẹ, gọi anh em… Càng tốt, nhà thiện xạ mong lão Hổ đánh hơi mò đến, heo kêu hoài Hổ sẽ chú ý không khó. Ông ta tin chắc con Hổ sẽ ngã lăn ra với 1 phát đạn mà thôi. Ông ta kiên nhẫn ngồi thu hình trên chảng ba của cây chai gần đó. Đêm xuống dần. Khí rừng lạnh căm căm. Hơi đất ẩm bốc lên, khí núi bay về, sương xuống… sẽ hợp lực chiến thắng sự chống chọi dù là một đống lửa. Nhà thiện xạ không thể đốt lửa. Ông ta chỉ nhờ vào cảnh tranh sáng tranh tối của vầng trăng lưỡi liềm. Trong cái thảm đạm có tiếng heo kêu đứt quãng và tiếng vượn hú xa xăm gây bao hồi hộp cho người chờ đợi. Rồi lão Hổ cũng đến. Lão đến đêm sau. Khi nhà thiện xạ mòn mỏi vừa chợp mắt. Vào cái lúc mà ông ta không chờ không đợi. Như một cái máy, nhà thiện xạ nâng súng lên vai. “Đoành, đoành” ông ta bắn hai phát cho chắc ăn. Nhưng lạ kìa, con Hổ biến mất. Còn Heo Mọi thì nằm thẳng cẳng. Nhà thiện xạ tuột xuống đất, dụi mắt và đến nơi buộc mồi xem xét. Heo Con còn sống, không xây xát chi. Những đốm đo đỏ chảy dài một vệt. À, có thế chứ! Con Hổ đã bị thương và thoát đi. Ông ta phải đuổi theo hạ sát nó cho kỳ được. Bây giờ mới bắt đầu một trận đấu chính thức và cam go. Con Hổ có thể trả thù, rình rập nhà thiện xạ bất cứ lúc nào. Ông ta săn đuổi nó, hay ngược lại?

Heo Mọi ngồi bật dậy. Nó chưa sao cả, nó còn vướng sợi dây quanh mình, nhưng sợi dây đứt vừa khéo với phát súng của nhà thiện xạ. Còn chờ gì mà không đào tẩu. Heo Mọi không muốn trở về buôn nữa. Nó lang thang. Bề nào chủ nuôi cũng không săn sóc nó chu đáo cho lắm. Mọi khi nó vẫn no nê nhờ khoai, cám, bắp… thừa của chủ nuôi kia mà. Heo Mọi cố gắng tránh mùi người quái ác, vì sợ bị bắt nhử Hổ lần nữa. Nó tự hào vượt thoát nanh vuốt Hổ Vằn. Nó cần tận hưởng cái thú tự do, không quan tâm đến thời gian. Cứ lẩn lút Heo Mọi đói ăn, khát uống, ngủ bờ ngủ bụi. Cho đến một hôm, Heo Mọi gặp đồng loại. Một chú Heo Rừng. Thật ra phải gọi là chú Heo Lăn Chai. Heo Mọi và chú ta đều cô độc. Trái với Heo Mọi, chú dữ dằn và không phân biệt được bạn. Đối với chú ai cũng là đối tượng thù hằn. Chú cần thử thách bộ da dày và răng nanh. Thường thường chú ta tắm đặc biệt bằng cách nhào xuống vũng nước sền sệt đất bùn hay đất sét. Sau đó, chú ta cà lưng vào cây chai hay cây dầu trong rừng. Nhựa cây chảy dài từ chỗ vỏ cây mòn, bể ra, quện với bùn dính lông, đóng thành 1 lớp cứng che chở cho vai, ức và ngực của chú ta hiệu quả như một người lính mặc áo giáp. 4 răng nanh của chú ta thì 2 cái hàm dưới đâm ra ngoài miệng và uốn cong lên. Hiện giờ chú đang thịnh nộ. Chú đập mạnh 2 hàm răng nghe cồm cộp và chuẩn bị tấn công. Heo Mọi hoảng hốt chạy liền, không kịp phân trần. Chú Heo Lăn Chai vừa chúi đầu xuống sửa soạn đâm người tới trước, húc từ phía dưới lên trên, nhưng khi trông lên mục tiêu đã biến mất. Chú ta vểnh cặp tai nhọn lông màu sậm hơn lông xám trên thân để nghe ngóng. Độ chừng “kẻ thù” đã rời khỏi khu vực hạn định mà chú ta chọn sẵn, chú ta dừng lại để ẩn núp. Có lẽ chú ta lại ngủ, chờ tối mới đi tìm lương thực như thói quen.

Heo Mọi vấp một thân cây khô và khựng lại. Nó tiếc mình không có nanh để chống cự với chú Heo Lăn Chai. Heo Mọi chợt nhớ buôn xưa có mẹ, có chị, có bạn bè… Heo Mọi chấm dứt chuyến phiêu lưu. Nó tìm lối quay về chốn cũ để tìm lại sự che chở với thương yêu. Ròng rã 1 ngày hơn, Heo Mọi đã thấy dạng ngọn đồi mòn. Khung cảnh tang thương hiện ra trước mắt nó. Không còn gì sót lại, họa chăng chỉ là đám tàn tro ngun ngút khói. Họ đi trốn Hổ? Đâu có ai giải đáp nghi vấn cho heo Mọi. Dân trong buôn đã đến lúc tìm nơi trú ngụ mới cho hợp với đời du canh. Đất đai nơi đây đã cằn cỗi và cạn dưỡng chất. Nhà thiện xạ vẫn chưa kéo xác Hổ Vằn về. Họ bỏ đi là phải. Đi nơi khác sẽ yên tâm, khỏi phập phồng sợ Hổ về. Họ cũng không hay biết lão Hổ Vằn bị thương nặng, khi lẩn trốn đã đụng độ một trận dữ dội với chú Heo Lăn Chai lì lợm. Lần thứ ba lão Hổ thất bại. Lão Hổ Vằn ôm hận đào tẩu. Lão thề sẽ trả thù với bất cứ giá nào. Vô tình lão lần về phía một buôn khác. Chưa biết nơi đó người ta sẽ đón tiếp lão bằng phương thức nào.

Tên Heo Mọi thờ thẫn trong đám tro tàn. Nó chảy đôi dòng lệ bơ vơ. Từ nay Heo Mọi thực sự cô độc. Heo Mọi nhìn bao quát từ trên đỉnh đồi mòn, cố thu hết kỷ niệm lần cuối. Rồi nó băng mình vào rừng rậm. Mấy nương rẫy trơ dấu vết canh tác đìu hiu cỏ mọc. Hình như cạnh những dây dưa gang khô lá chết còn mờ mờ dấu chân lão Hổ. 1 con Hổ về già vẫn đủ sức gây lắm tai họa cho muông thú lẫn loài người.


PHAN KHƯƠNG THÁI   


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>