Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

CHƯƠNG IV_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG IV


Bác San không thấy lạnh vì tâm trí đang mơ tưởng đến bữa ăn nóng sốt, ngon lành. Thú nhất là bác chẳng tốn tiền mua, chính cô Bích Huệ, chị của Mỵ Lan đã biếu bác sau khi mua vải. Con người mới xinh đẹp và tử tế làm sao! Nhưng mà… suy cho cùng, cô ta cũng là phụ nữ, mà phụ nữ thì… không thể tin được.

Bây giờ bác lại nghĩ đến bữa ăn tối, thường thường, bữa ăn tối là bữa ăn bác San thích nhất, không vội vàng như bữa điểm tâm, cũng không đạm bạc quá như bữa ăn trưa. Bữa tối, bác có thể ngồi kề cà, thong thả, vừa ăn vừa nghĩ đến vàng! Vàng sáng lóe, xinh đẹp, trung thành, không mè nheo, quấy phá. Vàng! Đẹp hơn mặt trời lúc bình minh, hơn cả trăng đêm giữa tháng, lửa ấm chiều đông và hoa xuân buổi sáng đều không so sánh được với vàng!

Có khi cao hứng, bác khuân vàng ra, đổ lên bàn, vừa ăn vừa ngắm, thật không thú nào hơn thú ngắm vàng.

Đáng ra, bác không vội gì mà dầm thân trong mưa gió thế này, số là sau khi cô Bích Huệ mua vải bác, khen đẹp lại dặn bác dệt gấp cho cô một số nữa, y như thế đặng cô biếu người chị họ của chồng cô.

Lên khung sắp dệt, bác nhận ra là bác thiếu mất một thứ sợi đặc biệt để dựng đường biên, thiếu thứ sợi đó, tấm vải mất đi chút ít giá trị, nó chứng tỏ đó là vải của bác San, người thợ dệt mười lăm năm cư ngụ tại làng Vệ, vải đẹp, tốt, bền có thể so sánh với thứ vải đặc biệt từ các thị trấn lớn đem về, mà các thứ từ thị trấn lớn đem về lại đắt hơn!

Thế là, bác San băng đồng xuống phố, mua. Không cần gài cửa, vì bác chẳng đi lâu lắm, vả lại, ai mà thèm đến nhà bác vào đêm mưa gió tối tăm thế này? Còn tụi đạo chích thì chúng đâu có điên mà lò dò ngang hầm đá? Rủi lọt chân xuống đó có mà bỏ đời. Bác San rất yên tâm.

Về đến nhà, bác San không nhận thấy dấu vết gì cả, mắt bác kém quá. Bác lo thêm dầu vô đèn rồi cất mũ, dẹp bao; đoạn ngồi lại, sửa soạn làm món thịt ngon mà không tốn xu nào, vừa sưởi ấm một cách nhàn nhã.

Trong lúc chờ cho thịt ăn được, bác nghĩ đây chính là lúc ngắm vàng. Cửa nẻo đã đóng chặt, ma nào lảng vảng đến đây mà lo? Bác sẽ đổ hai túi vàng bạc lên một nửa bàn (còn một nửa để chừa chỗ dọn bữa) vừa ăn, vừa ngắm như thói quen dạo gần đây!

Bác San cầm đèn đi lại khung cửi, đặt lên nền gạch, hì hục bới cát cạy gạch lên, nâng bỏ qua một bên. Chúa ơi! Bên dưới rỗng không! Trống ngực đập liên hồi như trống trận, bác đờ người ra. Trời lạnh ngắt mà mồ hôi tuôn dòng dòng xuống mặt, xuống trán, người bác nóng bừng lên.

Không, bác không tin rằng vàng đã mất. Không thể có chuyện đó, vô lý quá! Bác sờ soạng thật kỹ, tưởng mình đã nhìn lầm vì mắt kém. Tay bác chạm vào khoảng trống lốc, nhưng bác cũng chưa chịu tin, cầm nến soi vào. Bấy giờ bác run bần bật, há hốc miệng mà không kêu được một lời, buông rơi ngọn nến xuống nhà, kinh hoàng tột độ… rồi lặng người đi.

Một lúc sau, lửa tàn, nến tắt, bóng tối tràn ngập cả nhà, bác San tỉnh lại vì hơi lạnh ngấm vào mình. Hai tay bưng lấy đầu, bác cố trấn tỉnh để nghĩ xem ai là kẻ trộm? Biết chừng đêm qua bác đã quên chôn vàng lại trước khi đi ngủ, bác có thể đãng trí lắm chứ, sao không? Bác San thổi lửa lại, đốt đèn lên, lục lọi giường, chăn, bếp, củi, soong, chảo không chừa một chỗ nào.

Run run hai gối, bác cố gắng đi lại bàn, nhìn trừng trừng, mặt bàn trơ trụi, trống trơn. Bác quay ra sau lưng, đôi mắt nâu quắc lên như muốn xoi thủng xuyên qua vách tối. Cái gì cũng nguyên si đầy đủ, chỉ thiếu có vàng thôi!

Vàng nó có chân đâu, có bụng đâu mà nói rằng nó đói, nó bò đi tìm thức ăn kia chứ?

Bác San lại bưng lấy đầu bằng hai bàn tay xương xẩu run run. Bác lắp bắp kêu lên không thành tiếng gì rõ rệt trong đêm khuya, tiếng kêu thống khổ nghẹn ngào, uất ức của bác vàng lên như tiếng kêu của con vật trúng đạn bất ngờ, bị thương trí mạng kêu rên…

Khi mọi hy vọng rằng mình để quên hai bao của cải đâu đó hoàn toàn tiêu tán, bác San mới chịu tin là mình bị kẻ trộm lẻn vào trong khi bác vắng mặt, lấy đi. Hắn là ai? Bắt được hắn thì mới mong lấy lại số vàng bạc nặng chĩu trong hai cái bao da. Nhưng làm sao bắt? Trong lúc mình lục lọi hắn đã đủ thì giờ cao bay hay xa chạy mất rồi!

Như người mất hồn, bác mở rộng cửa nhìn qua bóng đêm, mưa hắt vào mình vào mặt bác, lạnh căm.

Bác quay vào, đóng ập cửa, ngồi thừ suy nghĩ. Ít nhất, phải moi óc tìm xem có kẻ nào đáng nghi ngờ rồi mới tính chuyện tìm thủ phạm. Láng giềng thì không có ai, vì nhà mình hẻo lánh quá. Người khả dĩ đáng ngờ là Dân, hắn ta là người duy nhất hay lai vãng con đường này và đôi khi gặp mình.

A! Lại có lần hắn nói đùa về tiền nong của mình nữa kia. Hắn nói thế này đây:

- Bác san, bác có định cất lại nhà không? Dệt vải được nhiều tiền, bác định dùng làm gì? Hay bác cho tôi vay vậy, nhá?

Hừ! Nếu hắn không rình rập dòm nom làm sao hắn biết mình có nhiều tiền? Cái mặt thì thớ lợ, cười cười, cợt cợt, đúng là mặt kẻ gian! Cái tên cũng dễ ghét : Dân! Tên gì lại tên dân? Chứ không làm dân, bộ mặt ấy lại tính làm quan chắc? Mà cái họ lại càng đáng ghét hơn : họ Tạ! Tạ văn Dân! Cái họ kêu lên nghe nặng nề quá đi mất! Tạ văn Dân – bác San kêu to lên – tao sẽ tóm cổ mày, đòi lại tất cả số vàng, số bạc của tao, tiền mồ hôi nước mắt… tao nhớ kỹ, không sơ suyển một đồng dù đồng nhỏ nhất trong hai cái bao ấy, Tạ văn Dân ạ!

Nói thì nói thế, bác San vẫn chưa biết làm cách nào để tóm cổ tên Tạ văn dân. Bác quả có lúng túng thật. Luật pháp, một thứ chuyện quá tầm hiểu biết của bác thợ dệt, một thứ xa vời không liên quan gì đến chuyện vải, thoi, chỉ, sợi không ngờ lại có một ngày bác thợ dệt chân phương ở làng Vệ phải cầu cứu đến. Phiền phức như thế đấy!

Suy nghĩ phát nhức đầu cũng chả ra manh mối gì rõ ràng để kết tội Dân, người mà bác San đinh ninh là thủ phạm vụ trộm ghê gớm này. Dĩ nhiên với bác thì hắn đúng là tên trộm, không chệch đi đâu, nhưng mọi người có chịu tin thế không? Nhất là luật pháp, luật pháp có tin như bác không. Phải trình làng hay lên quận rồi pháp luật sẽ lo cho chứ bác thì có biết đằng nào mà lần? Nghĩ lắm hóa đau thêm khổ.

Phải hành động tức thì trước khi thủ phạm trốn mất mới được. Thế là, chân không, đầu trần bác băng mình ra mưa gió, không thèm gài cửa vì bây giờ còn gì nữa mà cẩn thận cho nhọc lòng? Chạy một chốc, bác ngừng lại thở dài. Nhà việc giờ chắc chắn đã đóng cửa, ai tiếp bác vào đêm hôm khuya khoắt thế này? Cách tốt nhất là đến thẳng quán Ngàn sao, nơi họp mặt của hầu hết dân làng, nhất là những anh có máu mặt, có chức vị trong làng.

Nghĩ sao làm vậy, bác San nhắm hướng quán Ngàn Sao, cắm cúi đi đến đó.

Đến nơi, bác thợ dệt không may dừng lại trước cửa, thở cho lại sức, đoạn xô cửa bước vào trong.

Bên trong ấm cúng và sáng rực, mọi người tụm lại bàn chuyện mưa nắng từ chập tối chán rồi, họ đang xoay qua chuyện ma quái. Ma quái! Chào! Đó chính là chuyện thích thú nhất, sôi nổi nhất, không bao giờ cạn (vào thời bấy giờ chuyện ma quỉ lẫn lộn với phàm nhân là chuyện lắm kẻ tin).

Trong bọn, có hương sư Phan là người cứng cổ nhất, ai nói gì ông vẫn khăng khăng là không có ma quái.

Ực một ngụm rượu, chùi miệng bằng lai áo, đặt cốc xuống bàn một cái mạnh, ông ta hắng giọng, dõng dạc:

- Được, cứ đặt giả thuyết là có ma, thế tại sao không thấy giữa ban ngày thanh thiên bạch nhật? Sao chúng cứ lựa đêm tối, cây cao mà nấp? Trong chúng ta đây, khi đi đâu năm bảy mạng có bao giờ thấy ma không? Sao cứ hễ tướng nào đi một mình thì y như rằng có chuyện? Tôi thì tôi cho là chẳng qua thần hồn nát thần tính, trông gà hóa cáo, nhìn bụi cây lại ngỡ hình người, chỉ vì bị ám ảnh chuyện ma… Tôi ấy ư? Còn lâu tôi mới…

Người ăn học nói có khác, năm sáu cái miệng cùng há hốc ra, mười mấy cái tai cùng dỏng lên, mười mấy con mắt cùng chăm chú vào người nói. Phan đã văn chương lại hùng hồn, nguyên chỉ bốn tiếng thanh thiên bạch nhật cũng đủ cuốn hút sự chú ý cửa mọi người rồi.

Đột nhiên, mọi người cùng giật mình quay lại vì tiếng động sau lưng. Kẻ yếu bóng vía nhất suýt kêu lên, nếu Phan không điềm tĩnh nhận diện con ma lù lù xuất hiện bất ngờ. Công bình mà nói, thoạt tiên, Phan cũng hơi hãi, nhưng vốn là tay chì có tiếng, nên anh ta tỉnh táo sớm hơn hết, quan sát con ma gan góc kia, khi thấy rõ là bác thợ dệt, Phan không khỏi buồn cười, nhưng nom sắc thái người thợ dệt, anh không thể cười được.

Mọi người đều ngạc nhiên, không ai thốt được lời nào, bác San thì thở hào hển, mặt xám ngoét vì mệt và tức giận. Mãi hơn phút sau, chủ quán mới lên tiếng hỏi:

- Bác San, bác có việc gì mà đến đây khuya khoắt thế này?

- Kẻ trộm, thưa ông! Kẻ trộm! Bao nhiêu vàng bạc của tôi mất sạch rồi! Tôi phải gặp các quan! Ông cảnh sát, ông xã trưởng, ông hội đồng… Cần lắm. Các quan phải giúp tôi!

Chủ quán bảo Dân ngồi cạnh đó:

- Dân, giữ bác San lại ngay! Dễ chừng bác ấy bị ma làm hay hóa điên cũng nên! Tội nghiệp…

“Ủa, thế kia ư? Có cả Tạ văn Dân ngồi đây? Gan thật : ăn trộm cả hai bao vàng bạc của người ta rồi ung dung đến quán uống rượu, chuyện trò tỉnh như không! Gớm thiệt cái quân này!” Bác thợ dệt nghĩ thầm một cách giận dữ. Thế là nạp mạng cho hổ rồi đây mà!

Trong khi Dân chưa nhúc nhích được một phân thì bác San quắc mắt lên:

- Tạ văn Dân! Tôi tìm anh đấy!

Dân kinh ngạc hỏi:

- Bác tìm tôi có việc gì, kia chứ?

Bác San điểm một ngón trỏ vào trán Dân, gằn giọng:

- Thôi đừng làm bộ ngây thơ, biết điều thì mang trả ngay cho tôi hai bao vàng bạc, tôi biết hết, tôi nhớ rõ tôi có bao nhiêu… trả ngay cho tôi, tôi không thưa gửi chi hết, tôi tha anh, tôi sẽ…

Dân há hốc miệng trước những lời buộc tội hùng hổ của bác thợ dệt, nhưng sau anh ta hiểu được, cơn giận bốc lên, Dân chồm tới tát một cái đánh “bốp” vào giữa mặt bác San, gầm lên:

- Câm lại, lão ngu! Nếu mà lão còn ho he bảo là ta ăn trộm tiền vàng nữa thì ta đánh cho vỡ mặt tức thì… nghe chưa? Không phải cứ mất của rồi hóa rồ lên, bạ ai cũng đổ ngờ cho người ta đâu, nhé, nhé? Ông thì ông bẻ hết răng cùng, răng cấm, răng nanh…

Chủ quán và mọi người cùng sửng sốt đứng yên không kịp can ngăn. Bác San lùi lại vì bị cái tát bất ngờ, còn Dân thì xông lên như toan làm dữ. Chủ quán vội vàng nắm tay Dân kéo lại, ôn tồn:

- Dân! Chú mày chớ nóng. Để xem đầu đuôi câu chuyện ra sao. Bác San! Bác cởi áo ra nào! Áo bác ướt sũng thế kia, lạnh chết. Hãy ngồi xuống cả hai người. Chuyện đâu còn đấy, đừng nóng nảy, không hay!

Dân hầm hầm mặt:

- Nói gì thì nói, chứ hễ còn nói tôi trộm tiền thì tôi nện cho một trận, đến đâu thì đến, đừng tưởng dễ.

- Thôi! Dân! Chú mày lắm lời thế. Để yên xem bác ấy nói gì, nào?

Bác San đã ngồi xuống theo lời chủ quán nhưng chưa cởi áo, nước mưa chảy ròng ròng xuống chân, nước mắt lặng lẽ bò dài xuống đôi má hóp, dáng bộ thiểu não làm cho mọi người trong quán đều phải động lòng. Dân nói như phân bua:

- Đời thuở nhà ai mới thấy mặt mình là đổ riệt cho mình ăn trộm…

- Thôi! Tôi đã bảo thôi, để yên bác nói xem sao…

San bình tĩnh lại, bắt đầu lên tiếng kể đầu đuôi câu chuyện, giọng bác trầm trầm, buồn bã, khổ sở, mặt bác biểu lộ tất cả thành thực; không ai có thể ngờ là bác bịa chuyện được. Khi bác dứt lời, mỗi người hỏi một câu nháo cả lên. Dân cũng dịu lại:

- Nhưng tại sao bác ngờ vào tôi?

- Thực ra tôi không dám ngờ ai hết, cả anh nữa. Nhưng mất của xót ruột, tôi cố nhớ lại xem có thể nghi ai và chỉ nhớ rằng anh có một lần đùa với tôi một câu về chuyện tôi có nhiều tiền…

- À, ra thế đấy!

Dân mát mẻ. Bác San buồn rầu:

- Dầu sao thì tôi cũng bị anh đánh một cái rồi, tôi xin lỗi anh…

- Bây giờ bác còn nghi cho tôi nữa không? Hãy hỏi mọi người ở đây thì biết tôi có mặt đây từ lúc nào.

Chủ quán nối lời Dân:

- Phải, bác San này, Dân nó có mặt đây từ chiều, khoảng thời gian ấy đích là khoảng thời gian bác rời nhà…

- Bây giờ bác tính sao đây?

Giọng khổ sở, bác San nói như rên:

- Nào còn biết làm sao, tôi rối mù cả đầu óc, phát điên lên…

Thầy giáo Phan hỏi:

- Bác có nhớ số tiền bạc là bao nhiêu không?

- Có chứ, tôi nhớ rõ lắm vì tôi mới đếm chiều hôm qua. Cả thảy là hai trăm bảy mươi ba đồng vàng, một trăm năm mươi tư đồng bạc và mười sáu đồng hào.

- Thế à? Thế thì nặng lắm, nhiều lắm, cả một gia tài của người ta. Quân nào mà ác thế, hả trời?

- Bác có thấy dấu vết gì không?

- Không, tuyệt nhiên không, vả lại…

Bác San ngừng nói đưa tay chỉ vào mắt mình, ra hiệu rằng mắt kém vì bác nghẹn lời không nói được. Mọi người xuýt xoa tiếc hộ cho bác. Phải! Ai tiếc chi một cử chỉ tỏ ra thương hại kẻ không may?

Sau một hồi bàn qua, tính lại, chủ quán vui lòng cho bác San mượn cái áo mưa của mình và một người nữa được cử ra để cùng đi với bác đến nhà ông xã trưởng làng Vệ thưa chuyện kẻ gian với ông ta.

___________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG V

CHƯƠNG III_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG III


Sáng hôm sau, Phát hý hửng cỡi ngựa của anh mình đi từ sớm tinh sương. Con đường xuyên qua khu đất có hầm đá, cạnh cái nhà vắng vẻ mà bác San cư ngụ mười mấy năm nay tại làng Vệ.

Chao! Cảnh vật sao mà tiêu điều, nom đến thảm! Lão san thật ngu độn nên mới chọn chỗ này mà dựng nhà. Phát nghĩ thầm. Hầm đá bỏ hoang, nước mưa lẫn bùn sình ngập dễ đến nửa hầm. Cây cối xung quanh thì khẳng khiu, héo úa, cành chia chĩa lên trời trông xa như những cánh tay giơ lên kêu cứu vậy! “Có các tiền vàng, ta cũng không thèm ở chỗ đèo heo hút gió thế này!”

Chợt, Phát nghĩ thêm : mà thằng cha thợ dệt căm cụi suốt ngày làm việc nhiều, ăn tiêu ít đó dùng tiền vào việc gì kìa? Chậc! Lão siêng năng đấy chứ! Mới tinh mơ đã kẽo kẹt trên khung cửi. Ngu thậm là ngu! Không biết tận hưởng cuộc đời, chết để của cho ai? Đưa mình tiêu cho lại hóa hay!

Ngồi trên lưng con ngựa quí của anh, hắn vừa thả lỏng dây cương, vừa băn khoăn thắc thỏm về số tiền của bác San. Chả mấy chốc Phát đên hội săn.

Quả nhiên, từ xa, Kỳ và Bích thấy dạng con Công Chúa vội vàng ra đón. Họ nhận ra Phát, ngạc nhiên:

- Chào Phát! Hôm nay mặt trời mọc hướng tây, lạ nhỉ?

Phát ỡm ờ:

- Thế nào là mặt trời mọc hướng tây?

Hai người trẻ tuổi cùng cười khúc khích:

- Thì cái việc anh chịu rời sòng bạc, quán rượu để đi săn với tụi này. Nhất là anh Tấn vui lòng cho anh mượn ngựa.

- Cho mượn? Các anh nói nghe tức dội cả tai. Ông anh cả của tôi mà hạ cố cho tôi mượn ngựa!

- Thì anh cỡi nó kia thôi?

- Ạ! – giọng tự thị, Phát nói – ông ấy trả nợ cho tôi đấy chứ, hai anh lầm rồi.

- Ra thế! Anh được ngựa này thì nhất rồi.

Kỳ gật đầu nói. Phát tấn công:

- Hôm kia, có người trả tôi mười ba ngàn đấy, anh Kỳ ạ, nhưng tôi không muốn bán. Con Công Chúa này ít nhất cũng mười lăm ngàn, mười bốn là giá chót…

Kỳ biết rõ Phát muốn dạm bán ngựa nhưng còn vờ vịt, anh ta nghĩ thầm trong bụng : “Thôi! Tớ biết tỏng ra rồi! Đằng ấy đừng hòng qua mặt tớ, còn lâu tớ mới bị lừa”. Và anh ta nói lớn lên:

- Thế à? Mười bốn ngàn là phải rồi, anh còn cầm lại làm chi? Cả làng Vệ này, chắc không ai trả đến cái giá mười hai ngàn…

- Ai bảo anh là tôi cầm giá? Thằng Phát này có phải lái ngựa đâu?

Ông nói gà, bà bảo vịt, nhùng nhằng, nhũng nhẵng hàng giờ, sau cùng hắn thuận bán cho Kỳ với giá mười hai ngàn. Kỳ khấp khởi mừng, vì anh ta biết rằng Công Chúa là ngựa quí, đáng giá hơn. Chắc Phát cần tiền? Trông cái mặt hốc hác thế kia thì biết, không chừng vừa thua bạc cũng nên. Nhưng Kỳ vốn cẩn thận, anh do dự về quyền sở hữu con vật. Anh không tin Tấn thiếu nợ em. Cách tốt nhất là để hỏi dò Tấn xem. Xa lạ chi cho cam, thà hỏi qua Tấn một câu, kẻo sau này mang tiếng là ham rẻ, mất lòng bạn bè… Có thể, vì túng tiền Phát lấy trộm ngựa của anh đem bán cũng nên. Sao không? Cờ bạc mà… phương ngôn có câu : Cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết… Ha! Cửa nhà còn bán được thay, tiếc chi con ngựa, dù nó là ngựa quí, và là ngựa của anh mình!

Kỳ làm kế hoãn binh:

- Tôi không sẵn tiền đây. Vả giờ để anh cỡi đi săn với chúng tôi cho vui. Mấy khi anh em gặp nhau. Chiều về, anh rẽ qua nhà tôi giao ngựa nhận tiền. Như thế tiện hơn.

Phát bằng lòng tuy bụng hắn không vui. Mẹ kiếp – Phát rủa thầm – thằng mắc toi, mắc dịch, mua thì mua ngay, vẽ bày nhiều chuyện, nhưng thôi, ông cũng chiều con, con ạ! Ông mà có tiền thì ông cóc chịu.

Thế là Phát nhập bọn đi săn. Nhưng Phát cố ý lùi ra sau, vì Phát biết Công Chúa là con ngựa cừ khôi, vượt lên trước mấy hồi. Đợi cho cả đoàn người ngựa gần khuất dạng, bấy giờ hắn mới ra roi. Chướng ngại vật đầu tiên mà người ngựa phải vượt qua là một cái hàng rào khá cao. Phát thúc mạnh hông con tuấn mã, mắt nhìn mục tiêu trước mặt – đoàn người ngựa mà anh ta tin là sẽ vượt qua chốc lát – Vì thế, hắn sơ ý tính lầm khoảng cách, con Công Chúa ngã chổng lên một cái cọc nhọn hoắc, nó hí lên một tiếng thê thảm, nằm huỵch xuống, hất ngã em trai của chủ mình…

Tai nạn xảy ra bất ngờ, chóng vánh, đoàn săn phía trước không hay biết. Phát đứng lên, mặt tái xanh, run bây bẩy, không tiếc thương chi con vật nhưng chỉ những nơm nớp sợ nó bị thương nặng hay què quặt thì mất số tiền mười hai ngàn. Khi nhìn con vật thở yếu ớt, cái cọc xuyên ngang mình nó như thể cái nĩa xuyên qua miếng thịt bít tết, máu nhỏ ròng ròng Phát giận sôi lên, hắn đá thốc vào mông con vật đáng thương một cái, chưởi rủa liên hồi.

Sau cùng, con vật ngừng thở, nằm lù lù một đống. Phát thôi chưởi bới mà lo phủi áo quần. Phủi xong, hắn tất tả bước mau về phía rừng thưa, không quay đầu lại.

- Rõ thật xui…

Phát lầu bầu.

*

Xui thật : đường thì xa, lại đúng vào lúc cần tiền, thế mà con Công Chúa lăn ra chết thảm. Cuốc bộ một thôi đường Phát mệt lử cò bợ, muốn quay về. Số là lúc đầu hắn đinh qua làng bên gần hơn, thuê ngựa cỡi về rồi tính sau. Song giờ hắn đổi ý : thôi chịu khó đi bộ về, ngang nhà bác San ghé lại mượn số tiền nộp cho ông già chứ không thì khổ thân (Ông già dạo này keo kiệt phát ghét!). Lão San nhiều tiền, chắc không từ chối đối với một cậu con nhà phú hộ đâu.

Gần bốn giờ chiều, sương mù bắt đầu rơi. Phát vội vã đi nhanh, quên cả mệt vì ý nghĩ vay tiền bác thợ dệt ngu si không biết xài tiền.. như hắn.

Vừa đi, Phát vừa vung roi quất mạnh vào các bụi cây bên ven đường. Chẳng có mục đích gì cả, quất là quất cho đỡ buồn tay thế thôi. Đó là cái roi rất đẹp mà anh hắn mua, thuê khắc tên mình vào để xứng đáng với con Công Chúa. Mà anh cầm theo chiếu lệ chứ chả mấy khi quất đánh ngựa yêu. Sương mù xuống càng lúc càng dày, Phát vừa vững lòng vừa lo ngại. Vững là vì như thế không ai nhận ra hắn, lo là lo có thể lạc đường.

Thoáng chốc, Phát đã đến đầu làng, Phát càng phải đề phòng : sương sa nhiều thêm, không những khó thấy đường mà còn e sa chân xuống hố. Bây giờ là lúc cần dùng roi đây. Phát dùng nó để dò đường phía trước, trên mặt đất.

Gần đến hầm đá, đường quang hơn, Phát khấp khởi mừng, hăng hái bước mau. Vài phút sau, ánh đèn từ nhà bác thợ dệt chiếu qua khe cửa.

Phát dừng lại để moi óc tìm sao cho ra lời lẽ êm dịu xuôi tai hầu có thể moi tiền bác San. Hắn vốn quen hách dịch, ba gai, chế giễu và cục súc, không dễ gì có thể thốt được những lời mềm mỏng, lễ phép. Dù sao, mình phải cố gắng, mình sẽ hứa hẹn trả lời nhiều cho lão ngu, chắc chắn lão sẽ ham tiền mà đưa ngay. Phát tự nhủ thầm, và rồi chưa chi hắn đã thấy tiếc số tiền lời phải trả. Hắn lại nghĩ tiếp : “Chào! Hơi đâu, tiền đâu mà trả lãi trả lời? Có họa là điên. Lão không dám đòi đâu, mà cho dù lão dám đòi cũng không bao giờ dám đến nhà mình. Quán rượu thì lão không tới rồi, khỏi lo. Sòng bạc còn lâu lão mới tới. Chỉ lo lão gặp ngoài đường. Ừ! Ngoài đường… mà cũng chả việc gì phải lo : nếu vắng vẻ, ta lại thả mồi cho lão vài câu là êm xuôi tức khắc. Nếu lão dại dột đòi tiền ta giữa mọi người, ta sẽ giở mặt, mắng cho mấy câu, mọi người sẽ cười vào mặt lão ta. Ta, công tử Hoàng Đình Phát, con trai út của đại điền chủ Hoàng Đình Cẩm mà hạ mình đi mượn tiền lão thợ dệt nửa điên nửa khùng ư? Có chó nó tin! Ta sẽ quát lên : “Ê! Lão điên, xích ra cho ta đi! Coi chừng ngựa nó dẫm nát óc bây giờ đó!” Vừa nói ta vừa giơ ngọn roi lên dọa lão, mắt ta quắc lên thế này“… Hắn hạ roi xuống, kéo cao cổ áo lên, vì lạnh. Rồi Phát làm điệu bộ như đang ngồi trên lưng ngựa thật – Ý hẳn là một con ngựa quí hơn Công Chúa – vung roi lên như thể sắp đánh kẻ đã dại dột cho hắn mượn tiền. Thế là Phát thích thú quá, cười to lên, quên cả giữ ý, vì mình đã đến thềm nhà bác San.

Phát dọn một nét mặt bứt rứt, bực bõ song hiền lành để tấn công bác thợ dệt cho có kết quả, hắn vuốt lại áo quần cho phẳng phiu rồi đàng hoàng gõ cửa. Phát gõ thực mạnh, vừa gõ vừa nhủ thầm : chắc lão đến khiếp chứ không chơi!

Gõ mãi, không nghe động tĩnh gì cả. Kỳ quái nhỉ? Hay lão ngủ rồi? Ngủ gì như gà thế? Mà đã ngủ sao còn chong đèn? Thế thì quá thậm ngu, ai lại sơ ý vậy bao giờ. Sau cùng, không do dự, Phát thò tay vào cái lỗ nhỏ, cốt ý là để nắm lấy cánh cửa lay cho dễ, bất ngờ làm sao, cửa không gài bên trong nên bật ngay ra.

Phát kinh ngạc về điều này, ngẩn người một giây rồi hắn bình tĩnh lại, xô mạnh cửa, bước vô nhà. Lửa sáng rực, nổ lóc bóc trong lò, lửa soi sáng khắp mọi góc, giường, bàn, ghế, khung cửi, vài cái soong chảo, cái ấm nấu nước! Đó, tất cả gia sản của lão thợ dệt bày ra trước mắt cậu con nhà giàu. Đang đi ngoài sương lạnh tối om om, thấy lửa ấm, công tử sà ngay đến, vì với Phát, lúc này lửa quí hơn mọi của báu trên thế gian. Khi đủ ấm rồi, Phát mới bình tĩnh để quan sát xung quanh lần nữa và lần này thì Phát nhận ra sự lạ : chủ nhân đi vắng mà không đóng cửa! Hay lão đi kiếm củi? Ờ! Có thể là lão đi kiếm củi, chắc không xa đâu, chờ một tị, không nên sốt ruột.

Nhưng rồi đợi mãi chả thấy bóng bác San về. Chao ơi! Hay là lão sa chân rơi xuống chỗ hầm đá chết tốt rồi, cũng nên? Một tia sáng lóe lên trong mắt Phát : hắn mong cái giả thuyết hắn vừa đặt ra xảy đến, và như thế thì ai là người thừa hưởng số tiền lão ky cóp lâu nay? Ai! Ai hả? Ai có quyền thừa hưởng? Nếu Phát nhớ không lầm thì trong suốt mười lăm năm cư ngụ tại đây – từ lúc Phát còn bé xíu vẫn thập thò trước cửa nhà lão đùa nghịch – Phát chưa hề thấy mà cũng chẳng nghe ai kể lại rằng có một người đến thăm viếng bác ta.

Bấy giờ đầu óc Phát làm việc dữ dội – Ít khi hắn ta làm việc dữ dội như thế, trừ khi ngồi vào sòng bạc – với mục đích tìm cho ra số tiền bác San cất giấu đâu đây. Tiền giấu chỗ nào? Chôn dưới đất, nhét trên xà nhà, hay ngoài bụi rậm? (Phải tìm cho ra, tìm cho kỳ được, việc này quan trọng lắm đây!) Hay là lão nhét kỹ trong gối, trong nệm rơm?

Mãi say sưa nghĩ cách tìm tiền của bác thợ dệt, Phát quên đi một điều quan trọng hơn : đó là hắn mặc nhiên coi như bác đã chết thật rồi!

Phát đứng lên, đóng cửa kỹ càng, bắt đầu lục lọi. Trước hết Phát lục ở giường ngủ chủ nhân, hắn xé tung cả lớp vải bọc gối, cả lớp vải bọc nệm, rơm thòi ra trông gớm ghiếc. Nếu không vì tiền, có bao giờ Phát lại nhúng tay vào một việc thế này? Chả thấy tiền đâu. Hắn nằm sấp xuống, nhìn kỹ từng viên gạch dưới gậm giường, không có gì khả nghi. Phát đứng lên, lại gần bếp, cho thêm củi vào rồi lại tiếp tục việc lục kiếm. Phát giở từng cái soong, lấy đầu gốc cái roi gõ còng cọc lên mặt gạch, ở các góc nhà.

Sau cùng, hắn thất vọng toan xoay hướng, tìm phía trên thì chợt mắt hắn trông thấy những hạt cát vương vãi dưới khung cửi, những hạt cát lóng lánh như có lẫn vàng dưới ánh sáng rực rỡ của ngọn lửa vừa được hắn châm thêm. Phát bật kêu lên một tiếng, dùng đầu roi, thăm thú kỹ vùng đất ngay khung cửi. Ngay dưới khung cửi, tiếng roi chạm vào mặt gạch kêu lạ hơn mấy chỗ khác, tiếng kêu đó chứng tỏ bên dưới trống lốc.

Phát ngưng tay lại, cúi nhìn kỹ : khắp quanh đó, mấy khe gạch đều có cát song rất ít, chỉ riêng chỗ Phát vừa thăm dò, cát phủ rất dày, nhìn kỹ hơn Phát còn nhận thấy trên mặt gạch chỗ ấy cũng có cát và có cả dấu tay chà chà lên gạch như cốt để đùa cát xuống mấy khe gạch hở.

Phát mừng run, vội vàng quì xuống thò tay cạy thử viên gạch khả nghi, và không chút khó nhọc, chỉ một giây, Phát đã nâng lên, vứt ra một bên hai viên gạch đậy hờ. Phát thò tay khoắng vào khoảng trống tối om, tay hắn chạm phải một cái túi da, ô không! Những hai cái! Và thử nhấc lên không nổi, Phát biết ngay là thứ mình tìm quả có.

Phát phải dùng cả hai tay mới nhấc được hai túi ấy, và cẩn thận khoắng kỹ lần nữa xem dưới lỗ có còn gì không, đoạn mới đặt hai viên gạch lên chỗ cũ, hai tay xoa xoa vào nhau, lẩm bẩm : “ Chúa quả thương mình! Có Chúa! Cảm ơn Chúa! Cảm ơn! Con tưởng Chúa ghét bỏ con kia đấy!”

Chỉ trong năm phút, tên trộm đã hoàn thành công tác và chỉ mất năm phút nữa để sắp xếp gối nệm ở giường cho y nguyên như cũ rồi hắn chuồn êm ra khỏi nhà bác thợ dệt ngay. Ra khỏi nhà, hắn đóng cửa lại liền, để tránh ánh sáng bên trong soi thấy hắn, còn cái ánh sáng bên trên cửa sổ thì hắn không ngại gì.

Chỉ vài bước là bóng tối đủ che chở hắn, Phát rất yên lòng.

Mưa càng lúc càng nặng hạt, gió hun hút thổi. Hai túi bạc – hay vàng – quá nặng, gây trở ngại cho hắn, chưa kể cái roi ngựa của anh, nhưng hắn không dám vứt roi đi, cái mới rầy! Phát biết roi ngựa có khắc tên anh mình và vết khắc rất sâu, ai bắt được thì tông tích kẻ trộm sẽ phơi ra ánh sáng rất dễ dàng. Bây giờ Phát đã sáng suốt để mà hiểu rằng cái giả thuyết bác San chết không đứng vững, song đến lúc này, bác chết hay sống hắn cũng không quan tâm, vì hắn đã đạt được ước muốn rồi.

Cảm ơn đêm tối, đêm tối che chở cho ta! Hắn thì thầm.

Trong lúc đó, bác San cũng chỉ còn cách nhà non trăm thước. Tay cầm đèn, vai khoác cái bao tải làm áo khoác, bác thong thả trở về, tuy mưa nặng hạt và bác đã mỏi chân.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

CHƯƠNG II_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG II


Ông phú hộ Cẩm có một cái biệt thự lớn nhất làng, mái ngói đỏ rực, cửa kính xanh lơ, vườn hoa trước sân có lối đi trải sỏi kêu lên rào rạo dưới mỗi bước chân. Nguyên đàn chó nhà ông cũng đã ghê rồi, chó gì mà cao lớn gần bằng con bê, lông mướt như có tẩm dầu, răng dài và nhọn, lưỡi đỏ chót, ăn toàn thịt bò chứ không ăn vớ vẩn xoàng xĩnh như chó của đám nông dân cùng khổ trong làng.

Ông góa vợ đã lâu, nên nhà cửa đồ sộ nhưng lại thiếu mất vẻ ấm cúng, cũng như thiếu bàn tay, ánh mắt của người mẹ trong gia đình; và có lẽ vì thế mà hai con trai ông có hơi dông dài, bậy bạ. Nhất là cậu Phát, cậu út của ông. Trong làng nhiều người vẫn nói lén sau lưng ông là ông quá nuông con. Đành rằng giàu có, người ta không nên bắt con vất vả nhưng ít nhất chúng cũng phải để mắt đến đất đai, vườn ruộng đôi chút chứ! Nào khó khăn chi cái việc ngồi trên lưng ngựa dạo quanh một vòng thăm thú xem đám ruộng kia có cạn nước không, khu vườn nọ đã được đã được thêm phân xới đất hay chưa. Phải nhận rằng ông Cẩm siêng năng tháo vát đã lo hết mọi việc, nhưng thử hỏi ông có sống mãi không?

Các công tử cũng chả phải theo đuổi sách đèn gì. Lêu lổng, dông dài, Phát đúng là hiện thân của câu “nhàn cư vi bất thiện”, tính nết thật khó ưa, gặp ai cũng tìm cách chế giễu, khinh chê, suốt ngày la cà ngoài quán rượu ba hoa đủ thứ chuyện vớ vẩn, nhập nhàng.

Tấn, cậu con cả dạo trước còn hơi kha khá, sau này cũng đổ đốn vì quá rảnh rang, thoáng nhìn cậu ta, một người kinh nghiệm biết ngay là cậu đã mất hết nét hồn nhiên, trong sáng của tuổi thanh niên.

Tấn đã để ý và theo tán tỉnh cô Mỵ Lan, song cô ấy vẫn chưa có vẻ bằng lòng vì một vài lời đồn đại không tốt về cậu. Tuy thế, cô cũng không từ chối hẳn. Cô bảo : “Để xem!” và cậu cả kiên nhẫn chờ đợi, không tỏ ra nóng nảy.

Ông Tú Lâm, cha cô Mỵ Lan vốn là một người thanh bạch, có tư cách, trong làng ai cũng kính nể. Tuy ông không giàu có nhưng ai cũng công nhận rằng cậu Tấn mà được thành hôn với cô thì quả là nhà cậu có phúc lớn : Mỵ Lan đứng đắn, đảm đang, có giáo dục tốt.

Công bình mà nói, cậu Tấn không đến nỗi bê tha tồi tệ như em, song nghe đâu như cậu có dan díu với một ả giang hồ trên quận, và tuy cho đến nay trong làng không ai thấy tận mắt cô ả bén mảng lui tới nhà cậu, mối nghi ngờ vẫn không giảm trong lòng mọi người, và sở dĩ cô Mỵ Lan còn do dự là vì thế.

*

Tấn đang ngồi trong phòng khách tại nhà mình, lòng náo nức nghĩ đến ngày cưới được Mỵ Lan, cậu tự hứa sẽ tu tỉnh đàng hoàng. Ngày mai… ngày mai là ngày cử hành đám cưới của chị cả Mỵ Lan. Cậu sẽ có mặt ở đó và thế nào mà chả có cô? Mỵ Lan! Sao mà cậu yêu cô thế… yêu hơn bất cứ người…

- Chào anh cả! Có điều gì cần gặp mặt em đây? Em biết là quyền huynh thế phụ, nên nghe lệnh đòi là em phải đến liền, tuy em đang vui bạn, vui bè không muốn đi đâu hết, thưa anh!

Giọng lè nhè, hơi thở nực nồng mùi rượu, dáng bộ lấc cấc, nét mặt khinh khỉnh khi nói những lời trên, Phát làm cho anh cậu mất hết hào hứng về chuyện sắp hội kiến với người yêu. Ngay cả con chó đang sưởi ấm trước lò thấy Phát cũng cụp đuôi lẩn tránh, vì nó thừa biết con người tàn bạo đó sẽ đá vào mông nó, dù nó vô can.

Tấn bảo em, giọng giận dữ:

- Tao muốn gì hả? Cái đó mày thừa biết mà, còn hỏi làm chi? Nghe đây : mày mượn mười ngàn đồng của ông Lễ gởi trả ba tháng trước, mày còn nhớ chớ? Sáng nay ba xem lại sổ sách, ông dọa sẽ tịch thu tài sản của bác Lễ nếu nội trong tuần này bác ấy không trả số tiền. Mày hẹn với tao làm sao? Mày bảo chỉ năm ngày là mày đưa lại tao để tao nộp ba, thế mà giờ gần mười lần năm ngày đã qua rồi đấy. Tao mà nói rõ với ba thì mày liệu cái thần hồn. Sở dĩ tao chưa nói là vì…

Phát vênh cái mặt non choẹt, đỏ bừng vì rượu lên, cười khằng khặc một cách khả ố:

- Có gì khó đâu? Sao giờ anh không chịu xoay đâu đó trả ba hộ em đi! Anh em với nhau, cốt nhục tình thâm… em biết anh có lòng tốt với em mà…

- Không nói lôi thôi! Tao che đậy cho mày nhiều lần rồi, mày rỉa tao như cá chốt, tao chịu hết nổi. Tao đào đâu ra tiền để cho mày? Những mười ngàn chứ ít ỏi gì? Tao ăn cướp ai…

- Nói vậy mà nghe lọt tai à? Tiền cho gái bao nhiêu cũng có còn cho em ruột thì tiếc xót như thể là…

- Phát! Im đi! Mày mà còn giở cái giọng đó, tao đánh cho vỡ mặt chứ không phải dọa suông đâu. Đừng chọc tức tao.

Tấn quát. Phát cũng không vừa, giọng cậu mát mẻ:

- Anh biết là tôi nhịn anh mà, anh biết là tôi giữ bí mật cho anh mà! Tôi biết điều với anh mà! Nhưng anh coi chừng, anh không tỏ ra chịu chơi thì rồi đừng trách thằng này. Tôi mà tiết lộ với ông già thì đời anh kể như lúa, anh quên sao? Anh cả?

- Thằng mất dạy, mày dám láo lếu như vậy, hả? Mày dám gọi ba bằng giọng đó, hả? Tao nên cho mày một trận bây giờ, mày mất dạy vừa vừa chứ!

- Trời ơi! Ổng già thì kêu ông già chớ không lẽ anh bảo tôi kêu ổng là ông trẻ, bắt bẻ dữ chưa… Chao ơi! Tôi nghĩ mà chán cho thói đời bạc bẽo, tôi cũng đến nước bỏ cái nhà này mà đi thôi…

Vừa nói, Phát vừa lừng lững quay ra, không cả chào anh. Tấn vội chạy theo nắm lấy cánh tay em, lôi vào:

- Mày đừng giở chứng, phải lo vụ mười ngàn cho ba kẻo khổ lây cả tao, chính tao đã đưa cho mày mượn…

- Thì tôi đã nói anh vay tạm đâu đó, trả đậy cho tôi rồi ta tính sau.

- Nhưng tao vay ai đây?

- Bác sĩ Kim…

- Ba dặn ông ấy rồi, đừng hy vọng vô ích, vả tao cũng ngán lắm…

- Vậy sao anh không bán quách con Công Chúa của anh đi?

Tấn bật lên như cái lò xo:

- Mày nói gì? Con Công Chúa hả? Bán nó đi để trả nợ cờ bạc cho mày à? Có họa là điên. Tao còn gì khác trừ con Công Chúa, mày tàn nhẫn đến mức đó sao? Hả Phát?

- Anh rõ lẩm cẩm, con ngựa mà coi quí hơn cả em mình. Anh thiệt không biết nghĩ : giá như tôi mà khai rõ với ông già…

Phát chợt dừng lại, cười hăng hắc, tiếp bằng giọng ỡm ờ:

- Quên, xin lỗi, tôi mà khai rõ với ba rằng anh đa mang con Lý, rằng nó không chỉ là hạng giang hồ giang há, nó còn nghiện nữa thì anh có mà kiếm đường theo nó với cái va-ly! Phải! Tôi mà làm vậy thì chắc anh phải bỏ làng Vệ đi mất đất, gia sản này sẽ thuộc về tôi, anh sẽ bị truất phế tức thì. Anh lạ gì tính ba? Anh thừa biết mà, anh Tấn! Thôi, tôi để anh lựa đấy, nếu anh thấy tiếc con ngựa thì tùy…

- Mày thật đáng vặn cổ, Phát ạ! Nhưng thôi, tao sẽ làm vừa lòng mày…

- Ngày mai, có cuộc săn đấy. Tôi tin cho anh biết là bọn thằng Kỳ, thằng Bích thèm con Công Chúa của anh lắm đó nghe? Cam đoan anh sẽ bán được giá hời.

- Nhưng ngày mai tao phải đi ăn cưới đằng ông Tú Lâm, kẹt quá…

- À! À! À! Anh chị lại hẹn nhau hẳn? Cô Mỵ Lan chém chết cũng nhảy với anh bản…

- Đồ khốn! Mày không được đả động đến tên Mỵ Lan, tao vặn cổ mày đó!

Tấn nổi giận bất ngờ, hét. Phát vẫn lần khân:

- Kìa, em đã làm gì? Gọi tên cô Mỵ Lan mà anh cũng cấm? Nào đã là chị dâu tôi cho cam? Anh lấn áp em anh hơi quá đấy nhé? Nhưng thôi… thế nào? Ta lại bàn việc ấy : mai anh đem bán con Công Chúa chứ?

Tấn run giọng vì tức thằng em tai quái:

- Tao cho mày hay : tao sắp điên vì mày, tao hết chịu nổi mày. Mày tống tiền tao nhiều rồi. Tao chả còn tiền đâu để bịt miệng mày cũng như miệng con Lý. Tao chán rồi. Trước sau gì ba cũng biết chuyện này… Tao không đang tâm bán con Công Chúa, không! Không…

Giọng Tấn trầm xuống, thiểu não. Phát ngạo nghễ:

- Kìa anh cả! Còn nước còn tát, đã đến nỗi nào mà anh tuyệt vọng? Ở đời không nên bi quan thế! Tôi cam đoan với anh, nếu anh biết điệu, tôi sẽ giữ kín bí mật của anh. Tiếc làm quái gì con ngựa quèn? Anh không thể cỡi nó đi bán thì để tôi, tôi đảm nhiệm việc này cho. Sau này có tiền, anh mua cả chục con như con Công Chúa ấy chứ, kể gì một con…

- Giao con Công Chúa cho mày cỡi đi bán ư? Thằng đểu?

Tấn lại quát lên. Cậu em trai đủng đỉnh cười mũi:

- Chứ chả lẽ lại cho nó lên kiệu khiêng đi sao, anh thì không chịu cỡi nó đi bán… Chần chừ đặng ông già ổng hay chuyện này, thêm phiền ra… Tôi có muốn cỡi nó đến hội săn đâu? Hay là anh cỡi nó đi bán, lấy tiền trả đậy vào món tiền bác Lễ cho ba, tiện bao nhiêu, mà được cái khỏi hồi hộp vì lo tôi đi bán xong, cuỗm luôn tiền dông lên quận, vô sòng bạc…

Tấn vẫn lắc đầu:

- Tao chịu thôi. Tao không thể làm chuyện đó, con Công Chúa ở với tao từ bao nhiêu lâu nay…

- Thôi đành vậy, để tôi cỡi nó đi. Nhưng nếu có mất giá thì đừng kêu ca nhé? Tôi không có cái vẻ hào hoa như anh, tôi rách quá, tôi ngồi trên lưng con Công Chúa
quả kém hơn anh, anh mà cỡi đến thì phải biết, con vật sẽ tăng phần long trọng bao nhiêu!

- Giao nó cho mày à?

Tấn lập lại, giọng như rên, anh thực tình yêu quí con vật đã từng là bạn nay bỗng dưng vì thằng em quái quỉ mà phải cắn răng xa nó. Phát hết kiên nhẫn nổi, gằn giọng:

- Thế ra anh vẫn tiếc? Thôi tùy anh vậy. Vụ tiền bác Lễ thuộc về anh. Anh nhận tiền nơi tay bác ta. Cũng chính anh nói với ba rằng bác chưa thanh toán tiền nong. Tình ngay mà lý gian. Tôi không can dự gì đến. Không ai biết anh cho tôi mượn số tiền đó. Nếu anh tiếc con ngựa thì đừng trả cho ba, chết ai? Không ai có thể bắt tội tôi, anh muốn nói sao với ba thì nói.

Tấn ngồi lặng, tức giận tràn tim. Sau rốt, người anh cất giọng thản nhiên:

- Mày có hứa chuyện buôn bán này sẽ đàng hoàng không?

- Đàng hoàng làm sao kia?

- Nghĩa là mày sẽ giao hết cho tao số tiền bán ngựa, dù dư dù thiếu. Hễ được hơn thì tao giữ số thừa, còn thiếu thì tao chạy thêm cho đủ, nộp ba.

- Đó là chuyện chắc. Em không đưa anh thì giữ làm gì? Em có phải là con chó ăn dơ đâu mà anh dặn kỹ thế… Tin em đi! Em cam đoan, thế nào cũng được dư chút đỉnh cho anh. Vậy ngày mai em cỡi nó đi, nhé?

Nói xong, Phát quay đi, đóng sầm cửa lại, bỏ mặc anh mình với sự bực tức chĩu nặng trong lòng.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG I


Nom dáng bộ San, dân làng Vệ biết ngay anh không phải gốc gác nông dân. Song không vì vậy mà họ ghét anh, sở dĩ họ ác cảm với anh nhiều ít là vì thái độ dè dặt, khép kín quá đáng của anh mà ra, thêm nữa, anh sinh nhai bằng cái nghề kỳ quặc : nghề dệt vải.

Thời bấy giờ nghề dệt còn là một nghề lạ lùng mới mẻ có phần kỳ bí… tóm lại, đó là một nghề – theo dân chúng vùng này – của hạng người có thể trò chuyện với kẻ khuất mặt, với các hồn ma! Nếu không có bùa phép như bọn phù thủy ghê gớm, ít ra hạng thợ dệt cũng đã được sự hỗ trợ bí mật của một thứ thần quyền chi đó.

Thật là một sự trùng hợp vô tình : San sống cô độc, trơ trọi một mình không vợ, không con, không cả một con chó giữ nhà, thiếu nốt con gà gáy sáng. Nếu không phải là một thứ người khác thường thì vì cớ gì anh ta chịu sống lẻ loi như thế chứ? Há đó không phải là nếp sống của kẻ chuyên giao thiệp với các hồn ma, bóng quỉ lúc đêm vắng, trăng tà sao? Ai còn lạ gì mà không biết tiếng chó sủa, gà gáy vốn làm cho ma quái bực mình, khó chịu?! Đến như cái lối chọn chỗ ở lại càng đặc biệt : không thèm ở chỗ dân cư đông đúc mà chọn ngay một khu vực vắng vẻ, trái đường, gần một hầm đá bỏ hoang lâu ngày ít người qua lại. Nhất định là anh ta muốn tránh những cặp mắt dòm ngó tò mò của dân làng.

Chao ơi! Dù là anh ta đã chọn chỗ xa làng biệt lập như thế, mà những đêm khuya thanh vắng tiếng khung cửi của anh ta rên lên kẽo kẹt cũng đủ làm cho những kẻ yếu bóng vía giật mình, còn bọn trẻ con thì khỏi nói : chúng co rúm lại, kéo chăn che kín tận cằm.

Vài đứa trẻ có tiếng là đầu bò, đầu bướu nhất, đôi khi rủ nhau mon men lại gần nhà anh ta, ghé mắt qua cửa sổ dòm vào, tuy chả thấy gì khả nghi song mỗi lần bắt gặp anh ta vô tình ngưng dệt nhìn ra, chúng cũng kinh hoàng, ù chạy không quay lại. Bởi vì, khi anh ta ngưng dệt thì cái nhịp điệu kẽo kẹt ngưng theo, không gian bỗng trở thành đe dọa, vì thứ im lặng vô cùng bí mật.

San vốn mắt kém, ít khi trông rõ người hay vật ở xa, bụi cây anh ngỡ là người và ngược lại (bởi thời đó khoa học chưa phát minh ra kính cận thị để giúp đỡ các cặp mắt kém như bây giờ) Lại kém cả xã giao, có khi chạm mặt một người, anh ta cũng không thèm chào hỏi; để làm gì chứ, cái lối xã giao vô ích, chỉ phí thì giờ! Ngừng làm việc để nói chuyện với một người lớn hay vuốt ve đứa trẻ đối với San là một việc thừa. Vì vậy, không ai muốn lui tới nhà San cũng như San không lui tới nhà ai, trừ khi có việc cần thiết, trao đổi, mua bán giữa đôi bên.

Với nữ giới, San càng giữ kẽ. Tóm lại anh không muốn giây vào với bất cứ một ai. Dân làng, nhất là những kẻ rông dài, rỗi rãi ưa tụm nhau tại quán rượu xầm xì bàn tán về anh, họ thêu dệt ra vô số truyện mơ hồ, huyền hoặc, song San không chút quan tâm, không có ý cải chính hay làm sáng tỏ với xung quanh về tung tích của mình.

Thực ra, San ngấy lên tận cổ, không hề có ý muốn chung đụng với loài người. Khi bỏ xứ ra đi, anh đã quyết tâm tim đến một chỗ thâm sơn cùng cốc để làm bạn với cỏ cây, trăng gió. Nào ngờ đâu, khi đến làng Vệ trọ qua đêm, anh lại đâm thích phong cảnh nơi này, anh cảm thấy đây là chỗ dung thân được, kể từ đây và tin rằng không ai làm khổ mình như trước nữa.

Cao và gầy, da trắng mát, cái nhìn dè dặt, chân tay khẳng khiu, khó mà thiện cảm được với một người dáng dấp như anh. Nghề nghiệp thì thế, bề ngoài thì thế, San còn có một cố tật là hay ngất đi, trong giây lát bất cứ lúc nào rồi tỉnh lại như không. Không hiểu anh ta có ngất đi mỗi ngày không, nhưng cứ theo lời Dân, một nông dân trong làng kể lại thì hắn đã gặp San hai bận từ khi San đến ngụ trong làng, mà cả hai lần ấy, anh ta đều ngất đi mươi phút. Giọng đầy kinh sợ, Dân nói với bạn bè:

- Một bữa đi hái củi về, tôi nom thấy anh ta đang đứng tựa vào hàng rào như thể người ngắm cảnh, khi đi ngang mặt, tôi cất tiếng chào anh ta thì không nghe trả lời, cũng không quay đầu lại, tôi hồ nghi, nhìn thẳng vào mặt anh ta thấy mắt trợn trừng, miệng ngậm kín, bất động như cái xác, tôi ngỡ anh ta chết… vội vàng vứt củi xuống lay gọi. Cỡ năm phút sau anh ta tỉnh lại, ngơ ngác nhìn tôi; tôi hỏi gì cũng không nói, khật khừ như bị ma làm, quay lưng đi thẳng vô nhà. Một lần nữa, tôi đi gặt về, đang…

- Thế nghĩa là mỗi ngày anh ta mỗi ngất đi như thế, hẳn?

- Tôi không cả quyết thế, làm sao tôi gặp được anh ta mỗi ngày?

- Lạ nhỉ? Khó hiểu nhỉ?

- Có gì mà khó hiểu? Những lúc hắn ngất đi như thế nghĩa là hồn hắn thoát xác, đi nói chuyện với cõi âm đấy. Lúc ấy mà lấy sơn, lấy vôi hay lọ quệt lên mặt hắn, thì khi hồn về, hồn hắn sẽ không nhập vô xác và hắn ngoẻo luôn ngay.

Một người táo bạo bảo cả bọn làm theo đề nghị trên, nhưng vài người ngăn lại : thử để xem, vì hiện tuy có vẻ khả nghi, San chưa hành động gì đáng trách, đang không dưng mà giết người ta há không sợ mang tội với bề trên sao?

Như thế, ngờ vực thì có ngờ vực, nhưng họ vẫn để San được yên thân, vẫn mua vải của San vì anh dệt vải đẹp, giá cả phải chăng so với vải của bọn hàng rong từ xa đem đến.

Không có gì khả dĩ có thể kết tội anh là kẻ bất lương hay có liên hệ với loài ma quỉ.

Năm tháng dần qua…

*

Mười mấy năm ròng, San trú ngụ tại làng Vệ. Sự giao thiệp giữa bác ta và dân làng không có gì đáng kể, ngoài sự mua bán, trao đổi phẩm vật cần thiết giữa đôi bên. Khi thì bác bán vải cho dân làng, khi thì xuống phố chợ để mua sắm thực phẩm thiết dụng.

San vẫn sống đơn độc, khép kín, cuộc sống không tình cảm.

Một hôm do sự tình cờ, bác San có dịp chứng tỏ cho mọi người thấy bác cũng có một trái tim biết rung động như… ai : số là bác đến nhà ông thợ giày để sửa đôi giày há mõm từ lâu. Trong khi chờ đợi chủ nhân làm việc bác chợt thấy bà vợ ông ta lên cơn đau tim trông thật thảm. Ban đầu, bác không mấy quan tâm, nhưng một lúc sau, bác không thể làm ngơ được, dù bác vốn không mấy ưa phái nữ. Nhìn bà ta nhăn nhó, chống cự với cơn đau một cách yếu ớt, khổ sở, bác chạnh nhớ đến mẹ mình, bà cụ xưa kia cũng mang chứng đau tim ác hại đó : may nhờ một người miền Thượng bày cho phương thuốc nam rẻ tiền mà chứng bệnh quái ác giảm dần rồi dứt hẳn ít lâu sau.

Bác San nói với ông thợ giày:

- Mẹ tôi trước kia cũng đồng bệnh với bà, tôi có thể cho bà một thứ lá, tôi không dám hứa chắc nhưng may ra… Mẹ tôi hồi ấy cũng không bác sĩ nào trị nổi được bệnh tim…

Ông thợ giày không mấy tin tưởng vào lời của bác thợ dệt song thói đời “đau chân há miệng”, ông ta cảm ơn lia lịa và vài giờ sau, khi bác San đem mớ lá mọc hoang lại, bảo ông cách sắc lên cho vợ uống, ông ta vội làm theo, với ý định cầu may.

Bất ngờ làm sao, thứ lá kia xem chừng vô giá trị mà lại công hiệu rõ ràng. Chao ơi! Một gã thợ dệt tông tích rất mù mờ nhưng lại có tài chữa bệnh đau tim, qua mặt bác sĩ Kim cái vù còn hơn là gã tài xế xe đò dám qua mặt xe vận tải mà không thèm bóp còi báo hiệu!

Bắt đấu từ ấy, dân làng không còn khinh thường bác, họ có chút thiện cảm nhưng chuyện ngờ vực bác có quen biết với thần linh thì vẫn cứ ngờ…

Một số các bà mẹ đem con đến xin bác thuốc. Lác đác có cả đàn ông. Bác San giúp đỡ họ nhưng không có thái độ niềm nở mấy. Một số người mang tiền đến trả công cho bác, nhưng đến lúc có người ngỏ ý muốn mua bùa chú của bác để trấn ếm tà ma thì bác San bỗng đùng đùng nổi giận, quát tháo đuổi họ về ngay.

Thật ra, bác San rất thích tiền, ngoài tiền ra, bác không để ý đến gì khác. Song tiền do công lao dệt vải thì bác thích, còn giúp đỡ kẻ nghèo mang bệnh bằng vài lá cây, ngọn cỏ mọc hoang mà lấy công thì với bác quả thực không đáng chút nào. Hơn thế, điều làm bác tức giận nhất là dân làng đã coi bác như một thứ phù thủy có bùa phép, thứ người bí mật giao thiệp với cõi âm, một thứ ma quỉ trá hình người.

Câu chuyện đó, không bao lâu cả làng đều biết rõ và người ta thưa đến cầu cứu khi đau ốm, riêng chuyện xin bùa, mua chú thì chấm dứt luôn. Không được toại nguyện, một số người đâm ra giận dữ, vì bác đã từ chối đem quyền phép ra giúp đỡ họ như lời họ van nài. Một số khác trở lại khinh thường bác vì họ cho là bác chẳng qua cũng như họ, không có bùa chú cao siêu chi.

*

Tiền bạc và vàng của bác San tích lũy ngày càng nhiều thêm, vì bác thu vào thì nhiều, chi ra lại ít, quá ít, so với số thu. San ta ăn uống tiện tặn, tiêu pha dè xẻn, tính toán từng đồng.

Bác tự tay khâu một cái bao da đen, có giải rút để đựng số tiền và vàng kia, lại cạy vài viên gạch ngay dưới khung dệt, đào sâu phía dưới đoạn chôn bao xuống; xong đâu đấy bác đặt gạch lại vị trí cũ và rắc cát lên lấp kín các khe hở ở bìa gạch. Bác xoa tay đắc ý vì không còn chỗ nào kín đáo hơn mà lại dễ trông chừng hơn.

Dăm ba hôm, bác lại giở gạch lên, nhấc cái bao ra, đổ ập lên mặt bàn ngắm nghía. Chao ơi là đẹp! Chao ơi là mê! Những đồng vàng trộn lẫn với những đồng bạc, lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời chiếu xuyên qua khung cửa sổ trên cao! Luôn luôn trong đống vàng bạc đó, tiền vàng nhiều hơn là bạc, vì một lẽ giản dị : bác chỉ dùng những đồng bạc, và là những đồng bạc nhỏ nhất để tiêu pha. Vàng nhiều hơn do bác bán vải được giá và bác cũng không mấy khi phải dùng đồng vàng để mua sắm vật gì.

Bác San thích vàng nhất. Bác vùi tay vào đống vàng đó, thích thú lặng lẽ nghe cái cảm giác lạnh rợi của các đồng vàng đồng bạc ngấm dần vào đôi bàn tay, qua lớp da chai ngắt vì đưa thoi, xe chỉ. Rồi bác xếp lại thành từng chồng, đồng lớn theo đồng lớn, đồng nhỏ theo đồng nhỏ, vàng riêng, bạc riêng, đoạn đếm. Tay mân mê những đồng tiền tròn trĩnh, vô tri, mắt âu yếm ngắm nhìn say sưa, mê mải như người mẹ ngắm đàn con hiền ngoan, bụ bẫm của mình! Chao! Bác ngắm nhìn không hề biết chán bao giờ!

Rồi đây, bác San ngẫm nghĩ – ta sẽ còn có thêm nhiều vàng, nhiều nữa với nghề dệt của ta, không sợ ai cạnh tranh, chèn ép, ta sẽ lựa hết những đồng bạc dù lớn, dù nhỏ, để riêng ra trong một bao khác, bao này sẽ chỉ đựng tuyền vàng… Vàng! Đẹp hơn mặt nhật lúc bình minh, đẹp hơn cả vầng trăng đêm giữa tháng! Ấm áp hơn bếp lửa chiều đông! Rực rỡ hơn những cánh hoa xuân nhiều mầu sắc! Vàng! Không kêu khóc mè nheo, không gây phiền phức như trẻ con, không man trá như phụ nữ, không phản bội như… Bác San hai tay bưng lấy đầu, lắc lắc tiếp mấy cái, cố ý xua đuổi hình ảnh dĩ vãng của mười sáu năm qua. Bác không muốn nhớ gì cả.

Hiện tại bác có vàng, thế không là đủ, quá đủ với bác sao?

Hiện tại ai hơn bác? Ừ! Thử nghĩ xem ai hơn bác tại làng này? Rõ ràng là không, không ai có nhiều vàng hơn bác. Ông phú hộ Cẩm có thể giàu đấy, nhưng chưa chắc, ông có nhiều đất ruộng đúng hơn. Mà đất ruộng thì chao ơi! Phải săn sóc ngày ngày, nhọc quá! Ruộng vườn mà không lo phân phóng, chăm sóc hả? Thì có mà sạt nghiệp. Chớ vàng thì… thì nhất trên thế gian này!

Chao! Giá có mẹ bác đây? Giá bà không chết? Giá có em bác đây? Ước gì nó không yểu mệnh năm xưa…

Đó, hai người thân yêu của bác, hai người mà bác thực lòng ao ước được chia xẻ sự sung sướng, niềm vui. Hai người đó mà còn thì bác sẽ đổ vàng ra cho họ, nhưng họ đã chết, họ nằm yên dưới đất, thịt da tan rã mục nát từ lâu.

Bây giờ đây, không, không ai cả, không ai đáng để cho bác chia xẻ số vàng kia. Không! Nó là của bác, của một mình bác mà thôi. Hừ! Ông phú hộ Cẩm! Chưa chắc ông ta giàu bằng bác, sung sướng bằng bác, đầy đủ bằng bác, ha! Phú hộ! Mùi gì… Mấy thằng con hư đốn của lão sẽ phá hết sản nghiệp cho mà xem, bác biết. Không ai hơn bác.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

LỜI GIỚI THIỆU_LƯỚI TRỜI


Vài giòng về tác giả
_______________

George Eliot tên thật là Mary Ann Evans, sinh năm 1819, bà là con một trại chủ vùng Warwick (Anh Quốc).

Yêu thiên nhiên, có óc thực tế và rất thích nghiên cứu các vấn đề tôn giáo, khoa học và triết lý. Bà đã dịch cuốn “Cuộc đời Chúa cứu thế” (1846) và một số bài đăng trong tạp chí Blackwood, nói về đời sống Dòng Tu.

Năm 1849, sau khi thân phụ từ trần, bà lên Luân Đôn và ở tại đây. Chịu ảnh hưởng chồng bà, G. Henry Lewes, vốn là một cây bút lỗi lạc thời bấy giờ, bà bắt đầu bước sang lãnh vực tiểu thuyết.

Những sách của bà đã in như : Adam Bede, The Mill on the Floss, Romola, Middlemarch, Daniel Derona, Felux Hotl, v.v… Những tác phẩm của bà có giá trị nhờ tài phân tách tâm lý sâu sắc, chính xác, lối hành văn chừng mực, linh động, cách diễn tả truyền cảm, ngôn từ tao nhã, ý tưởng cao quí và lành mạnh, nghệ thuật vững vàng.

Bà còn là một thi sĩ và thơ bà rất độc đáo. Có người đã so sánh bà với Ch. Dickens. Bà là nhà văn tiến bộ nhất nhì thời ấy.

Bà mất ngày 22 tháng 3 năm 1880.

Truyện Silas Marner dưới đây là một truyện đặc sắc, tình tiết lôi cuốn, có tinh thần Á Đông và độc đáo ở chỗ không giống bất cứ truyện nào, ngay cả một số danh tác quốc tế mà ta thường gặp.

Silas Marner là tên của nhân vật chính trong truyện, vì vậy, chúng tôi tạm chọn một nhan đề vừa theo sát nội dung vừa phản ảnh được phần nào ẩn ý của tác giả : LƯỚI TRỜI và không trực dịch mà chỉ dựa vào cốt truyện thôi.


MINH QUÂN

_____________________________________________________________________
Xem CHƯƠNG I    

Lưới Trời


Truyện phóng tác của MINH QUÂN
Loại Hoa Tím
Tủ sách Tuổi Hoa - 1972



Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Đêm Sa Mạc


Tử thần lảng vảng như khiêu khích trên sa mạc Arizona. Ban ngày, khi mặt trời soi sáng khắp sa mạc, tên hảo hán ẩn mình kín đáo trong gốc những bụi cây, dưới những tảng đá hay dưới lớp cát nóng bỏng. Chỉ đến lúc chị Hằng hiện đến thay thế bác Thái Dương nằm nghỉ ở phương Đoài, tên hảo hán đáng sợ ấy mới chịu xuất đầu lộ diện. Người ta vẫn gọi hắn là bò cạp. Bò cạp, đọc tên đã thấy ngay hình ảnh của hắn, một tên săn đêm man rợ. Nạn nhân nào bị đôi càng to khỏe của hắn chộp lấy là kể như rồi đời. Bữa ăn tối của hắn tuy trễ nhưng thịnh soạn, từ gián dế, sâu bướm cho tới các loại thằn lằn. Nếu con mồi gắng gượng chống trả, tức thì chiếc đuôi nhọn của hắn đét mạnh về phía trước và hắn giết chết nạn nhân bằng nọc độc.

Có đến 700 loại bò cạp sống rải rác khắp thế giới, thuộc lớp Nhện (Arachnida) [lớp này thuộc ngành Arthropoda và gồm vài loại tiêu biểu là Bò cạp, Nhện vườn và Ve ghẻ]. Lịch sử loài bò cạp đã khởi sự cách nay 400 triệu năm.

Tùy loại, bò cạp có từ 2 – 12 mắt, nhưng bò cạp không mấy tinh nhuệ về thị giác. Các khoa học gia cho rằng chúng chỉ phân biệt được sáng và tối. Tuy nhiên, thay thế cho thị giác yếu kém, trời đã phú cho bò cạp nhiều giác quan khác bén nhậy hơn giúp bò cạp trở thành tên hảo hán kiêu hùng trên sa mạc. Những sợi lông nhậy cảm trên cặp càng và trên mặt bụng giúp bò cạp phát giác được từng động tĩnh nhẹ nhàng chung quanh nó.

Mặc dầu nhiều người nghĩ rằng bò cạp là sinh vật sống nhiều ở miền nhiệt đới, một số cũng sinh sống ở những vùng cao và lạnh như dãy Atlas miền Bắc Phi. Chúng cũng đóng sào huyệt tại sa mạc và những vùng rừng rậm.

Đầm lầy Salt River phía Đông thủ phủ Phoenix của tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ là sào huyệt của một loại bò cạp nguy hiểm nhất Bắc Mỹ. Đó là loại Centruroides Sculpturatus. Một loại khác kém nguy hiểm hơn nhưng kiêu hùng hơn là Hadrurus Arizonesis. Nọc độc của loại này gây nên những vết sưng như vết ong chích, còn loại trên có thể khiến nạn nhân chết được. Nọc độc lan ra rất nhanh khắp các mô của cơ thể, tác dụng mãnh liệt trên các dây thần kinh và cả tim, tạo nên tình trạng động kinh, quắp tay chân và tình trạng khó thở. Tên sát nhân tuy nhỏ bé, chỉ từ 2 – 4 cm nhưng đã khiến nhiều người thiệt mạng.

Trường hợp rủi ro xảy ra tai nạn, nạn nhân phải dùng ngay thuốc giải độc. Hiện nay đã có huyết thanh chống nọc độc của bò cạp rất hiệu nghiệm.

Nhưng dù thuốc nào và hiệu quả đến đâu chăng nữa, tốt nhất là tránh vượt sa mạc sau khi màn đêm bao phủ. Ban ngày, sa mạc có vẻ bình thản, yên lành và vắng vẻ thật đấy nhưng khi đêm đã xuống, sa mạc trở thành một bãi chiến trường man dại. Trong vòng chiến có cả rắn, rết, nhện, bò cạp và nhiều vật ăn đêm khác. Vũ khí gồm có những chiếc răng bén nhọn, những cặp càng to khỏe và chiếc đuôi chứa nọc độc của bò cạp. Cuộc chiến diễn ra thật anh dũng và mục tiêu cuối cùng không gì khác hơn là sự sống.


PHẤT MỤC NHÂN NGHỊ   


Phụ chú của hình trên:

Đây là hình ảnh loại bò cạp có lông Hadrurus Arizonesis. Tên hảo hán sửa soạn ăn thịt con mồi. Chiếc đuôi cong lên sẵn sàng đập mạnh vào địch thủ để tiêm nọc độc nếu cần.



(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 230, ra ngày 1-1-1975)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>