Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

CHƯƠNG II_MỘT CUỘC HỒI SINH


CHƯƠNG II

MỘT ÔNG THẦY

Ông bà Thúc vừa tiễn một đám khách ra cửa, quay vào đã thấy thằng Tề bù lu bù loa mách :

- Ba má có bảo anh Di không chịu làm bài giùm cho con đó.

Chưa hiểu nếp tẻ ra sao, bà Thúc đã mắng tới tấp :

- Thẳng Di đâu ? Mày bận rộn cái gì mà không chịu làm bài cho em ? Tao đã để cho mày mỗi ngày mấy giờ ngồi mà nghỉ xả hơi, sao còn làm biếng vậy ? Muốn sống muốn tốt lấy tập vở làm ngay bài cho thằng Tề đi, không mày chết mấy tao bây giờ...

Người thím đứng mắng liền liền, mắng xối xả. Thằng bé kiên nhẫn đứng nghe, đợi lúc thím nó nghỉ lấy hơi mới dám rụt rè trình bầy lại.

- Thưa thím, từ chiều đến giờ cháu giảng đi giảng lại cho em nhiều lần rồi. Hỏi có hiểu không, em nói hiểu, vậy mà vẫn không chịu làm bài, và cứ đòi cháu làm hộ.

Thằng Tề cãi :

- Con nói hiểu để khỏi phải mắng đấy chứ. Thực tình, con chẳng hiểu gì hết.

Ông Thúc lấy làm lạ hỏi :

- Bài chi mà khó vậy ?

- Thưa ba, cả bài luận lẫn hai bài toán đố.

- Ở trường, thầy có giảng kỹ không?

Ngập ngừng giây lâu để suy nghĩ xem nên nói đối hay cứ nên nói thật, thằng Tề quyết định trả lời thẳng thắn :

- Thầy có giảng, nhưng con không hiểu.

- Sao không xin thầy giảng lại?

- Con không dám. Giảng xong, bao giờ thầy cũng hỏi ai không hiểu giơ tay lên, con không dám giơ tay.

- Vậy là ở trong lớp mày không chịu ngồi yên mà lắng tai nghe rồi. Tao biết, mày ham chơi, đánh đu vời tụi nhà lá, vào trong lớp chỉ lo phá chứ không lo học...

Bà Thúc bênh con :

- Sao ông biết nó ngồi với tụi nhà lá ? Sao ông biết nó chỉ lo phá, không lo học? Cái ông này, chỉ được mỗi một môn gán cái xấu cho con là không ai bằng!

Quay sang thằng Tề, bà hỏi:

- Thế ờ nhà, thẳng Di giảng lại, con có hiểu không?

- Hiểu. Nhưng quên ngay. Cũng như không hiểu vậy. Bài chi mà khó quá !

Không đắn đo, bà Thúc hạ một lời phán quyết:

- Vậy là thằng Di dở, không biết cách giảng, không chịu giảng đến nơi đến chốn, không làm đầy đủ bổn phận. Phải giảng làm sao cho nó thật hiểu mới được chứ! Thằng Di đã dở, cả thầy giáo cũng dở luôn...

Biết điều hơn, ông Thúc vội cản:

- Này, mình đừng có nói bậy. Đến tai ông giáo thì phiền lắm đó!

Bà vợ vẫn kênh kiệu như thường lệ:

- Phiền! Phiền cái gì! Dậy dỗ con tôi mà để con tôi dốt, tôi cứ nói!

Ồng chồng cười gằn đáp :
 

- Vâng, bà cứ nói. Còn thầy giáo nghe được, thầy cứ nổi giận, thầy cứ đuổi cổ nó ra. Lúc ấy, xin bà cứ ráng chịu!

- Sức mấy! Sức mấy đuổi được con tôi!

- Phải rồi, bà thần thế, sức mấy thầy dám đuổi con bà! Này, nói cho bà hay trước, ông giáo Thiết không biết nể nang ai đâu. Đến con ông tỉnh trưởng hỗn, ông ấy cũng đuổi thẳng cánh, huống hồ con trưởng ty quèn !

Giật mình, bà Thúc hỏi, giọng hơi lo ngại:

- Vậy hả ?

- Chứ sao! Năm ngoái, thằng Hạnh, con ông tỉnh trưởng cũ đó, láo lếu làm sao không biết, ông ấy cảnh cáo mấy lần không kết quả, ông ấy đuổi thẳng cánh. Học trò sợ xanh mặt. Ông hiệu trưởng cũng xanh mặt luôn...

- Rồi sau làm sao ?

- Ông tỉnh sai người nhà dẫn thằng Hạnh tới trường xin lỗi. Ông ấy đuổi về không tiếp. Ông tỉnh gọi dây nói làm áp lực với ông hiệu trưởng cũng thất công luôn. Rút cục ông tỉnh phải đích thân dắt thằng Hạnh đến lớp, lấy tư cách phụ huynh học sinh mà xin lỗi thầy, ổng mới chịu tha đấy. Bà liệu có "ngon" hơn ông tỉnh không ?

Bà Thúc ngạc nhiên hỏi:

- Một ông giáo viên quèn mà hách đến thế kia à ?

- Không phải là hách ! Người ta chỉ giữ đúng cương vị của một ông thầy. Một vị thầy nghiêm minh. Có vậy kỷ luật nhà trường mới được tôn trọng. Học trò sợ thầy một phép, không đứa nào dám cậy thần cậy thế của cha anh mà hỗn láo nữa. Tôi sợ cứ cái mửng này thằng Tề nhà mình thế nào cũng có ngày bị ông ấy tống cổ thì hết đường xin xỏ.

Thấy hai đứa vẫn đứng ngây người nghe chuyện, ông bảo :

- Thôi, hai anh em liệu vào bảo ban nhau học hành đi. Khuya rồi.

Thằng Tề phụng phịu :

- Đến giờ đi ngủ rồi, con buồn ngủ quá. Ngày hôm nay học nhiều thấy mồ, chắc con không thức học được nữa đâu.

Bà mẹ âu yếm vuốt ve con :

- Ừ, con trai tôi đã mệt đừ. Thôi xuống dưới nhà đánh răng, rồi đi ngủ cho khỏe đi con.

- Thế còn bài luận, còn hai bài toán ? Hay là ngày mai ba má cho con nghỉ ở nhà ?

Cả hai cùng giẫy nẩy và la :

- Không được đâu !

Bà Thúc quyết định rất nhanh :

- Thằng Di chịu khó thức khuya một chút làm bài cho em nghe.

Di rụt rè thưa :

- Vâng. Nhưng cháu sợ thầy biết không phải tuồng chữ của em Tề, thầy phạt.

Bà Thúc gạt phắt đi:

- Úi dào! Cả lớp năm sáu chục đứa, làm sao mà nhớ cho xiết được. Cứ làm cho em đi, có gì tao chịu ! Ráng làm sao cho hay, thẳng Tề được nhiều điểm thì tao có thưởng.

Ông Thúc nói buông xuôi :

- Mong ông ấy thông qua cho là phước rồi. Bắt đầu từ ngày mai, thằng Tề phải cố gắng học hành chứ không được bê bối như vậy nữa. Năm nay là năm đi thi. Giữ mãi cái điệu học hộ, làm bài hộ thì làm sao đậu được !

Bà Thúc đánh ngay một câu trắng trợn :

- Lại đến thi hộ là cùng chứ gì ! Thời buổi này, chỉ sợ không có tiền. Có tiên, việc khó đến đâu cũng xong tuốt luốt!...

*

Không biết thằng Di đêm ấy phải thức đến mấy giờ. Chỉ biết sáng ra, bài nào bài nấy xong xuôi, chữ viết gọn gàng, sạch sẽ. Thằng Tề mừng rỡ, xách cặp bước ra đường, cùng với các bạn "chân sáo chạy tung tăng", tâm hồn thanh thản như thể chính mình đã làm đầy đủ bổn phận của một người học trò.

Nhưng buổi sáng đi học nó hớn hở bao nhiêu thì buổi trưa, ở trường về, nó tiu nghỉu bấy nhiêu.

Má nó hỏi ngay :

- Thế nào, hai bài toán có trúng không, con ?

- Dạ, trúng, cả lớp chỉ có con làm trúng cả hai bài. Trúng hoàn toàn cả hai bài.

- Còn luận văn ?

- Cũng vậy nữa. Bài của con hay nhất lớp.

Bà mẹ mừng rỡ, hỏi tíu tít:

- Vậy hả? Thầy khen hả? Thầy cho nhiều điểm hả ? Thằng Di vậy mà được việc. Phải thưởng cho thằng Di như đã hứa. Mà sao má thấy con ỉu xìu như bánh mì mắc mưa vậy ?

Thẳng Tề cúi mặt, trả lời khe khẽ, mắt không rời mấy ngón chân của nó không ngớt ngọ nguậy ở mũi đôi dép đầy bụi đất.

- Không ỉu sao được má ? Mắc cỡ muốn chết!

- Ủa ! Thầy biết sao ?

- Dạ, thầy biết, và thầy đòi trừng trị...

Người mẹ thương con, thở dài thườn thượt:

- Chết con tôi rồi !...

Thằng Tề cải chính ngay :

- Không phải con. Thầy đòi trừng trị... anh Di cơ. Thầy bảo anh Di mới là chính phạm, con chỉ là tòng phạm.

Bà Thúc mừng rỡ ra mặt:

- Vậy hả ? Má cũng đỡ lo... Nào, đầu đuôi ra sao, kể rõ cho ba má nghe đi con.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Giờ toán. Sửa bài kỳ trước.

Tiếng thầy sang sảng cất lên giữa lúc các trò ngồi im phăng phắc, bút đặt hết xuống bàn :

- Hai bài toán kỳ rồi, thầy ra hơi khó, cốt để thử sức các trò. Có năm trò không làm được. Lát nữa thầy giảng lại cho. Một số lớn làm trúng được mỗi bài một nửa.

"Hai trò khá toán nhất — trò Cang và trò Lễ — làm được gần trúng hết. Trật mất một câu.

"Chỉ có một trò giải được hoàn toàn cả hai bài một cách đáng khen. Đó là... trò...

Thầy, giáo giơ bài đáng khâm phục đó lên cao, phất phất. Mấy chục cặp mắt ngây thơ nhìn như dán vào tờ giấy mong manh. Chúng đoán không ra đứa nào "kền" toán hơn cả thằng Cang, thằng Lễ. Và chúng ồ lên một tiếng ngạc nhiên khi nghe thầy tuyên bố:

- Đó là... trò... Tề. Trò Tề đâu ? Đứng lên coi !...

Tề đứng lên, khoanh tay, mặt cúi gầm, hai tai đỏ ửng.

Các bạn nó trố mắt nhìn, có đứa ngạc nhiên, có đứa bỗng dưng thấy sợ cái thằng bê bối ở xóm nhà lá này sao tiến bộ chóng thế.

Thầy giáo tiếp tục :

- Bài của trò Tề xứng đáng được mười trên mười. Nhưng trước khi thầy hạ bút phê điểm, trò hãy lên bảng giải lại cho các bạn cùng hiểu. Các trò không làm được tí nào phải chú ý nghe cho thật kỹ.

Sét đánh ngang tai cũng không làm cho nó choáng váng bằng những lời nói đầy ưu ái đó. Nó lẩm nhẩm:

- Chết cha rồi!

Và nó rời chỗ, thất thiểu đi lên bảng như một tên trọng phạm tiến tới đoạn đầu đài.

Nó đứng chết trân, mặt úp vào bảng, tay mân mê cục phấn, không vạch được một con số trắng nào trên nền xanh lá mạ.

Thầy cho nó đứng nép một bên và gọi trò Cang lên bảng.

Miệng nói, tay viết, Cang làm toán chạy vo vo. Nhưng đến câu hỏi chót, nó đứng sững lại.

Thầy cầm thước gõ vào bảng, nói :

- Trò Cang đã làm trúng được đến đây. Đó là một điều đáng khen. Câu hỏi chót chỉ có một mình trò Tề đáp trúng. Trò Tề giải tiếp đi coi.

Tề vẫn đứng ì ra đó như bị trời trồng.

Thầy từ từ đứng lên, làm tiếp cho trò Cang và giảng kỹ lại từ đầu cho cả lớp.

Đến bài toán đố thứ hai, cuốn phim quay lại giống y đoạn vừa quay, chỉ có một điều khác là vai thằng Cang được thằng Lễ đóng thay mà thôi.

Vai của thằng Tề là vai một tên chịu tội, mặc dầu thầy không đánh một roi hay mắng một câu nào.

Nó bụng bảo dạ:
 
- Biết thế nộp giấy trắng, sướng hơn ! Thà lãnh cặp hột vịt lộn và vài cú roi mây đau quắn còn nhẹ nhõm tấm thân hơn !

Phê điểm cho các trò xong đâu đấy, thầy mới hất hàm hỏi nó :

- Thế nào ? Trò tự làm lấy bài hay mướn ai làm giùm ?

Nước mắt chạy quanh, nó năn nỉ:

- Thưa thầy, bài khó quá. Anh con giảng lại cho con, con cũng vẫn không hiểu. Vì sợ thầy quở phạt nên con phải nói với anh con làm giùm. Thầy tha cho con lần này, lần sau con không dám thế nữa ạ.

- Anh trò là ai ? Làm gì ? Học đâu ?

- Thưa thầy, anh con là anh Di, anh em con chú con bác ruột với con. Năm ngoái, anh con cùng học với con ở lớp nhì. Năm nay, vì việc gia đình anh con phải nghỉ ở nhà.

- À à, thầy nhớ ra rồi. Phải trò Di đứng đầu danh sách các trò được lên lớp mà lại vắng mặt từ đầu niên khóa không ? Hừ! Thế trò Di đã đi làm rồi sao?

- Thưa thầy, không phải ạ. Anh con bằng tuổi con, còn nhỏ quá, đâu đã đi làm. Anh con chỉ giúp đỡ những công việc vặt trong gia đình mà thôi ạ.

- À ra thế! Thôi được. Bây giờ hãy nói đến tội của trò. Thầy phạt : hai con dê rô và một tuần đuổi tạm. Như vậy oan hay là ưng đây ?

Không riêng gì một mình thằng Tề sợ, mà cả lớp cũng sợ tản thần. Tề van vỉ :

- Lạy thầy, thầy tha cho con lần này là lần đầu và cũng là lần chót. Từ rày, con không dám tái phạm nữa.

Ngẫm nghĩ một lúc, thầy nói :

- Trò Di làm giùm bài cho trò Tề. Tội của trò Di nặng hơn, không thể không trừng trị. Thầy chỉ có thể khoan thứ cho trò Tề sau khi trò Di đến đây cho thầy hỏi tội.

Tề khôn ngoan hỏi lại thầy cho chắc ăn :

- Thưa thầy, thầy sẽ tha tội cho con sau khi anh Di con đến đây xin lỗi thầy ?

Thầy quắc mắt quát:

- Xin lỗi hả ? Mới nứt mắt ra đã giở trò gian dối ! Quân này phải trừng trị cho đích đáng mới được!



Đến giờ luận văn, thầy chỉ liếc sơ qua chồng bài vừa góp đã nhận ngay được tuồng chữ đặc biệt của thằng Di, đều đặn, rộng rãi và sáng sủa.

Lấy ra coi, quả nhiên trên góc trái đề tên Trương Đức Tề. Thầy hỏi :

- Trò Tề, đây có phải là bài trò tự làm lấy hay không ?

Tề ấp úng :

- Thưa thầy...

Đập thước kẻ xuống bàn, thầy quát :

- Phải bài tự trò làm lấy không ?

- Thưa thầy, không ạ.

- Ai làm giùm ?

- Thưa thầy, anh Di con.

Thầy cười nhạt nói :

- Vẫn trò Di! Trò này quá lắm, không trừng phạt không xong. Thôi, cho ngồi xuống. Tội trò Tề lớn lắm đó, nghe chưa ?

Trong khi thằng Tề xanh mặt ngồi xuống ghế, thầy lấy bài thằng Di làm hộ nó ra coi, chốc chốc lại gật đầu ra vẻ vừa ý lắm. Bài khá dài mà thầy chịu khó đọc đi đọc lại đến hai ba lần ...

*

Anh em thằng Di, thằng Tề cùng xếp hàng vào lớp. Khi thầy giơ tay ra hiệu cho tất cả học trò ngồi xuống thì hai đứa dắt nhau lên bàn thầy.

Tề lễ phép trình :

- Thưa thầy, sáng nay anh Di con đến đây cho thầy dậy bảo.

Di khoanh tay, cúi đầu, chào :

- Lạy thầy ạ !

Thầy nhìn nó từ đầu đến gót, rồi hỏi bằng một giọng hiền từ :

- Anh Di đây hả? Được. Cho trò Tề về chỗ. Còn anh Di, đến giờ ra chơi, tôi sẽ hỏi tội anh. Bây giờ anh muốn ra ngoài sân đứng chờ hay ngồi trong lớp đợi tôi ?

- Thưa thầy, thầy cho con ngồi trong lớp ạ.

- Tốt ! Vậy xuống dưới bàn chót kia ngồi chơi đi.

- Dạ.

Mấy hàng ghế chót tranh nhau dành một chỗ trống rộng rãi cho thằng Di. Chúng đều là bạn học với nhau ở lớp nhì, và đứa nào cũng thích được ngồi gần một bạn vừa giỏi giang vừa tử tế.

Giờ này là giờ toán làm ngay trong lớp. Thầy hay ra đề cho học trò tập tìm đáp số trong một thời gian kỷ lục.

Lệnh từ trên bàn thầy vang lên :

- Các trò gấp sách vở lại. Lấy giấy bút ra đi. Sẵn sàng chưa ? À, anh Di có muốn tham gia với các bạn cho vui không ? Có hả ? Có bút chưa ? Trò nào cho anh ấy một tờ giấy rời đi... Nào, nghe thầy đọc đầu đề...

Từ trên bục cao, thầy ngó xuống dặn :

- Trò nào làm xong trước cứ việc đem bài lên đây nghe.

Thầy mở sổ ghi chép, chốc chốc lại ngửng đầu lên coi có trò nào đã giải xong bài. Chưa, đứa nào cũng đang hí hoáy cộng cộng trừ trừ. Một vài đứa ngẩn ngơ, ngước mắt lên trần, cắn bút.

Nghển đầu nhìn xuống bàn chót, thầy ngạc nhiên thấy thằng Di ngồi không, mắt ngó lên bàn thằng Lễ, thằng Cang, chờ đợi.

Thầy nghiêm giọng hỏi :

- Anh Di, sao lại ngồi buông bút đó ?

- Thưa thầy, con đã làm xong rồi ạ.

- Đưa lên đây coi nào !

Mặt thầy tươi hẳn lên, nụ cười hiếm hoi hé nở trên đôi môi nghiêm khắc.

Giữ tờ giấy trên bàn, thầy truyền :

- Cho anh về chỗ.

Năm phút sau, thằng Cang, thằng Lễ mới đưa bài lên. Rồi từng tốp năm ba đứa nối tiếp nhau lên nộp bài.

Mười phút. Hết giờ. Gõ thước xuống bàn, thầy ra lệnh :

- Thôi, đặt cả bút xuống. Mới có phân nửa các trò giải trúng trong thời gian hạn định. Phần còn lại phải cố gắng thêm mới được... Trò Cang, lên bảng giải cho tất cả các bạn coi đi nào.

Đề thứ hai, thầy cố ý ra khó hơn đề thứ nhất. Và thầy yên trí ngồi làm việc trong mười phút không cần ngửng đầu lên.

Vừa gấp sổ lại, vừa đảo mắt nhìn khắp lớp, thầy ngạc nhiên bắt gặp tia mắt thằng Di đang hướng về phía thầy. Thầy hỏi :

- Ủa ! Anh Di tìm ra đáp số rồi sao ?

- Dạ.

- Xong rồi sao không nộp? Mang lên đây coi nào.

Năm phút nữa qua, vẫn chưa trò nào làm xong, Thầy cho ngừng bút,

- Bài toán này khó. Mới có một mình anh Di làm xong. Ác cái anh Di lại không phải là học trò lớp này !

Thầy đắn đo hỏi tiếp :

- Vậy các trò muốn thầy sửa bài cho, hay là ưng anh Di lên bảng làm bài giải ?

Chúng nó nhao nhao, không chút đố kỵ:

- Anh Di, anh Di!

- Thưa thầy, anh Di ạ!

Cả lớp, kể cả ông thầy, có vẻ quý thằng Di lắm. Thằng Tề vui mừng hơn cả anh nó. Buổi học sáng hôm nay dường như đã xóa sạch những vết lem nhem mà nó đã dại dột bôi vào mình suốt buổi sáng hôm qua.

Giờ ra chơi, thầy giữ thằng Di lại ở trong lớp đề thầy "hỏi tội" như lời thầy dọa.

- Di, con có phải là con ông Trương đức Bá không ?

- Thưa thầy, phải ạ.

- Bây giờ, ba con đâu ?

- Thưa thầy, ba con bỏ xứ đã được một năm rồi, con không biết ba con đi đâu.

- Hiện con ở với chú ruột là ông Trương đức Thúc ?

- Dạ, phải.

- Tại sao con không đi học nữa ?

- Thưa thầy, tại vì nhà neo người, thím con muốn có người tin cẩn ở nhà trông nhà, giúp đỡ những việc lặt vặt và luôn tiện kèm cho em Tề con học.

- Con làm thế nào kèm nó được trong khi chính con không đi học?

- Thưa thầy, mỗi ngày con xem vở của em con. Con học ké bài của em con trước khi con giảng lại bài cho nó.

- Ừ, con thông minh và có chí đấy. Nhưng không đi học thật uổng. Thầy có cách buộc chú thím con phải cho con đi học lại. Con nghĩ sao ?

- Thưa thầy, nếu con được đi học lại thì con mừng lắm. Nhưng con sợ làm buồn lòng chú thím con...

Sau khi nghe nó kể lại chuyện thằng Trí và lời lẽ của ông tỉnh trưởng, ông Thiết chép miệng nói:

- Kẹt cho con quá há ! Thôi, thầy có một giải pháp tạm này, ta cứ dùng đỡ một thời gian, rồi sẽ liệu sau ...

"Con vẫn cứ ở nhà, nhưng sẽ có nhiều thì giờ học hơn. Con vẫn kèm cho thằng Tề học. Con sẽ làm tất cả các bài tập và lại nhà thầy nộp cho thầy mỗi tuần một lần vào ngày chủ nhật. Sáng hay chiều cũng được. Thầy sẽ giảng thêm cho con ít giờ, và sẽ ra cho con những bài tập làm ngay tại chỗ. Có được không ?

Cảm động ứa nước mắt, nó cúi đầu thưa :

- Thầy thương con như vậy, con đội ơn thầy suốt đời. Nhưng con sợ thím con không bằng lòng,

ông Thiết gạt đi :

- Không lo. Thầy đã có cách...

Khi chuông reo báo hết giờ ra chơi, thầy vỗ vai thằng Di và bảo nó bằng một giọng thiết tha, thân mật :

- Ba con là bạn cũ của thầy. Thầy muốn làm sao cho con được đi học lại, và học đến nơi đến chốn...

"Bây giờ, hãy tạm như thế đã nhé. Sau này có điều gì khó khăn, con cứ lại cho thầy hay, thầy sẽ liệu giùm cho.

___________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

CHƯƠNG I_MỘT CUỘC HỒI SINH


 CHƯƠNG I

MỘT THẰNG CHÁU

Bộ sa-lông lộng lẫy kiểu mới nhất và dĩ nhiên cũng đắt giá nhất trưng bầy mấy tháng nay tại một nhà sản xuất đồ gỗ danh tiếng ở Saigon, đường Hồng Thập Tự, vừa được trịnh trọng đưa về trang trí ngôi nhà tỉnh lẻ của ông Trưởng ty Trương đức Thúc.

Căn phòng khách được kê dọn lại có một bộ mặt hớn hở tả đúng tâm trạng của vợ chồng vị chủ nhân đang hân hoan tột đô. 

Không khí phẳng lặng của một tỉnh nhỏ được dịp xao động. Và người dân xúc động trước "biến cố".

Bạn bè thân thiết tới thăm không ngớt lời trầm trồ khen ngợi, thán phục. Họa hoằn mới có một đôi người mỉm miệng trầm ngâm, đứng lắng nghe tiếng cười thầm lặng của bốn bức tường vôi cũ như nhạo báng nét hợm hĩnh của những chiếc nệm gấm mới tinh.

Chúng kiêu căng là phải vì cả tỉnh, kể cả tư dinh của ông tỉnh trưởng, có bộ nào bén gót chúng đâu.

Khi phân tách từng điểm những cái đẹp, cái hay của bộ đồ gỗ mới sắm, cũng như khi khoe khoang giá cả, ông Thúc hân hoan như một vị công chức có lương tâm vừa hoàn thành xong một công tác lợi dân ích nước.

Bà Thúc hãnh diện tột bực tưởng chừng như do cuộc mua sắm này bà đã làm đẹp mặt cho bà con toàn tỉnh bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của vợ chồng bà mà bà đã có công thu vén.

Bà vui và dễ dãi với tất cả mọi người.

Nhưng ngày vui thường ngắn, nhất là đối với những người ít có ngày vui. Như thằng Di, cháu gọi ông Thúc bằng chú chẳng hạn. Chú ruột. Nó không ngờ cái ngày phòng khách nhà chú nó được rạng rỡ hơn lại là ngày bắt đầu của quãng đời ấu thơ đen tối của nó.

Là vì bà Thúc, một con người luôn luôn biết lo xa, đã vội nghĩ đến ngày mai khi niềm vui ngày hôm nay vừa lắng xuống.

Trước khi đi ngủ, bà đã nghiêm khắc truyền lệnh :

- Tao giao bộ sa lông này cho thằng Di đó liệu mà giữ như giữ cái linh hồn nhỏ xíu của mày. Bất cứ lúc nào, tao không muốn trông thấy một hạt bụi trên mặt bàn, trên tay ghế. Tao không chịu nổi cái riềm đăng ten trên lưng ghế bị cong queo dăn dúm cũng như tao chúa ghét cái chân ghế bằng đồng nào không bóng lộn như vàng. Bình bông luôn luôn phải có hoa tươi. Cái gạt tàn bằng pha lê cũng phải luôn luôn trong suốt. Đó, liệu làm sao thì làm..

Quay nhìn hai người giúp việc nhà khoanh tay đứng gần đó, bà tiếp :

- Thằng Bộc, tao không khiến mày sớ rớ đến bộ sa lông quý giá này, nghe chưa ? Tay chân mày kệch cỡm quá, đụng vào đâu chỉ có làm hư, làm bẩn đồ đạc của người ta thôi. Còn vú già, công việc của vú là ở dưới sân, dưới bếp, tôi không mượn vú lên nhà trên táy ma táy máy...

Rồi bà hướng về thằng Di, kết luận :

- Nói tóm lại, trừ những khi nhà có khách, tao muốn mày lúc nào cũng có mặt bên cạnh bộ sa lông với một cái phất trần và một cái khăn lau thật sạch... Hiểu rõ chưa nào ?...

Thằng nhỏ ngập ngừng thưa :

- Thưa thím, cháu hiểu. Bắt đầu từ sáng mai, ở trường về cháu sẽ lo công việc lau chùi trước khi lo học bài, làm bài.

Người thím, giọng cong cớn, dè bỉu, dằn từng tiếng:

- Vậy mà mày la hiểu! Quân ngu có khác! Lúc nào cũng học, học ! Không có học gì hết! Từ giờ trở đi, không có bầy đặt đến trường làm gì cho tốn công, mất thì giờ. Biết đọc, biết viết, vậy đủ rồi. Học lắm chỉ tổ dở ông, dở thằng, chứ báu gì? Ở nhà mà học làm học lụng cho quen, nữa lớn chú mày kiếm việc nào tôn tốt cho mà làm, cũng đủ ấm cái thân...

Biết tính sắt đá của bà chủ nhà, cả hai người làm, cả thằng Di đều không dám hé răng cãi lại.

*

Thằng Tề nó đùa ở ngoài đường với bạn đã đời rồi mới trở về mách mẹ:

- Má có bảo anh Di anh ấy ở nhà không chịu làm bài cho con đó. Bài ngày mai phải trả, con cũng chưa thuộc nữa.

Bà Thúc quát vang:

- Di! Sao mày bướng bỉnh và làm biếng vậy ? Bài của em, sao mày không lo làm cho nó?

- Thưa thím, cháu có được đi học đâu mà hiểu được bài thầy! Ở nhà, cháu cũng không được phép mở sách ra coi thì làm sao cháu giảng lại cho em được.

Bà Thúc cong cớn :

- Á à! Thằng này lý sự! Những đứa ngu bao giờ cũng hay lý sự cùn. Tao chúa ghét cái thói...

Ông Thúc đi chơi về, mặt đỏ gay vì rượu dừng chân ở cửa. Nghe hai thím cháu đối đáp, ông mạnh dạn bước vào và can đảm lên tiếng can thiệp :

- Thằng Di nói có lý đó, mình. Ngày mai, mình cho nó đi học lại đi. Rồi buộc nó phải lo cho thằng Tề hết mình. Hễ thằng Tề không thuộc bài, phải ăn hột vịt thì mình cứ đánh tuốt xác thằng Di ra cho tôi.

Bà Thúc lườm chồng không đáp. Bà là người bắc bực kiêu kỳ thích người ta quy lụy van xin chứ không ưa những lời can khéo.

Tuy nhiên, dù không nhượng bộ ông chồng, bà vẫn phải lùi một bước nhỏ đối với thằng cháu:

- Thôi được, bà nói, cho mày vào lấy sách ra coi rồi làm bài lẹ lẹ lên cho nó.

Thằng Di vội vào phòng học lôi sách vở của đứa em ra cắm cúi đọc trong khi thằng Tề đi tắm rửa một cách thật an nhàn. Tắm xong, nó nhẩn nha mở tủ lạnh lấy trái cây ăn. Nếu anh nó không lên tiếng gọi, nó dám đứng đó ăn cho thích khẩu rồi đi ngủ luôn.

- Vào đây anh giảng cho Tề! Lẹ lên, còn làm bài nữa chứ. Muộn rồi.

Nó giẫy nẩy lên, không chịu :

- Anh cứ làm bài giùm cho em thôi, khỏi giảng mất công. Còn bài học, cứ để đó từ từ em học, thuộc chừng nào hay chừng nấy.

Anh nó ôn tồn giải thích :

- Anh làm giùm em cũng được, nhưng như vậy chẳng ích lợi gì cho em hết. Em không hiểu bài, học sẽ lâu thuộc. Và nếu thầy bắt em lên bảng sửa, em làm sao sửa ?

- Mặc kệ !

Thằng Tề nói rồi vùng vằng chạy ra mách mẹ :

- Má có bảo anh Di không, anh ấy không chịu làm bài cho con đó. Cứ đòi giảng lại bài hoài. Ở trong lớp đã nghe thầy giảng đầy hai lỗ tai, về nhà lại còn hăm tống thêm vào một mớ nữa, ai mà chịu cho nổi !

Nuông con một cách mù quáng, bà Thúc quát thằng cháu:

- Sao, sao, thằng kia? Sao mày cứng đầu, cứng cổ vậy ?

Di lễ phép trình bầy :

- Thưa thím, em con ở trường không chịu nghe lời thầy giảng nên học bài khó thuộc, nhất là bài chép vào vở lại chép sai.

- Sao mày biết là sai ? Bà Thục hỏi vặn.

- Tại vì câu văn trúc trắc, không ra đầu ra đuôi gì hết.

- Thì mày phải dò cho ra rồi sửa lại cho nó chứ!

- Vâng, cháu đã dò ra và sửa lại cho em rồi. Nhưng cái quan trọng là em phải học. Học thuộc rồi, em phải tự mình làm lấy bài. Như vậy mới có ích cho bản thân em.

Bà Thúc chưa kịp quyết định thì ông Thúc đã một lần nữa lè nhè can thiệp :

- Nó nói phải đó, mình. Bây giờ bắt thẳng Di lấy sách của thằng Tề ra mà học. Thuộc rồi, phải giảng kỹ lại cho em. Còn thằng Tề phải cố hiểu, học cho thuộc rồi tự mình làm lấy bài tập. Chỗ nào không rành phải nói với anh để anh giảng lại cho.

Bà Thúc gắt:

- Thôi, ông im đi cho tôi nhờ. Đi chơi cho đã đời, về lại còn bày đặt lên giọng thầy đời !

Và bà quát hai đứa nhỏ :

- Thôi đã khuya rồi đó! Thẳng Tề vào học đi một lúc. Thuộc hay không thuộc, cũng chỉ học một lúc thôi, còn phải đi ngủ cho lại sức. Còn thằng Di thì xem có những bài tập nào phải làm thì làm ngay cho em đi...

*

Buổi chiều, bà Thúc thường đi đến các nhà tai mắt quen trong tỉnh chơi. Đủ chân thì đánh bài. Không thì lê la nói ba điều bốn chuyện. Nhà đã có hai đứa, thằng con và thằng cháu, vừa học vừa trông chừng.

Hôm ấy, thằng Tề đang làm dở một bài toán thì hai thằng bạn cùng lớp thân nhất của nó sồng sộc chạy vào.

- Tề, đi đá banh, mày, thằng Lực rủ.

Thẳng Trí giục thêm :

- Mau lên mày ! Chúng nó đang đợi kia kia !

Liếc nhìn anh, thẳng Tề đáp ậm ờ :

- Đợi tao tí! Tao chưa làm xong bài toán.

Thằng Lực sốt ruột đến sát bàn học, nắm tay thằng Tề, lôi ra :

- Kệ ! Học làm gì! Hãy chơi cho sướng đã. Đi lẹ lên cho được việc, mày!

Thẳng Tề từ nãy đã nhấp nhổm muốn di, liền theo đà đứng phắt dậy. Nó nói:

- Anh trông nhà, em đi chơi. Sáu rưỡi em về.

Vẫn ngồi ở ghế, Di trả lời, giọng cứng rắn:

- Không! Ở nhà! Chú thím dặn phải học đến đúng sáu giờ mà !

Thẳng Lực buông tay bạn, quay phắt lại, quắc mắt, hỏi gay gắt :

- Mày là cái thá gì mà cấm cản chúng tao ?

Thằng Trí đứng cạnh, buông lời cay độc :

- Cái thứ thằng nhỏ ở không công mà cũng bày đặt...

Câu nói chưa dứt, hai đứa đã hoảng kinh thấy thằng Di đứng sừng sững trước mặt, hai tay túm chặt ngực áo hai thằng, mạnh đến nghẹt thở.

Mặt hầm hầm, thằng Di hất hàm hỏi:

- Chúng mày vừa nói gì ? Nhắc lại nghe coi!...

Sợ quá, thằng Tề năn nỉ:

- Thôi, anh Di, buông chúng nó ra. Thẳng Trí là con ông...

Điên tiết, thằng Di ngắt lời, tay soắn mạnh hơn cổ áo hai thằng :

- Con ông gì hỗn, tao cũng đánh !

Ngán sức lực của thẳng Di cao và to lớn hơn hai đứa, đồng thời sực nhớ lại để ngán luôn cái tài và cái gan đánh lộn của nó, hai đứa đành xuống nước :

- Thôi, cho xin lỗi đi bồ!

Khẽ đẩy hai đứa ra đàng sau làm cho chúng sửng vửng suýt té, Di mỉm cười khinh bỉ:

- Cút đi! Ai thèm bồ bịch với chúng mày. Từ giờ liệu hồn. Hỗn nữa là ăn đòn đó !

Bà Thúc vừa về tới, đã nghe thấy hết.

Bà vội quát thằng Di:

- Di! Không được hỗn !

Và bả lả với hai đứa kia :

- Dì xin lỗi hai cháu nghe! Hai cháu bỏ qua đi...

Được thể, hai đứa vừa rút lui chẳng thèm chào hỏi ai cả, vừa lầm bầm hăm he :

- Được rồi! Rồi cho biết tay !

Bà vợ sắp chu chéo lên thì ông chồng về tới. Kể khổ xong, bà than thở :

- Thế có chết không cơ chứ! Con ông tỉnh trưởng, nó cũng không tha. Tôi sợ phen này ông mệt lắm đa !

Ông Thúc cười, trấn an vợ :

- Khỏi lo. Chuyện này là chuyện trẻ con mà. Vía thằng Trí bảo, nó cũng không dám mách ba nó đâu, vì mách là ăn đòn. Ông tỉnh trưởng được cái không có nuông con làm bậy, nói bậy... Tôi biết ông ấy quá mà ! Nhưng có sợ là sợ vụ khác kìa :

Bà Thúc giật mình hỏi :

- Vụ gì ?

Ông Thúc thở dài đáp :

- Bộ sa-lông này này. Thiên hạ đồn ầm lên, thêm mắm dặm muối, đến tai ông tỉnh trưởng. Nghe như lão ta sắp sửa cho điều tra kín đáo lợi tức của vợ chồng mình. Và của nhiều người khác nữa...

Người vợ tái mặt, khẽ la lên :

- Chết! To chuyện đến thế cơ à ?

Người chồng vẫn bình tĩnh đáp :

- Chứ sao ! Vào lúc khác thì mệt lắm đó. Đối với công chức có đôi chút quyền hành thì một cái tóc là một cái tội. Đố ai có tài làm vừa lòng tất cả mọi người. Cho nên đã điều tra là dễ nẩy ra tội lắm... Nhưng đó là nói lúc khác, chứ bây giờ thì lại không sao.

- Chi lạ vậy ?

- Có gì là lạ đâu. Lão ta sắp sửa "bay" rồi! Anh Cảnh có tay ngai rất vững ở trung ương vừa cho biết như vậy đó.

Người vợ hớn hở hỏi dồn :

- Thế hả ? Có chắc không ? Bao giờ lão đi?

- Chắc chớ sao không chắc ! Họ khen lão ta giỏi, làm việc được. Phải có cái tội không biết ăn tiền và không biết nể nang ai. Mới về đây có mấy tháng mà đã đụng chạm lung tung. Gốc to, gốc nhỏ nào có sâu lão cũng định bứng đi hết. Vậy "bay" là cái chắc !

Bà Thúc hoàn hồn, cười tươi như hoa :

- Vậy là may hỉ ?

- May quá là may chứ còn gì nữa ! Lão mà vững ở đây lâu thì ngất ngư cả đám.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II

Một Cuộc Hồi Sinh


Truyện : CHÂN PHƯƠNG
Loại Hoa Xanh
Tủ sách Tuổi Hoa - 1974



Sưu tầm và scan truyện : THU HỒ, NHIM XU

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Cánh Chim Đơn

Trời bắt đầu nổi giông! Từng lớp mây đen ồ ạt kéo về chăng kín bầu trời của buổi chiều nơi thành phố. Tôi lo ngại nhìn đoạn đường về nhà còn khá xa, và thầm tiếc đã không mang áo tơi theo khi tin tưởng nơi ánh nắng gay gắt rực rỡ ban trưa lúc đi học.

Những hạt mưa nặng nước đã bắt đầu rơi xuống, mỗi lúc một nhanh hơn! “Như thế này thì đành là không thể dầm mưa chạy về nhà được!” Tôi nghĩ, rồi ôm cặp phóng nhanh vào mái hiên của ngôi nhà gần đó.

“Yên vị” trong một nơi tương đối an ổn so với cơn mưa ngoài trời, tôi rút khăn lau mặt và mái tóc ướt nước xong đưa mắt nhìn ra đường. Cơn mưa đổ ập đến thình lình làm khu phố mất hẳn vẻ thư thả hằng ngày của giờ tan việc. Những chiếc xe hơi, xe gắn máy phóng vội vã, những bác phu cyclo gò lưng cố đạp chiếc xe dưới làn mưa và sức gió, vài người khách dù có áo tơi hay không cũng tạt vào tạm trú dưới những mái hiên hai bên khu phố. Hối hả, dập dồn!... Rồi bộ mặt thành phố như tạm lắng đọng chờ cho qua sự ồ ạt của không gian.

Đang nhìn mông lung, tầm mắt tôi bỗng chăm chú vào chiếc bóng nhỏ của một người từ ngoài đường chạy nhanh vào chỗ tôi đứng. Vấp phải một chỗ trơn, cái hình vóc yếu đuối đó loạng choạng suýt ngã, nhưng rồi gượng ngay được. Tôi thở phào! Cùng một lúc với tiếng thở của cậu bé (Vâng, đó là một đứa bé trai, khoảng 12 hoặc 13 tuổi).

Dù ánh mắt tôi vẫn tò mò nhìn vào, cậu bé hình như không chú ý gì đến chung quanh. Toàn thân ướt sũng nước, cậu chỉ khẽ lúc lắc mái tóc, rồi chuyển mảnh nylon đang bọc vật gì cầm ở tay ra trước mặt. Vuốt nhẹ cho những giọt nước đọng phía ngoài rơi xuống, cậu bé cẩn thận mở mảnh nylon để lộ bên trong một vài tờ nhật báo. Thì ra cậu bé bán báo. Nhìn số báo ít ỏi còn lại, dáng cậu bé hình như vui vui. Gói vội vàng lại như cũ, cậu ngồi phệt xuống nền gạch rồi móc trong túi quần ra một nắm tiến, lẩm nhẩm đếm. Một lúc sau, như thấy kết quả “tài chánh khả quan”, cậu bé gục gặc đầu đoạn cuộn tròn tiền nhét vào túi. Lúc này, cậu bé mới có thì giờ nhìn đến “ngoại cảnh”. Cậu ngẩng lên, gương mặt rạng rỡ chạm ngay vào ánh mắt tôi và tôi thoáng giật mình. Ô! Thằng bé “hoang đàng” ngày nào đây mà…!


Đứa bé ấy đến xóm tôi vào khoảng thời gian cách đây hai tháng. Không ai biết đích xác nó từ đâu đến và cũng không ai biết nó tên là gì. Cái “mỹ danh” hoang đàng là do các bà hàng xóm và lũ trẻ con đặt ra khi dùng nó để làm đề tài cho mỗi mẩu chuyện. Một buổi sáng, mở cửa nhà tôi đã thấy nó nằm co quắp trên chiếc sập nơi mái hiên. Cái dáng nằm của nó thật là khổ sở! Một tay luồn dưới đầu, một tay thu vào, hai chân co lên gần tận ngực. Nghe động nó giật mình ngồi vụt dậy dụi mắt nhìn tôi, và tôi vẫn im lặng ngắm nó. Cái khuôn mặt đen đủi, gầy ốm của nó hầu như bị che đi một phần ba dưới mái tóc bù xù, dài thậm thượt. Ẩn hiện dưới cái “rèm” đen đó là đôi mắt lờ đờ, mất hết vẻ tinh anh mà đáng lý ra phải tràn đầy so với lứa tuổi của nó. Thấy tôi nhìn chằm chằm, nó mấp máy cặp môi khô nứt như muốn nói gì, rồi lại thôi. Trên khuôn mặt hốc hác nhưng vẫn còn giữ được nét trẻ thơ, tôi đọc thấy sự câm nín, buồn phiền, chịu đựng.

Nó lặng lẽ bỏ chân xuống đất, đôi tay khẳng khiu đưa lên vò bộ tóc rối (hình như là một thói quen). Rồi cũng vẫn thái độ im lìm, nó rời bỏ mái hiên nhà tôi, thẳng ra lộ. Manh áo chemise trắng đã sờn rách nhiều chỗ và ngả thành một màu bẩn mắt không tên, cùng chiếc quần cộc màu đen đong đưa theo bước đi của cặp chân ốm yếu như hai ống sậy, ngần ấy thứ càng tô đậm thêm nét tiều tụy của thân hình nó.

Dần dần, hình ảnh thằng bé vô danh trở nên quen thuộc với khu xóm nhỏ. Người ta gặp nó ở khắp mọi nơi. Ở lề đường, trong quán ăn, ngoài máy nước… đâu đâu cũng có bóng nó thoắt biến thoắt hiện. Chỗ ngủ của nó là mái hiên của mọi nhà và thức ăn hằng ngày là những của thừa thãi mà người ta bố thí cho. Tuy thế, nó chưa hẳn là một đứa bé ăn mày! Vì bù với sự bố thí đó nó cũng đã phải đổi lại bằng những công việc vụn vặt, như khênh vài đôi nước, nhổ một đám cỏ, đổ ít thùng rác v.v… Có một điều lạ là không ai biết rõ ràng về lai lịch của nó. Bản tính trẻ thơ thường là dễ bộc lộ, nhất là trong hoàn cảnh nó thì lại càng dễ cho người khác cảm thương. Nhưng không! Hình như cái thân phận khốn khổ đeo đẳng vào người quá sớm làm tính tình nó trở nên khô khan, cằn cỗi. Nó lầm lì làm mọi việc người ta nhờ, xong rồi thì ăn, ăn xong tìm chỗ ngủ hay lảng đi đâu đó. Có nhiều người tò mò, cố ý gạn hỏi về xuất xứ, nó chỉ đáp bằng một giọng cộc lốc, dấm dẳng “Ở nhà mồ côi ra!”. Thế rồi thôi. Và người ta suy đoán rằng nó là một đứa bé không được may mắn còn bố mẹ, sống nhờ hột cơm của Viện Cô Nhi và khi không chịu được cảnh sống bó buộc thì trốn ra. Cho đến cái tên, nó cũng chỉ đáp lại bằng cái lắc đầu và thản nhiên chấp nhận “mỹ danh” hoang đàng do mọi người đặt cho.

Thời gian trôi qua khoảng hơn tháng, đột nhiên nó lại biến mất dạng. Cũng như lúc đến, nó đi một cách lặng lẽ và chẳng ai biết rõ nguyên do. Người trong xóm lại bàn tán, suy đoán và cuối cùng họ kết luận rằng : nó đã tìm được một khu xóm mới và đến đó tiếp tục cuộc sống trôi dạt. Lời kết luận của mọi người, tôi không hề phản đối. Song thâm tâm tôi vẫn nghĩ rằng có thể nó ra đi để tìm một lối sống sáng sủa trong chiều hướng đi lên.

Chiều nay gặp lại nó trong cảnh huống gần giống như ý mình nghĩ dù không rõ nó làm thế nào để tạo được, lòng tôi bỗng rộn lên sự thương cảm lẫn vui mừng. “Tâm con người vốn xuất phát từ bản ngã Thiện”. Tôi cho rằng thằng bé đã thật “hào hùng” khi giữ và phát triển được cái “Thiện” đó trong hoàn cảnh mà thân phận con người chỉ sánh được với đất đen.

Đáp lại nét nhìn và nụ cười dịu dàng, thân mật của tôi, nó chỉ hơi nhếch môi biểu lộ sự quen biết rồi ngó thẳng ra đường. Cái mặc cảm hèn kém, thua thiệt của nó đối với mọi người chung quanh vẫn đậm nét. Nhưng tôi hy vọng ngày mai, ngày kia, từ ở lòng bác ái của xã hội, từ ở mảnh đất đứng tương đối sáng sủa, nó và tất cả những đứa trẻ như nó sẽ tìm lại được nụ cười tươi thắm, trẻ thơ.


HUỲNH CHÚC       


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 46, ra ngày 9-7-1972)

Bìa của Vi Vi : Cầu ao


Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

TÔN NỮ THU DUNG người thơ và mộng



Có những bài thơ chỉ đọc vào buổi sáng mới thấy hay, hoặc những bài thơ chỉ làm hồn mình rung động khi thưởng thức vào buổi chiều, buổi tối ; nhưng cũng có những bài thơ mà bất cứ giờ phút nào tìm đến ta cũng hưởng đầy đủ những ý vị thiết tha, được rung cảm tuyệt đối, tràn trề. Những bài thơ đó ta có thể gán cho một danh hiệu tuyệt tác được: người có những bài thơ tuyệt tác đó là Tôn nữ Thu Dung.
 
TÔN NỮ THU DUNG, mười bẩy tuổi, nữ sinh mười hai A của trường Thánh Tâm Bonne Coeur Nha Trang. THU DUNG còn trẻ nhưng hoạt động văn nghệ khá mãnh liệt với những thơ, văn đăng ở các báo, có thể là Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc và Ngàn Thông, Mây Hồng của quá khứ, có chân trong nhóm GIAO HỮU, hiện diện cùng khắp trong các tập san bỏ túi của bạn bè.
 
THU DUNG gốc ở Huế, những người con gái Huế thường lãng mạn và đầy tình cảm, phải chăng vì thế mà thơ Dung như tràn ngập, sướt mướt những dư âm của một khối tình, bạn bè, học đường và riêng cái “ta” nhỏ bé. Lời thơ nhẹ và êm, như hơi thở – có thể là gió thoảng, với một kỹ thuật điêu luyện – dù ở thể thơ nào THU DUNG cũng đem lại niềm thông cảm vi diệu, nhất là những bài 5 chữ.
 
NGUYÊN LY mời các bạn thơ theo dõi thơ và mộng với người thơ TÔN NỮ THU DUNG trong phần đất dành riêng sau này.
 

EM – TUỔI NHỎ
 
Mưa hiền rụng xuống hồn em
Lá rơi trên tóc chiều im giọt đàn
Môi cười ấm cả mùa sang
Sầu bay muôn lối bạt ngàn cánh chim
 

EM – MÙA THU
 
Đường xưa tắt nến giữa chiều
Ô hay lòng cũng quạnh hiu bao giờ
Ngày về xa quá như mơ
Bàn tay giữ mộng – mộng vừa vuột bay
 

EM – MUÔN THUỞ
 
Em về hát khúc chia xa
Chiều buông cánh hạc bóng tà huy nghiêng
Em về như thể là chim
Trăm năm giữ nụ cười hiền trên môi
 

THU KHÚC
 
   Cho Anh Thu và ngày của me
 
Thu về phải không em 
Cúc có vàng lưng giậu
Khói giăng ngang qua rèm
Bàn tay anh chim đậu
 
Em về phải không thu. 
Mù xa mây viễn xứ.
Môi nào cười âm u.
Có ru hồn anh ngủ.
 
Em đi trong trời mưa. 
Môi ngậm lời hát cũ.
Những bụi nước tình cờ
Rơi xuống đời ngái ngủ
 
Em đi trong chiều gió
Tóc bay đầy trên vai
Hàng cây xanh đứng ngó
Hình như ngày đang phai…
 

GỞI NHỮNG HẠT MƯA
 
Vẫn còn đó mùa thu ngái ngủ
Bầy sơn ca về reo âm vang
Môi đã ấm lời yêu dấu cũ
Tay hư vô đón nỗi buồn vàng
 
Vẫn còn đó mưa đang mùa hạ
Phượng nồng nàn trên lối ta đi.
Hàng sao gầy buồn rơi mấy lá.
Chân lặng lờ khuất dấu thiên di
 
Vẫn còn đó ngày ta vào học
Gió mù bay trời đất giao mùa
Có nhớ chi bạn, thầy, sách vở
Tay lạnh lùng đón mấy hạt mưa.
 

TỪ KHÚC
 
1. Em về bay tóc cỏ
Ngậm trên môi nụ hồng
Chân nhẹ từng bước nhỏ
Sợ làm phai nắng nhung
Tháng sáu cành phượng nở
Rời lớp học rưng rưng
Tháng bảy hoa phượng đỏ
Bè bạn xa vô cùng
Em dấu thời tuổi nhỏ
Rồi cũng đành quay lưng
Và cổng trường không mở
Rơi trên tay lệ nồng
Xót xa từng hơi thở
Bạn bè ai biết không
 
2. Em về chân bước nhẹ
Tóc rối theo chiều đưa
Ve hót lời khe khẽ
Dấu môi chào hạ xưa
Thôi vẫy tay chào nhé
Những cơn mưa đầu mùa
Em về nghe nhớ quá
Bạn bè yêu dấu xưa.
 
3. Tháng tám em vào học
Cũng sân trường lá xanh
Phượng tàn rơi trên tóc
Phấn trắng và tường xanh
Ngẩn ngơ nhìn rồi khóc
Những nhỏ bạn thân tình
Đã rời trường bỏ lớp
Đã là chim bay nhanh
 

BÀI CA HƯ VÔ
 
Trăng nằm ngủ giữa hư vô
Kìa ngàn sương lạnh mơ hồ trên vai
Bàn tay giữ mộng tàn phai
Tóc huyền em có thả dài không em
Mai về nghe mấy tiếng chim
Hoàng oanh, hồng tước, vành khuyên rộn ràng
Môi hồng ngậm giọt mưa tan
Mi ngoan đón gió mùa sang ngậm ngùi
Đầu ngày những bước chân vui
Cuối ngày là khóc chôn vùi ước mơ
 
                                                
                                        TÔN NỮ THU DUNG
 

Những bài thơ trên đã là một giới thiệu khá đầy đủ, NGUYÊN LY nghĩ rằng mình khỏi cần nói thêm điều gì nữa. Chỉ xin gởi TÔN NỮ THU DUNG một lời chúc lành – cho hồn thơ ngự vĩnh viễn trong trái tim cô học trò nhỏ ở trường THÁNH TÂM Bonne Coeur.
 
NGUYÊN LY  
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 206, ra ngày 1-8-1973)

Bìa của Vi Vi : Đại Đóa
 

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Cá Mập: Cái Đáng Sợ Của Biển Cả


1/ Một lần lặn sâu xuống biển tại hòn đảo Djerba thuộc Tunisia, J.Y Cousteau diện kiến cá mập lần đầu tiên trong đời. Có thể nói đó là những sinh vật bọc da đồng, lộng lẫy, tráng lệ, dài 2,4m, từng cặp một lội nhởn nhơ sau những chú cá ép đầy tớ. Chúng giương giương tự đắc bơi qua mặt Cousteau và cô bạn đồng hành – Simone. Cá mập ở Djerba thế là ít ; ở Hồng Hải thì phải biết, chúng xuất hiện đông đảo, người đếm không xuể.

Từ những kinh nghiệm rút tỉa qua trên 100 con cá mập, ông Cousteau tìm ra chân lý :

Quen với cá mập nhiều chừng nào, lại biết nó ít chừng ấy, và cũng không thể đoán trước được việc sắp làm của cá mập.

2/ Lớp da trơn láng, nổi lên những lớp nhăn lớn như gợn sóng, để lộ những bắp thịt rắn chắc. Cái đầu lắc lư chậm chạp, từ trái qua phải, từ phải qua trái. Nó lướt mình nhẹ nhàng, uyển chuyển với một vận tốc đều đặn. Chỉ có đôi mắt là đứng yên, tập trung mọi tia sáng vào con mồi trước mặt, không! Kẻ thù của nó thì đúng hơn. Không khí chết chóc bao trùm làn nước trong xanh ấy.

Sâu 30 thước dưới Ấn Độ Dương, chú cá mập dừng lại, đứng yên như bất động. Con vật quả là to lớn, dài 2m,1 và đặc biệt, hàm nó mang 7 hàng răng sắc như dao cạo mới mài.

Con vật có thể bơi với tốc độ trung bình 30 hải lý, nhưng hiện giờ nó đang bao vây Cousteau khi ông định trồi lên mặt nước. Cousteau biết rằng có thể vòng vây sẽ thu hẹp nhỏ dần, nhỏ dần… một cách tàn nhẫn, và dù cho ông có thành công trong việc đẩy lui đợt tấn công đầu đi chăng nữa, ông biết chắc sự thành công này sẽ không làm nản lòng nó. Mấy đợt tấn công sau sẽ mỗi lúc một tới tấp hơn và có thể cuối cùng nó sẽ phá thủng hàng rào phòng thủ yếu ớt của ông, rồi nó sẽ tiến lại táp một miếng thịt ở người Cousteau… Nhưng đấy chỉ là giả thuyết đặt ra khi Cousteau là kẻ giao chiến.

Cousteau trở vô thuyền kiểm soát, sau cái liếc mắt cuối cùng vào bóng đen không một khuyết điểm và đôi mắt mở lớn đang nhìn chòng chọc vào ông. Cousteau nhìn lại những người bạn đồng hành với đôi mắt biết ơn. Họ nhìn ông, tất cả đều hiểu dù không ai nói một tiếng : họ là kẻ giao chiến!

3/ Một ngày trời nắng, ngoài khơi giữa hai hòn đảo Boavista và Maio, chiếc tàu khảo cứu đưa nhóm thợ lặn tới một bờ đá ngầm cheo leo nguy hiểm. Tàu được neo lại để mọi người lặn xuống vùng biển hoang dã. Nơi nào có đá ngầm, nơi ấy có cuộc sống phong phú.

Một số cá mập nhỏ bơi tới khi họ định thả neo. Thay vì thả neo, họ thả móc buộc cá thu làm mồi xuống nước, đợi một lát, họ đã bắt được 10 con cá mập. Tạt ngang việc câu để lặn, họ đã bỏ lại 2 chú chưa dính mồi. Trong cơn sóng mạnh ào tới, 2 chú mắc câu vội vã gỡ…

Dưới mô đá ngầm, một thế giới cá mập hiện ra trước mắt nhóm thợ. Một vài chú cá mập to lớn dị thường, trông có vẻ vô hại đối với loài người. Họ trông thấy 3 chú cá mập đang say ngủ trong khi máy chụp hình lại đòi hỏi những tấm hình sống động. Damas và Tailliez bơi vào động, lay đuôi kêu chúng dậy. Ba chú phóng ra ngoài rồi mất hút trong làn nước trong xanh.

Kế đó, họ trông thấy một con cá mập da nhám dài hơn 4,5m. Cousteau vẫy Didi lại, ra dấu với anh ta dùng súng gắn lao giết con mồi. Đó là một ngọn lao dài 1,8m, đầu nhọn mang chất nổ. Ở vị trí cách xa con mồi 3,6m, Dumas “khai hỏa”. Ngọn lao nặng 1kg,8 đâm thẳng vào đầu chú cá mập to lớn dị thường kia. Hai giây sau, đầu lao phát nổ. Họ lắc đầu thảm não : con vật không hề hấn gì!

Thật bình tĩnh, cá mập ta lặng lẽ bỏ đi, với ngọn lao cắm ngay đỉnh đầu trông tựa cột cờ. Một vài mũi lao bồi theo nữa, nhưng lao đi trệch, phóng xuống đáy bể. Con vật tiếp tục di chuyển. Nhóm thợ lặn vội vã bơi theo sau để xem nó ra sao.

Chẳng sao cả! Nó chứng tỏ những dấu hiệu bình thường rồi tăng tốc độ nhanh dần, nhanh dần rồi mất hút, bỏ lại sau lưng nhóm thợ chắc lưỡi tiếc rẻ.

Kết quả mà họ ghi nhận được là sự khác thường của cá mập. Ăn một ngọn lao ghim qua đầu mà vẫn sống nhăn răng. Rõ ràng khó ai chê nổi sức chịu đựng phi thường của loài cá này.

4/ Cách xa Dumas và Cousteau khoảng 12m, xuất hiện lờ mờ một khối trắng di động : một con cá mập lai cá đuối ( Carcharodon carcharias) dài trên 7,5m. Đây là giống cá mập ăn thịt người kinh niên duy nhất. Dumas, tay vệ sĩ, tiến lại sát bên Cousteau. Con thú dữ bơi với vẻ lười biếng. Nó nhìn thấy họ. Trong niềm lo sợ khủng khiếp trộn với một tinh thần sáng suốt cao độ, con vật đại tiện ra một đống phân rồi phóng mình đi với tốc độ kinh hồn : Dumas và Cousteau nhìn nhau cười chảy nước mắt!

Câu chuyện trên đây xẩy ra khiến họ không còn khiếp sợ trước cá mập nữa. Họ không còn cần đến vệ sĩ theo bên mình. Cá mập mũi nhọn, cá mập khát máu, cá mập lai cá thu, cá mập ở sâu đáy biển…, tất cả, không, hầu hết đều chạy xa họ. Sau nhiều tuần nghiên cứu tại mũi Verdes, nhóm thợ lặn quả quyết rằng : hầu hết mấy chú cá mập đều nhát gan, nhát như thỏ đế! Chính vì yếu tố này, bạn khó lòng quay phim với diễn viên cá mập được.

5/ Một lần nọ, mải mê chụp hình, Cousteau không để ý đến một chú cá mập đang tiến tới gần. Khi Cousteau thấy cái miệng dẹp phẳng của diễn viên hiện lên to dần, rõ dần… Mới chợt thức tỉnh, nhiếp ảnh viên chợt lạnh người… Nhưng Cousteau vẫn còn kịp thì giờ ném chiếc máy ảnh va vào miệng nó. Cảm thấy đau, con thú dữ quay trở lui. May mắn sao, cuộn phim không hư nên bạn đọc còn được trông thấy 4 bức ảnh chụp kế tiếp nhau, chứng tích còn lại, trước khi chú cá mập hậm hực bỏ đi…

6/ Con người chưa hề biết loài cá mập này có di chuyển từ vùng này sang vùng kia không, nhưng chắc chắn hầu hết phải bơi không ngừng, ngày lẫn đêm.

Có hai lý do để giải thích:

Cá mập không có cơ quan cho phép chúng giữ thăng bằng ở mọi độ sâu. Nếu ngừng bơi, con vật lập tức chìm.

Cá mập không có thứ máy bơm nước – chẳng hạn, một cái miệng luôn cử động – để chuyển dưỡng khí vào máu. Chúng bắt buộc phải dựa vào việc di chuyển thường xuyên để thở.

7/ Sau cuộc nghiên cứu tại Hồng Hải, nhóm thợ lặn nhận thấy rằng mỗi chú cá mập thường chọn cho mình một bờ đá ngầm đặc biệt. Hằng ngày, khi họ lặn xuống chỗ cũ, họ lại trông thấy những chú cá mập cũ. Quyền sở hữu một nơi, không có nghĩa là chủ nhân từ chối tiếp đón các chú cá mập khác. Chú cá mập còn tỏ ra hài lòng với cái địa vị chủ nhân ông ấy lắm. Kẻ ở nhờ phải ăn trước mặt chủ nhân và cũng chỉ ăn những gì thừa thãi sau bữa no lòng của chủ nhân mà thôi. Hoặc khi con mồi quá lớn chủ nhân ăn không xuể, bấy giờ mới đến lượt kẻ ở nhờ hẩu xực. Nếu các điều kiện này không được tôn trọng, lập tức một cuộc chiến chớp nhoáng xảy ra.

8/ Một chú cá mập đang đói vớ được cái gì cũng ngoạm, một phiến gỗ, mấy cánh quạt một động cơ hay ngay cả một chú cá mập khác. Nhưng đặc biệt, cá mập chết chúng không bao giờ dám mó tới. Thính giác chúng bén nhậy và rất kỵ cái mùi đồng loại chết. Lạ! Bữa ăn ngon miệng thường khiến chúng no lòng rất mau. Món chính là cá. Bữa nào ăn phình bụng là bữa đó cho phép chúng sống trong nhiều tuần, mà không phải lo miếng ăn. Một khả năng khó tin nhưng có thật đáng ghi nhận nơi đây : bao tử loài cá mập chỉ tiêu hóa một phần nhỏ thức ăn lúc này, phần còn lại để nguyên vẹn đến lúc khác.

9/ Cách che chở hữu hiệu nhất của một người thợ lặn là trạng thái bơi trong yên lặng và chậm chạp, tránh mọi sự thay đổi vị trí thình lình. Nếu trông thấy một chú cá mập bơi về phía mình, tốt hơn hết là đừng hoảng hốt hay sợ hãi. Hãy nhìn tới với nét mặt bình tĩnh. Giả dụ trong tay mang một vật gì cứng – một cây súng bắn lao, một chiếc máy chụp hình – đừng tiếc của, hãy nghĩ đến sinh mạng và dùng nó làm một vũ khí, dù thô sơ. Ném thẳng vào mặt, tất nó phải sợ. Thông thường là như thế, trường hợp nó trở chứng thì… hết đường chạy!

Vậy chứ cái gì, ngoài mùi máu tươi, làm con cá mập mát lên bất tử?

Đó chính là những gì con người còn thắc mắc và là lý do khiến cá mập vẫn còn được gọi là… cái đáng sợ của biển cả.


ÁNH MINH     


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 225, ra ngày 1-8-1974)


oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>