Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Thằng Bảo (VII)



Thầy Cang :
 
- Thôi anh đến nói cho bà ta biết cho rồi… – Thầy Cang nhìn đồng hồ – thôi tôi xuống coi bọn trẻ nhé.
 
Thầy Cang đi rồi, thầy Vinh cũng chán nản đi về phía nhà đau.
 
Trong lúc đó, ở trên gác thượng, tình trạng càng thảm não hơn.
 
Dùng hết mọi cách cái cửa quái ác vẫn không chịu nhúc nhích, Bảo than thở :
 
- Trời ơi ! Sao chẳng có ai đi qua để mình kêu mở giùm nhỉ ?
 
Nó suy nghĩ thật nhiều để tìm cách kêu cứu. Bỗng mắt nó sáng lên : có cách rồi. Gác thượng nằm phía trên phòng bệnh. Dưới đó có thằng Ẩn nằm. Nếu nó làm cho thằng Ẩn chú ý, chúng sẽ được giải thoát. Nó giải thích cho Mạnh hiểu rồi kết luận :
 
- Nếu thằng Ẩn dậy không được, nó sẽ nói cho bà Sinh biết lên mở cửa cho tụi mình.
 
Mạnh thắc mắc :
 
- Nhưng làm sao cho thằng Ẩn biết tụi mình đang mắc kẹt ở trên này ?
 
- Đơn giản lắm : mình chỉ việc tìm cái gì dài dài để đập vào cánh cửa kính là nó phải chú ý liền.
 
Rồi Bảo lấy cái lồng, nối các sợi dây cột giấy tờ lại được một sợi dây thật dài. Trước khi vào việc, Bảo cẩn thận bỏ con chuột vào trong áo sơ mi.
 
Bảo nói :
 
- Nếu đập vào cửa kính không được thì mình đập trên nền nhà cũng được. Cái này bằng mây nên không sợ bể gạch.
 
… Ở dưới nhà đau, bà Ái đang ngồi nói chuyện với cháu thì thầy Vinh bước vào. Thầy lúng túng :
 
- À, bà Ái. Thật tôi không biết nói sao cho bà hiểu. Nhưng bà cứ yên trí tôi sẽ phạt những đứa hay phá phách.
 
Bà Ái ngơ ngác :
 
- Thưa thầy, thầy nói gì ạ ?
 
- Dạ, hai thằng bé, tôi bắt được ở vườn rau… chúng không được phép mang con mèo vào phòng tôi…
 
Bà Ái lại càng ngơ ngác :
 
- Thầy nói gì mà có con mèo trong đó nữa ?
 
Thầy Vinh vẫn không chú ý tới vẻ ngơ ngác của bà Ái :
 
- Thưa bà, thật đáng tiếc. Nhưng những chuyện tương tự như vậy ở trường nào cũng có, dù trường đó có khắt khe đến đâu cũng vậy.
 
- Xin lỗi thầy, hồi nãy giờ thầy nói gì tôi không hiểu. Thầy làm ơn nói lại cho tôi hiểu được không ?
 
Thầy Vinh chợt nhận ra cái ngớ ngẩn của mình, thầy bối rối… thì bỗng có tiếng “bum… bum… “, im một chặp rồi lại “bum… bum… “ đều đặn gõ trên trần nhà.
 
Thằng Ẩn cười lên ha hả :
 
- Thầy, thầy có nghe gì không, hay quá thầy nhỉ. Hahaha…
 
Bà Ái cũng cười theo cháu. Thầy Vinh lại càng luống cuống : không biết đứa nào… Thầy xin lỗi :
 
- Xin lỗi bà, để tôi đi xem đứa nào mà phá dữ vậy.
 
Bà Ái không ngờ trong nội trú lại có những trò chơi kỳ lạ như vậy.
 
Tiếng chạy như ngựa phi trên cầu thang cho Bảo và Mạnh biết có người đang đi lên gác thượng, hai đứa hồi hộp đứng chờ. Nhưng bỗng chúng tái mặt khi nghe tiếng giận dữ của thầy Vinh :
 
- Ai ở trong đó ?
 
Bảo run run :
 
- Dạ… tụi con.
 
- Ai ?
 
- Dạ, Bảo với Mạnh.
 
Bảo, Mạnh, lại cũng hai thằng quỷ này. Thầy quát :
 
- Có mở cửa ra không hai thằng quỷ.
 
Giọng Bảo mếu máo :
 
- Dạ thưa thầy… quả đấm rớt ra phía bên đó rồi.
 
Nhìn xuống đất thầy Vinh thấy quả đấm và que sắt nằm lăn lóc trên bậc thang. Thầy lấy xỏ vào lỗ và xoay mạnh, cánh cửa bật mở. Thầy thấy hai thằng bé đang khép nép đứng sát vào nhau.
 
Thầy tức tối :
 
- Các anh làm gì ở đây ?
 
- Thưa thầy chúng con bị nhốt.
 
- Tôi hỏi các anh làm gì ở trên này ?
 
Bảo ấp úng :
 
- Dạ… chúng con chờ thầy…
 
- Tôi bảo các anh chờ tôi trên gác thượng hả ?
 
- Dạ không, nhưng con thấy con mèo, con sợ nên lên đây tìm cái lồng…
 
- Các anh định nhốt con mèo vào trong cái lồng ? ?
 
- Dạ không… con lấy cái lồng để nhốt…
 
Ánh mắt thầy Vinh chợt đậu trên thắt lưng của Bảo, cái áo được bỏ trong quần thật gọn ghẽ, nhưng sao nó lại căng phồng lên như thế kia. Và chỗ phồng nó lại động đậy nữa chứ. Thầy nhìn thẳng vào mặt Bảo :
 
- Bảo ? Cái gì trong bụng anh vậy ?
 
Bảo líu ríu lôi con vật ra. Thầy Vinh chụp lấy la lên :
 
- Con chuột Tàu… Ở đâu các anh có đây ? ?
 
Bảo ấp úng :
 
- Dạ con chuột của chúng con… chúng con tìm cái lồng…
 
- Con chuột của các anh ? Tôi xin đính chính : nó là con chuột của tôi chứ không phải của các anh.
 
Bảo cãi lại :
 
- Không, của chúng con, tuần trước chúng con mất, bữa nay mới tìm lại được.
 
- Còn tôi, tuần trước, tôi tìm lại được và mới mất ngày hôm nay.
 
Hai đứa tròn mắt nhìn thầy Vinh… Mạnh bỗng vụt nói :
 
- Thế ra… thầy cần mấy lá su để cho nó ăn…
 
- Chứ sao… không lẽ tôi lấy để ăn sống !
 
Và quay lại phía Bảo thầy ra lệnh :
 
- Bảo, bỏ con này vào lồng rồi đi ra lớp, sau giờ học đến gặp tôi. Mau !
 
Bảo bàng hoàng làm theo và đi xuống. Bóng hai thằng bé khuất sau cầu thang, thầy Vinh thở dài khoan khoái : tưởng nó đi đâu mất rồi chứ… Cái thằng Bảo, thầy không thể nào tha thứ được.
 
Khi bà Ái ra về thì giờ Sử của thầy Vinh cũng gần hết, thầy vội vàng chạy ra lớp, chưa đến cửa thầy đã giục :
 
- Mau lên ! Giở sách Sử chương chín…
 
Cả lớp xịu mặt. Nãy giờ vắng thầy, cả lớp tha hồ chơi : Bích chơi cờ ca-rô với Mão, Thuyết lợi dụng thời cơ để xếp lại tập tem, Bình, Truyền chơi phóng tên bằng cây bút của Bảo cho đến khi cái ngòi gãy thì chúng quay qua nói chuyện gẫu… Đứa nào cũng đinh ninh thầy Vinh không tới, vậy là tuần này không có bài Sử : điều mà đứa nào cũng mong muốn.
 
Nhưng giờ thì bọn trẻ thất vọng, thầy Vinh đã đến, và sắp sửa giảng bài mới. Đứa nào cũng uể oải lạ. Chúng hờ hững lật từng trang giấy…
 
Thầy Vinh vừa đến cửa lớp thì Mão vụt đứng dậy :
 
- Thưa thầy trang mấy ạ ?
 
- Chương chín !
 
Tiếng thầy Vinh nạt to làm Bình đang lơ đễnh nhìn ra cửa giật mình. Nó lúng túng mở vội quyển sách, thầy Vinh nhìn nó, nó rụt rè :
 
- Thưa thầy chương mấy ạ ?
 
- Trời ơi ! – Thầy Vinh hét lạc cả giọng – chương… tôi nói tới 4 lượt mà chưa nghe ! Bốn.
 
Bích ngạc nhiên :
 
-Thế sao hồi nãy thầy nói chương chín, bây giờ thầy nói chương bốn ?
 
Thầy Vinh đập tay lên bàn quát :
 
- Tôi chịu hết nổi cái lớp này. Tôi bảo chương chín và tôi nói đi nói lại tới bốn lần rồi.
 
Phải một lúc sau, tất cả mới tìm ra bài học mới. Và thầy Vinh bắt đầu.
 
- Hôm nay chúng ta nói đến triều đại vua Gia Long…
 
Giảng được một chút thì chuông hết giờ. Bọn trẻ thở ra nhẹ nhõm : như vậy chắc bài sẽ ngắn. Nhưng chúng mừng chẳng được lâu :
 
- Tuần này – tiếng thầy Vinh rõ ràng – học hết bài này, có gì tuần sau tôi sẽ giảng…
 
Cả bọn ùa nhau ra sân chơi. Chỉ còn lại hai kẻ tội phạm. Thầy Vinh ném tia mắt giận dữ về phía chúng. Bảo ấp úng :
 
- Thưa thầy… thầy bảo chúng con hết giờ… ở lại…
 
- Hừ, tới đây, hai thằng ranh… Tôi muốn điên đầu vì hai đứa mày được ! Nghe đây : Trong hai tuần, bắt đầu từ ngày hôm nay, các anh không được tham dự trò chơi nào, và ăn zêrô điểm hạnh kiểm.
 
Chừng như thấy chưa đủ, thầy Vinh tìm thêm một hình phạt khác. Mắt thầy chạm phải quyển sách Sử để trên bàn. Thầy thêm :
 
- Và chép thật sạch, thật đẹp 6 trang đầu bài giảng ngày hôm nay.
 
Mạnh cúi đầu chấp nhận. Nhưng Bảo thưa :
 
- Thưa thầy, con chép không được, vì bút của con ai làm gãy rồi.
 
Bình và Truyền đi chơi ngang, chúng làm lơ luôn : đâu phải chúng cố ý, tại lỡ mà, vậy đâu có lỗi, chúng lý luận như vậy. Thầy Vinh hơi tức. Nhưng thầy gật gù cười thầm :
 
- Được, nếu vậy anh học thuộc lòng cho tôi cả 6 trang đó cho giờ Sử tuần sau.
 
Bảo sợ hãi :
 
- Thưa thầy…
 
Thầy Vinh gắt :
 
- Không thưa gởi gì cả. Học cho tuần sau. Để hết thời giờ phá phách.
 
 

CHƯƠNG IX
 
 
Trong giờ chơi buổi sáng, ban trị sự trường nội trú Tây Sơn thường họp lại ở phòng các giáo sư để giải khát hoặc nghỉ ngơi. Trong khi bọn học trò đang hò hét chạy nhảy ngoài sân.
 
Sáng hôm đó, khi thầy Cang bước vào phòng thì các thầy khác đã có mặt đầy đủ rồi. Chỉ vắng có thầy Hiệu Trưởng : Bà Sinh đang nói chuyện với thầy Hinh, thầy giáo ở các lớp nhỏ, người cao lớn thích trầm lặng ; thầy Tuyên, dạy Sinh ngữ đang nói chuyện với thầy Giao, dạy Địa và Vẽ, về cuộc đá banh giao hữu vừa qua. Các thầy khác thì đọc báo, hoặc chơi ô chữ…
 
Trong một góc, thầy Vinh ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành, tách trà bốc khói để bên cạnh và chồng vở Đại số ở trên đùi.
 
Thầy Cang tiến tới chỗ thầy Vinh vui vẻ :
 
- Anh Vinh ! Anh đã tìm ra con chuột Tàu cho bà Ái ?
 
Thầy Vinh gật đầu :
 
- Nhưng tôi mất gần trọn giờ Sử ở đội 3. Thật tôi chịu cái đội quỷ này.
 
Thầy Cang cười thông cảm :
 
- Chúng phá phách quá. Thầy Hiệu trưởng cũng đang lo ngại ông Thanh tra tới và gặp chúng…
 
Thầy Vinh chồm lên :
 
- Sao ? Anh nói gì mà ông Thanh tra tới ? Ông mới tới đây mà…
 
Thầy Cang cũng đâu biết gì hơn. Chỉ ba tháng mới có một cuộc thanh tra chính thức của Bộ, nhưng thỉnh thoảng cũng có một viên Thanh tra tới xét lại các báo cáo lắm chứ.
 
Thầy Vinh chán nản :
 
- Tôi mong cho ông ta đến đừng nhằm giờ Sử của tôi ở đội 3.
 
Và thầy buồn bã kể lại cuộc thanh tra lần trước. Một ông thanh tra hỏi bài Sử chúng vừa học, thế mà… đứa nào đứa nấy đứng đực ra như người trên rừng mới xuống vậy.
 
Thầy kết luận :
 
- Thật ! Tôi xấu hổ quá chừng. Có phép độn thổ thì tôi cũng trốn đi đâu cho đỡ ê mặt.
 
Và thầy đứng dậy bực dọc :
 
- Một lần nữa chắc tôi điên mất…
 
Lúc đó bà Sinh ở đâu lon ton chạy tới :
 
- Thầy Vinh ! Thầy Cang ! Tôi nói cái này – và bà làm ra vẻ quan trọng – Thứ hai này là Sinh nhật của thầy Hinh…
 
Thầy Vinh càu nhàu :
 
- Già rồi mà còn bày đặt Sinh nhật.
 
Bà Sinh không vừa :
 
- Chứ thầy cho là già rồi không thêm tuổi hay sao ?
 
Thầy Cang vui vẻ giảng hòa :
 
- Thôi. Anh Vinh giờ chỉ nghĩ tới đội 3 của anh ấy thôi. Dẹp qua một bên đi.
 
Thầy Vinh cười theo :
 
- Ừ thì bỏ. Nào, bà định làm gì ?
 
Bà Sinh :
 
- Tôi định sẽ làm một bữa tiệc nhỏ : bình cà phê, vài cái bánh ngọt, được rồi.
 
Thầy Vinh :
 
- Bà Sinh lo phần cà phê cà pháo đi – Tôi lãnh phần bánh ngọt cho.
 
Bà Sinh tươi cười :
 
- Được. Nhưng đừng cho thầy Hinh biết nhé. Mình dành cho thầy một sự ngạc nhiên.
 
*
 
Mạnh phải lợi dụng hết mọi giờ rảnh để chép gần xong. Nó nhìn sang Bảo :
 
- Thuộc hết chưa ?
 
Bảo nhăn nhó lắc đầu. Sao đầu óc nó bây giờ tối tăm thế. Mọi bữa, chỉ loáng một cái nó đã thuộc bài, thế mà bây giờ, cả giờ nó chỉ học được 4, 5 giòng là cùng. Đã vậy còn quên trước quên sau nữa chứ. Sau cùng nó quyết định học một trang cho thật thuộc cái đã. Và nó cầm trí học bài…
 
- Mạnh, tao thuộc được một trang rồi. Dò giùm tao đi.
 
Rồi nó nhắm mắt, lẩm bẩm trong đầu :
 
- …
 
Mạnh nghiêm trang sửa lại gọng kính :
 
- Rồi đọc đi…
 
- À…
 
Đúng lúc đó thì cánh cửa xịch mở. Ẩn vui vẻ bước vào : nó đã khỏi bệnh. Bà Sinh cho nó về vào ngày chủ nhật để lo sửa soạn đi học lại ngày thứ hai. Thế là mất toi hai ngày nghỉ dưỡng bệnh. Nó cười hất đầu về phía các bạn :
 
- Thế nào ? Chào tất cả ! Có gì lạ không ?
 
Bảo lắc đầu :
 
- Chẳng có gì. Thầy Vinh giận tụi này quá xá. Tụi này bắt con chuột Tàu của thầy làm thầy tìm một bữa… gần chết…
 
Ẩn không hay biết gì về con chuột Tàu. Bảo kể đầu đuôi cho Ẩn nghe và nó kết luận :
 
- Nó tên Hoàng Thiết, tụi này đặt tên cho nó đấy.
 
Và nó tiếp, giọng tiếc rẻ :
 
- Tụi này đã nhìn kỹ được đâu, thầy Vinh chuyên môn phỗng tay trên mà. Chậc ! Nó dễ thương chi lạ…
 
Tối hôm đó phòng ngủ số 4 nhộn nhịp hẳn lên. Ẩn đã khỏi bệnh, và câu chuyện về bữa tiệc lại được đem ra bàn tán.
 
Mão nhét vội cái áo vừa cởi ra vào tủ rồi quay lại Ẩn :
 
- Tại thằng Ẩn cả đấy. Hứa hẹn đủ điều rồi nằm ì ở phòng bệnh làm tụi tao đói meo…
 
Ẩn nhăn nhó :
 
- Tao bị đau thật mà…
 
Bích giảng hòa :
 
- Thôi đừng cãi nữa ! Bây giờ thằng Ẩn đã về, chúng mình có thể mở tiệc ngay đây được. Nào, những hộp ra-gu của mày đâu ?
 
Ẩn gãi đầu bối rối :
 
- Bà tớ… chỉ mang một chai Sirop và một con chuột Tàu.
 
Mạnh bĩu môi :
 
- Xời ơi ! Vậy mà cũng đòi giành…

_______________________________________________________________________
Xem tiếp Phần VIII


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 202, ra ngày 1-6-1973) 

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Chuyện Con Cò




Thấm thoát mà Thu đã lên sáu, có hai em và biết đọc, biết viết rồi, có cừ không? Dù rằng Thu chưa đi học.

Ở chỗ Thu, dở quê dở tỉnh làm gì có vườn trẻ mà vào? Vậy mà Thu lại biết đọc biết viết đấy, ông cao xanh ạ!

Nguyên mỗi một việc vỡ lòng của Thu cũng là một sự lạ rồi, đặc biệt rồi: Thu không có thầy hay nói cho đúng thì thế này: trong nhà ai cũng có thể là thầy Thu được cả, ba này, mẹ này, anh Tân này, chị Mai này, anh Nhỏ này… Dịp hè hay nhằm ngày lễ thì còn có các cậu hay chú về chơi. Mấy người ấy đều thông quốc ngữ, cho nên đủ sức truyền dạy sự hiểu biết cho Thu. Thu nhặt ở người này một chữ, ở người kia hai chữ mà hóa ra giầu đấy!

Không bao lâu, Thu ngồi vào bàn mò mẫm đánh vần những đoạn như sau:

“Sách quốc ngữ, chữ nước ta
Con cái nhà, đều phải học.
Miệng thì đọc, tai thì nghe,
Chớ ngủ nhè, đừng láu táu
Mày lên sáu, đang vỡ lòng
Học cho thông, thầy khỏi mắng…”

Ứ ừ… Sao mà Thu ghét tiếng “mày” thế! “Mày tao” là thế nào? Phải ăn nói cho lịch sự chứ? Dù là ăn nói trong sách đi nữa cũng vậy chứ! Nhưng chỉ ghét thầm thôi, không biết kể ra với ai và vẫn phải đọc đi đọc lại gần nhẵn mặt chữ.

Thu ấy ư? Thu chỉ thích vần xuôi kia, có nhiều đoạn đọc nghe hay tệ: “bà ta bế ta, bê bú bò, đi ra đi vô, bó lá bỏ bồ, chị ru bé ngủ, nhà quê vui ghê, bò la bò lê, ở bụi tre, tò te tí te…” v.v… Lại có khi: “Bò la gà to ghê, khỉ nó nghe…”

Đến chừng vần ngược có nhiều chữ thật là đáng gờm: “khúc khuỷu, khuya khoắt, ngoằn ngoèo, ngoa ngoắt” khó chi mà khó, tập đánh vần méo cả miệng đi kia!

Nhưng rồi cái đoạn đường cheo leo, gai góc đó Thu đều cũng vượt qua, vượt một cách chậm chạp, khó khăn, lâu lắc. Bây giờ đây, nghĩ lại còn thấy rùng mình!

Nay thì Thu thông thái ra phết. Chả thế mà ở nơi nào, trên cái gì Thu cũng đặt bút lên cho mọi người biết tài mình.

Trên quả cam vàng óng, Thu lấy bút nguyên tử viết: “Cam này là cam của em bé”. Trên quả chuối, Thu cũng viết: “Chúi này là chúi của em bé”. Trên tập giấy vệ sinh dành riêng cho em bé, Thu cũng hạ bút, phê rằng: “giấy này là giấy đi tiu của em bé”

Nhìn bút tích Thu, đôi khi mẹ cười thú vị, song cũng có khi mẹ la váng lên:

- Con Thu này nghịch quá thể! Bạ đâu nghịch bẩn đấy, coi chừng mẹ đánh đòn đa!

Ôi chao! Người lớn họ mới khó chịu làm sao! Thứ giấy đi tiu người ta viết lên là may ấy chứ, đã không biết ơn còn mắng nỗi gì!

Thu ao ước được đi học quá! Chữ nghĩa đầy ăm ắp trong đầu thế này này! Phải đi học thôi, ngứa tay không chịu được. Mà nghe đâu những sang năm, sau tết ba mẹ mới cho Thu đi học cơ. Lâu quá!

Sốt cả ruột. Trong lúc chờ đợi, Thu lấy phấn viết nhăng nhít lên tủ: “Tủ này là tủ của Thu”. Lại bị rầy, rõ bực mình làm sao! Người ta biết chữ mà cấm người ta viết, thế mới khổ cho người ta không, kia chứ? Mà sao mẹ hay la Thu thế? Cái thằng Minh nghịch phá trăm thứ thì mẹ lại chỉ cười thôi. Nó mà tóm được con cuốn chiếu trong tay ấy ư? Nó cầm lên, xách lủng lẳng khoe cùng khắp. Gớm, Thu sợ đến hét ngược lên. Mẹ cũng sợ, nhưng mẹ không có hét lên như Thu, mẹ nói bằng giọng trang trọng:

- Con trai có khác, nó phát triển cá tính như thế đó. Nó không giống mẹ thấy không?

Làm y như nó lập một kỳ công không bằng. Người lớn kỳ quái thế đấy: chuyện đáng la họ không la, họ lại la rầy những điều đáng khuyến khích. Điều Thu buồn cười nhất là mẹ luôn luôn để em Bé ăn nói buông tuồng không ý tứ chi cả. Khi nó cáu cái gì, tức thì nó kêu mọi người bằng “mày” tuốt tuột. Nó có còn bé dại chi đâu? Nó đã biết bắt bẻ người khác ra trò ấy chứ. Một bận dì Vân đến chơi, dì ôm nó hôn và nói:

- Chao! Cháu tôi dễ ghét quá! Con chó con!

Đời thuở nhà ai người lớn mà ăn nói thế không? Dễ thương thì kêu là dễ ghét! Người ta lại kêu là chó! Nhưng mà mẹ không hề phật ý – đáng ngạc nhiên chưa? – mẹ vẫn cười. Nhưng con Bé thì không cười, nó gỡ tay dì ra, khuỳnh hai tay ngang mạng sườn, lý sự:

- Dì Vân nói bậy bạ! Bé mà con của chó à? Mẹ chớ!

Cả nhà cười ngặt nghẽo. Thu không sao nhếch mép được, có gì vui đâu?

Ký quái hơn nữa là mẹ cứ cho đó như một chuyện thú vị lắm, gặp ai cũng mang ra kể, kể xong mẹ còn thêm:

- Con Bé này ghê lắm, nó lý luận chặt chẽ lắm cơ!

(Chặt chẽ thế này đây: sau khi dì Vân về, nó còn hầm hầm mặt nói “chó nó âu có cái vú cho bú mà làm mẹ Bé” Chỉ có thế mà mẹ khen nức lên)

Nhạt phèo! Trẻ con! Thu phê bình thầm trong bụng. Em Bé thì nghe khen phổng mũi lên, không thấy cái ngu của mình, còn “lên chân” kia, mới đáng khinh chứ. Càng ngày, nó càng lố bịch, càng quá trớn. Chẳng hạn, một lần nọ, ba chở nó đi phố với mẹ. Về nhà nó tìm ngay Thu mà lên giọng thế này:

- Chị Thu ơi! Em Bé i phố, Bé thấy àn bà mà lái xe…

- Đồ ngu! (Thu mắng nó liền) đàn bà lái xe chớ sao không? Dễ em Bé tưởng…

Em Bé tức thì sừng sộ:

- Àn bà gì lái xe? Àn ông mới lái xe chớ? Mẹ có lái xe không? Ba lái, chị Thu không thấy sao?

Rồi nó tìm đồng minh ở anh Tân:

- Phải không anh Tân? Àn ông mới lái xe chớ?

Đáng lý ra, anh Tân phải cắt nghĩa rằng: “Đàn bà cũng lái xe được, không ai cấm, mẹ không lái là tại mẹ không biết lái” thì anh ấy lại nói theo nó:

- Phải rồi! àn bà không ược lái xe, àn ông mới ược lái xe!

Thu tức quá, gân cổ cãi:

- Anh Tân làm bộ đó, Bé đừng tưởng đâu.

Bé gạt đi:

- Anh Tân không làm bộ, anh Tân nói thiệt, àn bà không lái xe, mẹ âu có lái?

Thu vừa tức giận, vừa khinh bỉ mà không thể nào nói cho Bé hiểu được cái ngu của nó: mẹ không lái thì mặc chứ, Bé quyền gì mà cấm tất cả các bà khác lái xe? Nhưng mà thôi, nó ngu, không hiểu được, nói vô ích. Làm sao nó nghe Thu trong lúc cả nhà đều nói theo nó? Thu phân trần với thằng Minh. Thằng coi vậy mà khôn. Nó biểu đồng tình với Thu rất là sốt sắng:

- Kể gì em Bé? Nó ngu lắm, Minh với chị Thu mới biết đàn bà lái xe được.

Có bạn đồng minh, Thu thôi, không thèm tức nữa. Thu không thèm chơi với nó nữa. Thu chán hết sức. Buổi trưa, hai đứa ngủ với mẹ, Thu cất lẻn đi chơi. (Mẹ cũng bắt Thu ngủ, nhưng Thu chỉ vờ nhắm mắt, chừng biết mẹ và hai em ngủ là Thu nhỏm dậy ngay) Thu thơ thẩn ra hè, nhặt than vụn vẽ ngoằn ngoèo lên vách lại thú hơn. Mà vui đáo để. Thu không thèm viết chữ nữa, trò đó cũ rồi. Thu vẽ kia. Thu vẽ cũng tàm tạm: con cò, con cá, con cá, con cò…


Trời ơi! Sao Trời lại sinh ra hai loài có hình dáng dễ vẽ đến thế kia, kia chứ? Này nhé, con cò thì kéo hai nét, rồi thêm cặp chân lêu đêu bằng hai đường gạch dọc xuống, hết sức đơn giản, đoạn kéo thêm ba bốn lằn chĩa, ngăn ngắn dưới cùng, thế là xong. Điểm thêm cái chấm tròn làm con mắt. Đôi khi, Thu tinh nghịch chỉ vẽ con cò có một chân, ra điều nó đứng thế, trông lại hay ra phết! Cần nhất là kheo khéo tay một chút, cho cái cổ cò dài dài ra và uốn cong, mỏ nó có thể chúc xuống, chúc lên tùy ý.

Còn con cá? Lại càng dễ phóng bút, à quên, phóng hòn than, kéo hai lằn dài, thon thon, giống như hình thù con cá, cái đuôi cá thì khác gì hai cái mỏ cò? Đoạn, khoét một vòng như cái lưỡi liềm phía đằng đầu, ấy thế là phân biệt ra cái mang cá, rồi điểm hai còn mắt, à, không, một con, con bên kia khuất không trông thấy, từ mang trở xuống là vảy bám khắp thân.

Cò với cá, cá và cò… không bao lâu trên bức tường đầy những tác phẩm của Thu, chật cho đến nỗi sau cùng Thu phải vẽ chồng lên những tranh của anh Tân. Anh Tân thì không vẽ cò với cá như Thu, (anh ấy không biết vẽ chăng?) mà chỉ toàn vẽ hình hai thằng bé đánh kiếm thôi, nhưng anh thay đổi hình dáng hai “thằng người” luôn: khi thì hai cậu đang chọc thẳng mũi kiếm vào nhau, khi thì người đâm, người đỡ, khi thì một cậu ngã sóng soài dưới đất, song tay không rời kiếm… trông chẳng “nghĩa lý” gì cả! Anh ấy thì làm gì biết chuyện đánh kiếm? Phịa! Chứ Thu, con cá Thu thấy ngày một. Con cò thì ít hơn, song con vật này Thu có cảm tình đặc biệt, vì u già thường nghêu ngao hát:

“Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng nước mắt như mưa”

Tội nghiệp! Thu nghe đến thuộc lòng mà lần nào nghe đến là Thu lại cảm động, tưởng tượng ra một người đàn bà đẫm mình dưới mưa đông, gánh đầy hai thúng gạo đi dọc theo bờ sông… (Chả bao giờ Thu tưởng tượng được người chồng cả) trời mưa, bờ sông thì vắng, rõ là khổ nhọc thân cò! Làm sao Thu không thương được? Đôi khi Thu mò ra bờ ruộng chơi tha thẩn một mình, Thu thấy hàng đàn cò trắng nổi bật lên trên những đám ruộng xanh, giữa ánh nắng vàng trong những chiều mùa hạ, trông thật là vui mắt.

Những lúc đó Thu quên phắt chuyện thân cò lặn lội. Chỉ khi Thu ra bờ đầm với u già, hay đến chỗ cửa sông thông ra biển, dọc theo dòng nước cạn Thu thấy thấp thoáng vài chiếc cò cô độc, đứng yên hay bước từng bước lững thững, vết chân in rõ trên bãi bùn lẫn cát ; trông bộ dạng mới lù khù, thảm hại làm sao! Và động thấy bóng Thu từ xa là nó vội vàng, cuống quít chạy hoặc vỗ cánh biến vào sương mù biệt dạng trong nháy mắt.

Nhưng hình ảnh cò còn thay đổi không ngừng theo những câu ca dao mà Thu được biết ngoài mấy câu cũ kỹ của u già. Chẳng hạn một lần kia, anh Tân lấy cuốn sách giáo khoa của anh ra chỉ cho Thu đọc bài Thân cò như sau:

"Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi! Ông vớt tôi nao!
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng,
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con!”

Tội nghiệp thân cò mẹ! Nhưng Thu thầm nghĩ nước trong nước đục gì mà chả chết?

Thu thì Thu cóc thèm dặn dò, Thu tìm cách thoát thân kia.

Rồi thì nào:

“Cái cò, cái vạc, cái nông
Sao mày dậm lúa nhà ông hỡi cò…”

Lại mày tao! Ghét bài này, không thèm đọc nữa, nên Thu không biết khúc sau ra sao.

Thu ưa nhất là chuyện cò bắn súng. Chuyện này không có trong sách giáo khoa.

(Nói lén mà nghe: sách giáo khoa chán bỏ xừ đi!) Chuyện này cũng không phải u già kể, nó đâu trong một tạp chí cũ rích, Thu vớ được, nó thế này này:

“Con cò đứng gác bụi tre
Hy sinh giúp nước, cò què một chân!”

Đó là cò chiến sĩ! Theo ý Thu thì cò này anh hùng nhất, đáng quí nhất, dù Thu không biết đích xác chuyện xảy ra ở đâu, lúc nào.

Có lẽ khi vẽ cò một chân, Thu mường tượng chuyện cò giúp nước cũng nên? Hình như – Thu đoán thầm thế cò giúp nước là cò thời xưa, xa lơ, xa lắc, thời giặc cờ Đen cũng nên? Giặc cờ Đen? Tụi này gớm lắm đây. Chỉ nghe cũng khiếp rồi. Chắc tụi này mang lá cờ hiệu đen như than?

Nghĩ vớ vẩn thế rồi Thu nao nức: được rồi! Thế nào chừng được đi học Thu cũng cố tìm cho bằng được chuyện giặc cờ Đen và nhất là chuyện cò bắn súng xem xuất xứ do đâu? Sao không thấy kể trong sách giáo khoa thư như mấy cò kia, Thu mới hài lòng.


MINH QUÂN


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 45, ra ngày 2-7-1972)

Bìa của Vi Vi : Trinh trắng

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>