Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Vui Đêm Trung Thu


Tú bước chân sáo, nhảy từng bước vui trên con đường đất bên hàng cây xanh ngắt, con đường dẫn đến nhà Hải bạn thân Tú. Tú vừa nghĩ đến chiếc lồng đèn tàu thủy xinh xinh với những khẩu súng, thằng lính be bé sơn màu sặc sở mà má Tú mua về chiều hôm qua. Thế là tối nay Tú có thể cùng bọn trẻ trong làng đi rước đèn khắp ngả đường. Tú phải đến rủ Hải tối nay cùng đi, nếu thiếu Hải thì buồn lắm. Nhưng thế nào Hải cũng đi mà. Tú nghĩ thế.
 
Con đường thâu ngắn, ngôi nhà nho nhỏ núp sau bóng cây ổi hiện ra. Nhà của gia đình Hải đó. Tú hăng hái chạy vào. Trước hiên, Hải đang cặm cụi bên những thanh tre vót nhỏ. Tú mon men đến gần lên tiếng:
 
- Làm lồng đèn hở hải?
 
Hải nghe tiếng, ngừng tay, thấy bạn nó cười đáp:
 
- Ừ, làm cho em Hải.
 
- Thế Hải không có đèn à?
 
- Không biết nữa, làm đèn cho em hải xong nếu dư tre Hải sẽ làm cho Hải.
 
Tú nhìn đống tre, chỉ còn vài thanh nhỏ. Nó buồn buồn nói:
 
- Hải mà không có đèn, tối nay Tú cũng không chơi đèn.
 
Hải ngưng làm, ngạc nhiên hỏi bạn:
 
- Sao thế tú?
 
Tú nắm tay bạn:
 
- Vì không có Hải, mình Tú chơi đâu vui.
 
Hải cười buồn nắm chặt tay bạn. Cánh tay của người bạn thân thiết. Hai đứa vẫn thương nhau, dù Tú giàu còn nhà Hải nghèo, lại mồ côi cha, chỉ còn lại mẹ dãi dầu gió sương buôn bán nuôi anh em Hải đi học. Nhà đâu dư dả gì mà Hải được lồng đèn với bánh trung thu.
 
Lại tiếp tục làm, Hải dán miếng giấy bóng cuối cùng vào thanh tre. Chiếc lồng đèn ngôi sao đã hoàn thành. Hải ngắm một lúc rồi đưa ra khoe bạn:
 
- Đẹp không Tú?
 
Tú sờ vào giấy kính rồi khen:
 
- Ồ đẹp quá. Hải làm đẹp ghê.
 
Hải cười hãnh diện:
 
- Thôi để Hải đem đèn đi cất rồi hai đứa mình đi chơi nghen.
 
Nói rồi Hải cầm đèn chạy ù vào nhà.
 
 
Tú, Hải nắm tay nhau len lỏi trong đám người đi mua đồ tết. Hai đứa ngơ ngác đi từ hàng nầy đến hàng khác, chúi mũi vào tủ kính nhìn những cặp bánh dẻo, bánh nướng thơm ngon, nằm gọn trong ngăn tủ. Rồi đứng ngước mắt nhìn hàng lồng đèn đủ kiểu treo trên trần nhà. Những chiếc lồng đèn thật đẹp có cả con bướm, con rồng nữa. Những ước muốn sinh ra thật nhiều trong hai đứa. Riêng Hải tự biết mình không thể nào có được những thứ đó, liền bấm tay kéo Tú trở về. Trời đã chập choạng tối.
 
*
 
Ánh lửa lóe lên qua miếng giấy bóng đỏ, ánh sáng trong chiếc lồng đèn tỏa ra thật dịu. Tú đút chiếc bánh trung thu vào túi rồi bước đến nhà Hải. Con đường sáng lên mỗi bước chân Tú vươn tới. Vừa bước vào nhà Hải, Tú bỗng thấy Hải đứng buồn buồn trước cửa, bên cạnh thằng Hòa, em Hải ngồi mặt méo xệch đầm đìa nước mắt. Thấy Tú bước vào với lồng đèn tàu thủy, nó nín khóc mắt thèm muốn chiếc đèn. Tú bước lại hỏi Hải:
 
- Chuyện gì vậy Hải? Sao buồn thiu vậy, đèn đâu sao không đốt lên?
 
Hải nói giọng muốn khóc:
 
- Chiếc lồng đèn Hải mới đưa cho thằng Hòa đi chơi, mới chơi một tí nó đã làm cháy rụi, rồi bây giờ chạy về nhà khóc đòi đèn khác. Hải tìm đâu ra đèn khác.
 
- Thế Hải không có đèn à?
 
Hải gật đầu. Tú vừa đưa đèn cho Hòa vừa nói:
 
- Vậy Tú cũng không chơi. Nè, Hòa cầm lấy, đi chơi đi.
 
Thằng bé mừng rỡ đón chiếc đèn chạy vụt ra ngoài.
 
Hải la lớn:
 
- Ý không được đâu Tú ơi, Hòa ơi.
 
Tú khoác vai bạn:
 
- Có gì mà không được. Để cho Hòa chơi đi. Hai đứa mình ngồi đây chơi cũng được, há Hải?
 
Hải miễn cưỡng gật đầu. Ngồi nơi hàng hiên, hai đứa nhìn ra ngoài ngõ, từng đàn trẻ tay xách đèn đi tung tăng ca hát, vui vẻ. Bao ánh đèn lung linh khắp ngõ. Tú cười nói:
 
- Vui quá há Hải?
 
- Ừ.
 
Chợt Tú quay qua hỏi Hải:
 
- Nhà Hải có sáp vụn hông Hải?
 
- Sáp vụn nhà Hải thiếu gì, trên bàn thờ ba Hải nhiều lắm.
 
- Mình làm đuốc chơi Hải.
 
Hải nhăn nhó:
 
- Không được đâu, nhà Hải không có dầu.
 
Tú vui vẻ nói:
 
- Cần gì, mình lấy vở cũ cuốn tròn lại nhỏ nước sáp vào là cháy chứ cần gì dầu. Nhà Hải có vở cũ hông đem ra đây mình làm chơi.
 
Hải nghi ngờ:
 
- Được hông?
 
- Được mà.
 
Hải chạy vào nhà. Lát sau hai cây đuốc bằng giấy và đèn cầy vụn được thắp sáng. Hai ngọn lửa bùng lên mạnh mẽ, soi rõ hai gương mặt vui mừng. Hải ôm Tú:
 
- Hay quá Tú ơi! Mình có đèn chơi rồi.
 
Tú hãnh diện nhìn ánh đèn, cười:
 
- Mình ngồi đây chơi đi Hải. Đừng đi đâu hết á.
 
Tú cắm hai cây đuốc xuống đất, lấy bánh ra chia đôi. Hai đứa vừa ăn vừa nhỏ từng giọt sáp làm ngọn lửa bùng lên từng chập. Hai ánh nến theo gió đưa lung linh, ấm áp. Men theo tiếng nhạc nơi chiếc máy thu thanh từ xa vọng lại, Tú vừa nhịp vừa hát:
 
"Tết Trung thu đốt đèn đi chơi, em đốt đèn đi khắp phố phường... đèn ông sao với đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn bươm bướm... Em đốt đèn ngày tết Trung thu... Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh..."
 
Tú dứt tiếng, hải vỗ tay reo:
 
- Hay quá, Tú hát hay ghê.
 
Trời đã khuya, đám trẻ trước ngõ đã lần lượt ra về. Tú, Hải vẫn còn ngồi đó, hai ánh lửa vẫn còn cháy sáng. Gió về đêm thổi nhè nhẹ thật mát. Tú hơ cục nến cuối cùng chảy trên đầu đuốc, ánh lửa cháy mạnh. Hải nhìn đóm lửa thật lâu, đôi má nó đỏ hồng. Tú đứng dậy phủi quần:
 
- Tú về nghen Hải. Để đuốc đó đi.
 
Hải với đôi mắt lưu luyến:
 
- Ừ... Tú về.
 
Tú quay bước. Ánh sáng soi theo Tú đến cuối đường. Nó quay lại nhìn. Hải đã vô nhà. Hai ánh lửa nghiêng ngả, soi sáng bên nhau. Tú vui vẻ bước những bước chân trên đường vắng. Lòng nó ấm áp lạ lùng.
 
 
VĂN ANH      
Ban mê thuột    
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 162, ra ngày 1-10-1971)
 

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Uống Trăng Tháng Tám


 
 
 
 
 
  
 
 
Đêm nồng 
Ôm giấc ngủ sâu
Đã thu chưa
Lá nhuốm màu lãng quên
Trời khuya 
Nhấp nháy sao huyền
Ngày nao hoa tím 
Vương thềm đợi mong
Trăng thề tháng tám 
Nhớ nhung
Lá rơi muôn lối 
Chiều không nẻo về
Mây mù giăng khắp 
Sơn khê
Gió khuya ngàn tiếng 
Não nề ru đêm
Lưỡi liềm 
Trăng giãi ngoài hiên
Nhẹ rơi từng phiến 
Êm đềm vào thơ
Trăng
Hay ảo ảnh xa mờ
Ánh trăng trải mộng
Thẫn thờ ngàn hoa
Nghìn sao 
Lấp lánh thiên hà
Cho ta uống cạn 
Trăng ngà đêm nay...

            Trần Thị Phương Lan
             (Bút nhóm Hoa Nắng)

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

Tôi Đi Thi


Năm 1957, tôi học lớp Troisième moderne ở trường Leuret (bây giờ là Pasteur) và chuẩn bị ráo riết thi bằng BEPC tức trung học Pháp. Tôi lo ghê lắm, bằng cấp đầu tiên của cuộc đời mà! Nhưng mình lo là một lẽ, số trời lại là một lẽ khác quan trọng hơn! Thầy dạy Pháp văn tôi tên là Losfeld, một giáo sư hỏi vấn đáp khó nổi tiếng thời đó. Ai mà gặp ông thì kể như... là phải thi lại! Một buổi học, ông cho lớp tôi một để luận văn như sau: Em hãy tả một vật em thích nhất và nói nguyên do em thích. Lúc đó, thực dân Pháp vừa chạy cúp đuôi về nước, dân tộc Việt đang lên hương. Trước khí thế bừng bừng đó, tôi, một cậu bé lù khù tuy mới 15 tuổi cũng cảm thấy sung sướng vì đi đường gặp các ông Tây hết sợ rồi. Vì thế bắt được đề luận văn trên tôi mừng húm coi như là trúng tủ, bèn viết một hơi là tôi thích nhất lá quốc kỳ của nước tôi và lý do thích của tôi là lá quốc kỳ tượng trưng cho sự chống và đánh đuổi thực dân Pháp. Tôi gò gẫm từng chữ, từng câu vì sợ sai văn phạm. Tưởng làm được một bài luận văn đắc ý và nhất định được thầy khen, ai ngờ lúc trả bài, ông kêu tôi lên và hỏi tôi có phải tác giả bài luận văn đó không rồi đuổi tôi ra khỏi lớp và tuyên bố đuổi vĩnh viễn tôi. Bị đuổi giữa niên khóa, bơ vơ, không dám cho nhà biết (bị đòn chết), tôi bèn xin qua trường Tân Thanh ở đường Lacoste (bây giờ là đường Phạm Hồng Thái) học. Nhờ cố gắng, cuối năm đó tôi đỗ kỳ thi viết ở trường Colette (ở Phan Đình Phùng, Lê văn Duyệt Saigon), chỉ còn vào vấn đáp nữa là đoạt được bằng BEPC, đời lên hương... Nhưng... ai học được chữ ngờ và chữ xui, tôi gặp ngay ông Losfeld hỏi môn Sử Địa, Thế là dù có ba đầu sáu tay, tôi cũng không vượt qua được ải này. Thấy tôi, ông ngó tôi cười cười rồi bảo tôi muốn nói gì thì nói đi mặc dù ông không ra đầu đề gì hết. Tôi xin đầu đề, ông không cho và hỏi tôi những câu thật hắc búa (thầy mà muốn học trò rớt thì dễ quá mà!) cho tôi bí rồi đuổi tôi ra.
 
Năm đó, tôi nếm mùi vị "thi không ăn ớt thế mà cay" lần đầu tiên của cuộc đời. Buồn tủi, tức đời, lại phải thấy cô bạn gái học cùng lớp, cùng xóm thi đỗ đi nghênh ngang mặt nghinh nghinh thấy phát ghét, tôi bèn đóng cửa ở trong nhà cả tháng không ra đường và ôm niềm tủi nhục nam nhi chi chí sa cơ thất thế để chờ thi kỳ hai... Nghe nói về sau ông thầy Losfeld mến yêu của tôi bị đổi sang dạy ở Á-căn-Đình, không biết bây giờ sức khỏe ra sao? Thế rồi tôi cũng vượt qua được và ba năm sau tôi vào được vấn đáp kỳ thi Tú Tài II ở trường Marie Curie sau khi đỗ được các môn thi viết. Tôi thi ban Toán, nên môn Toán quan trọng lắm, đỗ hay rớt một phần lớn tùy thuộc vào môn này. Người hỏi Toán tôi là một nữ giáo sư Pháp, tôi không nhớ tên nhưng có điều tôi nhớ mãi không quên là bà còn trẻ lắm, lúc đó mới trên 20 là cùng và đẹp như Sandra Dee vậy đó! Bà cho tôi một bài toán nhỏ và một câu hỏi giáo khoa về môn Hình Học, câu hỏi này là tích số hai phép vị tự. Dễ quá, đã học qua lớp này ai mà không biết câu hỏi trên. Tôi sung sướng bình tĩnh chờ tới phiên lên trả lời, không thèm viết gì trên giấy nháp cả trừ cái hình vẽ của bài toán nhỏ. Tôi chắc chắn tự tin mình vượt qua được môn này và như thế đã đi được trên năm mươi phần trăm đoạn đường làm cậu tú kép. Khi tới phiên, bà giám khảo đó bảo tôi nộp tờ giấy nháp rồi bảo tôi ra, bà nói bà sẽ chấm tờ giấy nháp này không cần hỏi. Trời đất ơi! Chết tôi rồi! Tôi cãi nói là vì thi vấn đáp, các câu hỏi tôi đã biết hết nhưng không viết gì vào tờ giấy nháp cả, xin bà hạch miệng cho đúng ý nghĩa thi vấn đáp, kẻo oan ức tôi lắm. Bà ta không chịu, quát to đuổi tôi ra khỏi phòng thi ngay lúc đó. Thế là một lần nữa tôi biết thế nào là niềm tủi hận của một học sinh thi rớt. Tức chí, tôi qua thi Chương Trình Việt, cũng đỗ được kỳ thi viết, vào vấn đáp (lúc đó còn vấn đáp) ở trường Gia Long. Số tôi làm sao đó, chắc tướng tôi dễ ghét lắm, gặp vị giám khảo nào cũng bị trù cả. Vị giám khảo hỏi Toán (hiện giờ vẫn còn dạy các lớp Đệ Nhất ở Saigon) ra cho tôi một đề về Cơ học, đề này tôi cũng biết nhưng vì mới chân ướt chân ráo ở chương trình Pháp qua nên không rành danh từ, muốn trình bày điều này, tôi phải nói trước tiên tiếng Quỹ Đạo, nhưng tôi không biết tiếng này, chỉ biết tiếng Pháp tương đương là Trajectoire. Tôi nói chữ Trajectoire, vị giám khảo đó không chịu, bắt phải nói tiếng Việt, tôi bí... Thế là bị đuổi ra... chờ vào vấn đáp kỳ hai. Và vì chuyên môn đỗ kỳ hai, nên hồi đó tôi bị gia đình và các bạn bè ngạo là người đỗ kỳ hai.
 
Nhân mùa thi đang nở rộ, tôi thuật lại cho các bạn nghe cuộc đời đi thi vô duyên của tôi ở Trung học, với hy vọng các bạn không nỡ trách tôi viết về cái tôi dốt nát này bởi vì: với các bạn vừa đại đăng khoa, tôi xin mừng cho các bạn, cầu chúc các bạn cứ đại đăng khoa mãi và mong chờ sự khao danh vọng của các bạn, nhưng với các bạn không may, tôi xin góp niềm thông cảm chân thành với cái tôi rớt lên rớt xuống vừa thuật ở trên, rớt thì buồn nhưng rồi cũng sẽ qua đi và sẽ đỗ miễn là ta đừng chán nản, hơn nữa bằng cấp chưa chắc định đoạt dứt khoát tương lai cuộc đời và phải ở lại lớp một năm có gì đâu đáng kể so với cuộc đời dài trăm năm, riêng với các bạn trai 17-18 tuổi thi hỏng phải lên đường thi hành Quân Dịch thì... tuổi chúng mình là tuổi đẹp cả đời... các bạn, các em ơi! ! !
 
 
HOÀNG ĐĂNG CẤP     
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 95, ra ngày 15-9-1968)
 

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Người Săn Rắn


MỘT KẺ LẠ LÙNG
 
Đó là ông William Fador, người cao lớn, tóc điểm bạc, da sạm nắng và thật khó có thể đoán được trúng tuổi của ông: 40, 50 hay có thể ông đã tới 60 mặc dầu ông vẫn còn đầy vẻ phong độ của một kẻ không ưa cảnh nhàn hạ, yên ổn mà chỉ thích phiêu lưu. Bộ quần áo của ông ta là cả một sự kỳ khôi: đầu đội mũ rộng vành, quần áo cộc rộng tay bằng vải thô, chân đi bốt da, ông ta mang theo đủ thứ đồ nghề lủng củng mà ta khó có thể đoán được những công dụng của chúng. Trước hết là một cái túi đựng đồ leo núi, bên trong đầy đủ quần áo, đạn dược, thức ăn, sau đến một cây súng săn lúc nào cũng lên đạn sẵn sàng và đặc biệt là một cây gậy dài, thật dẻo, ở đầu có gắn một vòng dây da, đó là dụng cụ đắc lực để giúp ông ta chế ngự một loài vật hết sức nguy hiểm: những con rắn cực độc. Chưa hết, vòng quanh thắt lưng, ông ta còn đeo đủ loại túi da, và một cây kẹp sắt.
 
Đối với William Fador, săn rắn là một nghề thích thú, mặc dầu nguồn lợi đem lại thật không xứng với những nguy hiểm mà ông ta thường trực phải đương đầu. Nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể đua đòi được loại sở thích kỳ cục này. Những tay chậm chạp, những cụ lừng khừng, những bác cà chớn, xin hãy... xê ra cho người ta bắt rắn. Bởi đấy không phải là một trò đùa. Một phút chểnh mảng, một sự quan sát lầm lẫn, một phản ứng chậm chạp, tất cả đều là những lý do sẵn sàng đưa ta về bên kia thế giới.
 
 
BẮT RẮN NHƯ THẾ NÀO?
 
Theo William Fador thì người bắt rắn phải có hai biệt tài chính yếu: một là óc nhận xét sáng suốt, hai là sự phản ứng lanh lẹn, thần tốc. Nhờ óc sáng suốt, ta có thể tỉnh táo ngay cả khi cơ thể mệt mỏi lúc lặn lội trong rừng sâu, sẵn sàng phân biệt được đâu là màu da rắn, đâu là màu cây cỏ, hỏm đá, lại cũng phải biết phân biệt đâu là cành khô rơi vãi, đâu là những thân rắn đang bò. Do kinh nghiệm, kẻ săn rắn cũng phải biết nhìn qua một con rắn là phân biệt được nó thuộc loại nào, độc hay không, phương cách tấn công đặc biệt của nó và biết sử dụng phương pháp chế ngự nó một cách mau chóng.
 
Đối với các loại rắn thông thường thì chỉ cần dùng cây gậy dẻo đập liên hồi cho đến lúc nó ngất ngư.
 
Điều khó là không được đụng chạm đến đầu của nó, để khỏi làm hư túi chứa nọc độc sẽ đem dùng sau này. Chỗ đáng đập nhất là ngay chính giữa thân rắn. Trường hợp gặp loài rắn lớn, thì người ta sử dụng chiếc gậy có vòng da. Với phản ứng mau lẹ, người bắt rắn choàng chiếc vòng qua đầu nó rồi thít lại. Dù vùng vẫy cách nào nó cũng trở nên hết nguy hiểm. Một đôi khi gặp trường hợp khẩn cấp, người ta phải sử dụng tới súng. Bắn thật nhanh, nhắm thật trúng, chỉ có phương pháp ấy mới thoát khỏi những con rắn bất chợt phóng mình từ một hốc nào đó.
 
 
RẮN PHUN NỌC NHƯ THẾ NÀO?
 
Không phải loại rắn nào cũng có khả năng giết người bằng nọc độc. Ngay cả khi loại rắn chứa nọc độc, nhưng khi ta bị cắn cũng không hề hấn gì. Như loại rắn Opisthoglypes tuy có những hạch bài tiết nọc độc nhưng nọc độc lại nằm tận bên trong cùng. Bởi thế khi bị rắn mổ, răng nhả nọc ở sâu quá, không xâm phạm đến da thịt ta, chỉ trong trường hợp một con mồi bị nó nuốt vào, con mồi mới bị thấm nọc. Chúng ta đừng tưởng toàn bộ hàm răng rắn đều chứa nọc độc. Thực ra nọc được chứa từ một túi, Túi này thông tới một hay hai cái răng móc. Chỉ răng móc này mới nhễu được nọc độc mà thôi. Các răng khác chỉ có phận sự đẩy con mồi vào bụng rắn.
 
Khi rắn nghỉ ngơi, răng móc của rắn hạ xuống một khoảng trũng nhỏ trong miệng. Nhưng lúc há ra đề đớp mồi thì nó dựng đứng lên, nhô ra phía trước nhờ xương hàm và nó có thể chuyển động được. Khi cắm vào thịt con mồi, nó gây ra một vết thương nhỏ như nốt chích vì đầu răng móc chỉ nhỏ như một mũi tiêm. Những túi chứa chất độc sẽ thắt lại và chất độc chảy qua ống dẫn, nhễu từ răng móc vào con mồi.
 
 
LẤY NỌC RẮN
 
Rắn bắt được đều chứa trong những túi bằng da. Khi túi đầy nhóc nhách, William Fador đem chúng về trại. Sự nguy hiểm chưa qua. Bởi giai đoạn lấy nọc độc của rắn cũng hết sức nguy hiểm. Nhiều kẻ đã bị rắn cắn chết ngay trong phòng thí nghiệm. Trước hết Fador đem nhốt rắn vào những chuồng riêng, và mỗi tháng lôi chúng ra hai lần để bắt chúng nhả nọc độc. Với một bàn tay thiện nghệ, Fador nắm chặt lấy gáy chúng và đem kề gần một chiếc ly thủy tinh. Nó trở nên hung dữ, hàm răng táp lấy miệng ly mà ngoạm chặt, túi chứa nọc thắt ngay lại để phun ra ở dưới răng những giọt nọc cực độc màu vàng lợt, nhầy nhụa. Số lượng và phẩm chất của nọc tùy theo từng loại rắn. Như rắn lục ở Âu Châu, mỗi con có thể nhễu được 20 milligam nọc mỗi lần còn loại rắn đeo kính lại nhả tới 100 milligam.
 
Đối với các loại rắn lớn, khỏe mạnh, lúc lấy nọc Fador phải dùng những chiếc kẹp sắt thay vì sử dụng tay.
 
 
NỌC RẮN
 
Một vài dân tộc sơ khai ở Phi Châu hay xích đạo, hiện nay vẫn còn dùng nọc rắn để tẩm vào các mũi tên độc để giết người. Họ không bắt rắn để lấy nọc, nhưng lại nhúng các mũi tên vào các hỏm đá, nơi rắn hay nhả nọc. Công việc này do những tay phù thủy kinh nghiệm và khéo léo chuyên chế tạo các võ khí tẩm độc. Tên tẩm nọc rắn có thể bắn chết người (một phương cách sử dụng nọc rắn trong những mục tiêu man rợ nhất) nhưng một đôi khi nó rất hữu ích để hạ một loại thú dữ hung tợn, mạnh mẽ đe dọa tính mệnh dân bản xứ.
 
Đối với thế giới văn minh, nọc rắn được dùng trong những mục tiêu nhân đạo, đặc biệt là chế tạo thuốc chữa bệnh rắn cắn. Trước hết nọc rắn được chế biến cho bớt độc rồi được chích vào một con ngựa một lượng nhỏ vừa đủ để ngựa không chết. Cơ thể con ngựa sẽ phản ứng lại bằng cách máu của nó sẽ tiết ra những chất kháng độc. Sau 200 lần chích như thế, huyết thanh của ngựa đã chứa được một lượng lớn lao chất kháng độc. Người ta dùng huyết thanh này chích vào một con thỏ. Chỉ cần chích hai lần thôi, con thỏ có thể chịu đựng được một liều nọc rắn có thể đủ giết nó.
 
 
NỌC RẮN TỔNG HỢP
 
Có rất nhiều loại huyết thanh kháng độc phù hợp với từng loại nọc độc của rắn. Nhưng điều này thật bất tiện, bởi vì khi chữa một nạn nhân bị rắn cắn, ta khó có thể biết nạn nhân bị cắn bởi loại rắn nào để sử dụng loại huyết thanh đúng cách.
 
Để giải quyết vấn đề này, người ta đã chế tạo một loại huyết thanh hoặc lấy từ một con ngựa đã bị chích nhiều loại nọc rắn khác nhau, hoặc người ta hỗn hợp nhiều loại huyết thanh của nhiều con vật, mỗi con đã bị chích vào một loại nọc rắn.
 
Công việc nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng thực ra rất phức tạp.
 
Bởi nọc độc của một loại rắn không chỉ có nguyên một phẩm chất: Nó thay đổi tùy theo con đực, con cái, tùy theo thời tiết và mùa.
 
Ngoài công dụng để chế thuốc trị rắn cắn, nọc độc của rắn còn được dùng làm thuốc tê, thuốc cầm máu, thuốc chống bệnh ung thư.
 
Riêng loại thuốc tê chế từ nọc rắn, có khả năng làm cho bệnh nhân bớt đau đớn. Một vài giống vật sống trong rừng, khi bị thương tích hay đau đớn đã tự để cho rắn độc chích để giảm sự đau đớn. Nọc độc của rắn đã có tác dụng như loại ma túy morphine, nhưng lại hơn morphine ở chỗ không làm cơ thể trở nên quen thuộc và biến thành nghiện.
 
Ở những người bệnh có loại máu thiếu chất làm đông lại (bệnh huyết hữu) nên khi bị thương tích, máu chẩy ra hoài không thể cầm lại được (có người đã chết vì hết máu do một vết thương nhỏ). Với dược liệu chế từ nọc rắn, máu bệnh nhân có thể cầm lại được nhờ tính chất làm đông máu có trong nọc rắn.
 
 
ĐỖ THỊ THUẤN       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 5, ra ngày 12-9-1971) 
 

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Còn Trong Tim


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
Và nếu mai trong cõi đời phố chợ
Ngựa xe buồn lăn bánh nhớ qua tim
Em vẫn còn ruổi dong ngàn dặm mỏi
Chưa trở về theo dõi bước chân chim
 
Thì chị có chờ mong ngày tháng lạnh
Đã mù xa như hạnh phúc yên bình
Bởi quê hương còn bao nhiêu bất hạnh 
Người đợi người sao vắng bặt nguồn tin
 
Và nếu mai vườn xanh xao bóng lá
Chiều quá già thoi thóp giữa vòng tay
Mẹ héo mòn mắt chờ trông trăm ngả
Thu vàng rơi trên tóc lạ vai gầy
 
Lửa nào ấm cho môi hồng mắt ngọc
Để em thơ còn hong tóc đầu đời
Niềm tin nào ngày xưa chưa héo hắt
Có tàn theo cuộc chiến lệ đầy vơi?
 
Thì chị kể như em không về nữa
Những yêu thương còn chan chứa trong hồn
Dù ngàn sau nhiễu nhương đời binh lửa
Máu vẫn hồng luân chuyển bóng quê hương
 
                                             NGỌC THÙY GIANG 
                                    (Quê Hương Một Thời Khao Khát)
 

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Bạch Thái Bưởi


Hồi năm 1900, cách đây trên nửa thế kỷ, việc lưu thông trên Hồng Hà Bắc Việt, hầu hết vào tay người Huê kiều, họa chăng vài hãng tàu Pháp có mấy chiếc tàu chạy sông vì các nhà doanh nghiệp Pháp có nhiều quyền dễ dàng quá nên nguồn lợi trên sông Hồng họ không thèm nghĩ tới, để mặc cho người Huê kiều thao túng.
 
Ngoài những ghe lớn của Huê kiều, còn có những chiếc tàu "sà lúp" - (chaloupe) - trương cờ của Huê kiều với những tên Long Môn, Phúc Sinh, Thái An, Bảo An, Kim Bằng, Giang Môn v.v... Những tàu nhỏ này chạy đường Hà Nội - Nam Định hay Hà Nội - Hải Phòng, khứ hồi.
 
Vậy mà 10 năm sau, hồi năm 1910, trên Hồng Hà mọi người bỗng thấy phất phơ lá cờ của "Công ty Bạch Thái Bưởi" cắm trước mũi mấy tàu của người Việt Nam và mang tên Việt Nam. Ba tiếng "Bạch Thái Bưởi" đã được đồng bào nói tới.
 
Xuất thân là một người nghèo, phải làm công cho Công sứ Bonnet, tức là Tỉnh trưởng một tỉnh ở Bắc Việt, ông Bạch Thái Bưởi lúc đầu cũng chỉ là một "anh bồi Tây" không hơn không kém, theo danh từ thông dụng hồi bấy giờ. Nhưng "anh bồi Tây" ấy không an phận thủ thường như kẻ khác, và cũng không có cái tâm trạng chung của hạng người nô lệ đi học tiếng Tây để được "chẳng ký, không thông, cũng cậu bồi" như nhà thơ Trần Tế Xương đã mỉa mai chua chát.
 
Học dăm ba "chữ Tây chữ U" cậu bồi Bạch Thái Bưởi cũng không ỷ "thế thần" là người làm cho "quan Công sứ" thì phải biết... Ông Bạch Thái Bưởi nuôi một chí doanh thương lớn, muốn vùng vẫy chốn thương trường để tỏ mặt một phen với đời. Ông có một tinh thần tự lập, nhờ Công sứ Bonnet gởi gấm mà được thầu với sở Hỏa Xa cung cấp vật liệu trong khi sở này lãnh làm cây cầu Doumer (cầu Long Biên) nối liền Hà Nội với Gia Lâm, trên sông Hồng.
 
Nhờ đó ông có được một số vốn vì công cuộc lãnh thầu được trôi chảy. Ông Bưởi hùn hiệp với một nhà giàu có ở Nam Định là ông Lã Quý Chấn, đứng ra thầu nhà cầm đồ (hồi ấy mỗi tỉnh lớn có một nhà cầm đồ chành thức).
 
Ông Bạch Thái Bưởi còn khuếch trương công cuộc doanh thương thêm nữa, đứng ra thầu thuế chợ.
 
Giàu có rồi, ông quyết định thi hành chí lớn : giành lại những nguồn lợi lớn cho xứ sở. Năm 1910 ông nhận thấy hầu hết công việc vận tải ở đường sông trong tay người Tàu, ông lo sau này họ còn nắm nhiều độc quyền khác nữa. Ông bèn đứng ra lập "Công ty Bạch Thái Bưởi" để tranh thương với người Tàu. Không biết gì về nghề thủy vận lại mù tịt cả về máy móc, vậy mà ông cũng dám cạnh tranh với những chủ tàu Huê kiều đã nhiều vốn lại giầu kinh nghiệm và đi trước ông một bước dài trên con đường chuyên chở trên sông ; ông Bạch Thái Bưởi quả là người can đảm và cương quyết.
 
Ông dám bước vào ngành hoạt động nầy là vì lúc ấy ông thấy một cơ hội hiếm có đưa tới cho ông mà ông quyết chộp lấy: một công ty Pháp, tên là công ty Marty d'Abbadie bấy lâu lãnh việc chở thư từ cho nhà bưu điện bằng đường thủy, nay mãn giao kèo không muốn tiếp tục làm nữa, nên cho thuê ba chiếc tàu của họ: chiếc Phénix, chiếc Dragon và chiếc Fai Is Long. Ông Bạch Thái Bưởi nhận liền ba chiếc tàu ấy cho chạy đường Hà Nội - Nam Định và Nam Định - Bến Thủy (Bắc Trung Việt). Ba chiếc tàu mướn được đổi tên Việt Nam là Phi Phượng, Phi Long và Khoái Long Tử.
 
Thấy quyền lợi của mình trên dòng sông từ Hà Nội xuống Nam Định bị va chạm, mấy chủ tàu Huê kiều quyết tâm đối phó. Bấy lâu họ vẫn giữ một độc quyền trong thực tế trên đường nầy, nay lại có người nhảy ra cạnh tranh, họ bèn họp nhau lại tung ra võ khí "kim tiền" để tính đánh ngã đối phương.
 
Sẵn trường vốn, họ nắm tay nhau hạ giá, phá giá để mong Công ty Bách Thái Bưởi bị phá sản. Lúc ấy giá vé hành khách đi Hà nội - Nam Định là ba cắc, họ hạ xuống còn một cắc rưỡi (Một đồng bạc hồi ấy là 10 cắc).
 
Tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi cũng hạ giá vé xuống còn một cắc, rẻ hơn tàu của Huê kiều. Đối phương của ông không chịu thua, hạ xuống còn 7 xu (Một cắc ăn 10 xu). Ông Bạch Thái Bưởi hạ xuống còn 5 xu. Huê kiều hạ xuống còn 4 xu.
 
Thấy không còn hạ xuống quá mức ấy được nữa, ông Bạch Thái Bưởi nẩy ra sáng kiến mời hành khách đi tàu của ông uống nước trà. Mà không phải là nước trà Huế, nước trà bình dân đâu nhé. Ông cho mua thứ trà đầu xuân hiệu Ô Long và Liên Tử (ngon hơn những trà trong Chợ Lớn bấy giờ) mà nấu nước mời mỗi hành khách. Huê kiều muốn "bảnh hơn" không những đãi khách uống nước trà mà còn mời mỗi người một miếng bánh ngọt đậu xanh nữa.
 
Cuộc cạnh tranh giữa hai phe làm sôi nổi dư luận trong xứ và được truyền khẩu từ người nọ qua người kia. Người Việt ai cũng thán phục lòng can đảm, chí cương quyết của ông Bạch Thái Bưởi. Về phía ông, ông cũng thấy đồng bào cảm thông nỗi khó khăn của mình. Cuộc cạnh tranh đã tới mức không thể hạ giá hơn nữa vì nếu cứ cạnh tranh bằng lối này thì lo có ngày sẽ hạ giá xuống con số không và tàu sẽ đông nghẹt hành khách có ngày đến phải đi thăm Hà Bá.
 
Ông Bạch Thái Bưởi nghĩ đến cái võ khí tinh thần mà ông chưa dùng là nghĩa đồng bào, lòng ái quốc của người Việt Nam. Ông phóng ra một đoàn tuyên truyền có tài ăn nói, đi trên bến tàu kêu gọi con tim của Việt Nam:
 
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước hãy thương nhau cùng.
 
Một đoàn "hát xẩm" - như kiểu hát dạo cải lương ở lề đường bây giờ - được ông Bạch Thái Bưởi thuê, để ngồi ở bến tàu cổ xúy bằng những điệu hát bình dân, hiệu triệu hành khách "ta về ta tắm ao ta".
 
Cuộc tuyên truyền ấy quả nhiên đã đem lại kết quả mỹ mãn. Thấy không thể nào đem thế lực kim tiền ra mà thắng nghĩa đồng bào của người Việt Nam, các chủ tàu Huê kiều phải bỏ cái võ khí phá giá. Ít lâu sau giá cả trở lại bình thường và tàu Bạch Thái Bưởi vẫn đông khách hơn tàu của Huê kiều.
 
Sẵn trớn nhờ cuộc thắng trận vẻ vang, năm 1912, Công ty Bạch Thái Bưởi cho tàu chạy thêm đường Hà Nội - Hải Phòng nữa. Không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của Công ty này, các chủ tàu Huê kiều xếp giáp quy hàng. Họ bán lại tàu của họ cho mấy người Pháp và có mấy người bán cho chính Công ty Bạch Thái Bưởi nữa.
 
Năm 1915 làm ăn phát đạt, Công ty Bạch Thái Bưởi mua được hết cả xưởng chữa tàu và các xà lan máy của Công ty Marty, đã cho ông thuê ba chiếc tàu lúc đầu.
 
Năm 1917 một Công ty Pháp ở Hải Phòng lo việc chuyên chở trên những khúc sông ngắn, bị khánh tận. Ông Bạch Thái Bưởi mua được hết những thuyền máy và xà lan của Công ty này. Thế là số tàu lớn nhỏ của ông đã lên tới 30 chiếc và mang những tên lịch sử: Lê Lợi, Đinh Tiên Hoàng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lạc Long, Hồng Bàng, Tự Đức, Minh Mạng, Thiệu Trị, Đồng Khánh...
 
Trụ sở của Công ty Bạch Thái Bưởi đặt ở bốn nơi.
 
Trụ sở chánh thiết lập trước nhứt tại Nam Định vì ông Bạch Thái Bưởi muốn ghi nhớ bước đầu của ông vào nghề hàng hải tại tỉnh này. Năm 1916, ông dời nó xuống Hải Phòng và đặt thêm ba trụ sở phụ nữa, ở Hà Nội, Bến Thủy, giao cho hai người Pháp, và trụ sở ở Nam Định trở thành một trụ sở phụ giao cho người bạn cũ là ông Lã Quý Chấn.
 
Tuy đã giàu có lớn, ông Bạch Thái Bưởi còn khai khẩn mỏ than nữa. Ông làm việc tối ngày không biết mỏi mệt. bao nhiêu ngành kinh doanh đã làm ông mất hết ngày giờ. Ông không chịu sống đời trọc phú như người thường chỉ thích vợ đẹp con khôn. Ông còn nghĩ đến công việc văn hóa nữa và xuất bản một tờ nhựt báo tại Hà Nội lấy tên là "Khai Hóa" những mong dìu dắt đồng bào trên con đường sống mới.
 
Có lẽ vì làm việc nhiều quá mà ông mắc chứng tê liệt đến bán thân bất toại. Năm 1932 ông từ trần, gia đình ông an táng ông ở vùng mỏ Đông Triều, nơi ông đã từng khai thác mỏ than. 
 
Bạch Thái Bưởi: một gương tranh đấu cho những ai muốn thành công, có sự nghiệp với đời.
 
 
TẾ XUYÊN      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 6, ra ngày 19-9-1971)
 

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Có Phải Mùa Thu Về


 
 
 
 
 
 
 
 

Có phải cúc chớm nở
Bên hàng giậu đổ nát
Hương nhẹ như hơi thở
Thắm tươi mùa thu vàng

Có phải lá đã rơi
Bên thềm xưa vắng người 
Chỉ có tiếng chim hót
Nghe thời gian chậm trôi

Có phải sương mờ giăng
Gót hài ai bâng khuâng 
Hai bên bờ lau lách
Sông thu gợn lăn tăn

Có phải gió heo may 
Phong kín bờ vai gầy
Vườn xưa tràn cỏ dại
Chiều hoen tím màu mây

Có phải khung cửa gỗ
Từ lâu chỉ khép hờ
Bóng người xưa nào thấy
Chỉ còn trong giấc mơ

Chiều rụng lá vàng phai
Buông lơi cánh mi dài
Phím sầu còn để ngỏ
Bước chăn còn qua đây?

                              Thơ Thơ 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Chiều Thu Với Kỷ Niệm


 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
Tóc phủ vai gầy ru ngủ mùa Thu
Nghe tiếng mưa rơi qua cõi sa mù
Khi gió thu về bâng khuâng mắt nhỏ
Lạc bước xa ngàn bóng dáng thiên thu
 
Khúc nhạc mùa thu tâm thức mơ màng
Ngày về kỷ niệm thánh thót mênh mang
Tìm đến dư âm ngọc ngà xưa cũ
Trong tiếng cung đàn như muốn vỡ tan
 
Tiếc nhớ xa xăm những kỷ niệm hồng
Buổi chiều gió lạnh thả tóc mênh mông
Nghe nắng úa vàng chiều ơi buông thấp
Ngày đã muộn màng rơi trong hư không 
 
Thả mắt nhẹ nhàng chiếu ru tiếng hát
Ướt đẫm sương mờ gió cuốn lao xao
Nỗi nhớ xanh xao lạc loài tóc cỏ
Bóng tối vây quanh tiếng nấc nghẹn ngào
 
Ôi kỷ niệm sao lạ lùng bỡ ngỡ
Những chiều qua mình em đứng thẫn thờ
Chao chiếc lá cơn gió chiều úa rụng
Mùa thu buồn ru kỷ niệm thành thơ.
 
                                         THỤY NGUYỄN
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 57, ra ngày 24-9-1972) 
 

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Đi Học Đầu Thu

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
Thành phố chiều nay buồn chi lạ
Mưa rơi lướt thướt đỉnh sương mù
Lối nhỏ em về chân êm bước
Khăn cổ ấm choàng, mưa như ru

Mùa gió bay về không nắng ấm
Khung trời ảm đạm rét lê thê
Heo may lành lạnh đùa lá úa
Tà áo tung đùa tay vân vê

Phố nhỏ chiều thu nhiều gió lộng
Khẽ bước đến trường qua lối mưa
Cả trời thu đắm trong mây bụi
Niên học trở về như xa xưa

Tuổi ngày thơ dại còn ngơ ngẩn
Tóc vẫn chưa dài tuổi mười lăm
Thật thà đôi mắt ươm đầy mộng
Như lá xanh hoài theo tháng năm

Buồn nhất những ngày thu chết lịm
Chim thôi rúc rích mãi cành khô
Áo lụa đường về bay lơi lả
Lá úa rủ gầy reo lao xao

Tuổi nào em đong đầy nuối tiếc
Tóc mây nơ thắt dại ngày xanh
Xin giữ cho em ngày tháng lạ
Để hồn kết mộng, chuỗi tinh anh.

                           TRỊNH CÔNG TRUYỀN

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 98, ra ngày 15-7-1973)



Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Bé Mi Học Giỏi


 
 
 
 
 
  
 
 
 
Vừa đi học về
Chòe đến, bé khoe:
"Coi này, sướng quá
"Hạng nhất đây nè"
 
Chòe reo: "Hoan hô!
"Học giỏi quá ta
"Thế còn tháng trước
"Xếp hạng mấy, bồ?"
 
Bé Mi mắc cỡ
"Nói đừng cười nha
"Toàn thứ băm mấy
"Trong những tháng qua".
 
Chòe bảo: "Ờ ờ  
"Bé đâu có dốt
"Mà sao hồi xưa
"Học hành lại dở?
 
"Có phải tại rằng
"Xưa hay dậy muộn
"Thường không kịp ăn
"Bánh, xôi buổi sáng.
 
"Nên cứ gói đi
"Rồi trong lúc học
"Thấy bụng đói ghê
"Chỉ mong giờ nghỉ.
 
"Cô giáo giảng cho
"Cũng không chăm chú
"Ngồi nghe lơ mơ
"Làm bài hóa dở!"
 
"Lại thức khuya hoài
"Giờ thèm ngũ gật
"Cô gọi trả bài
"Thế là lúng túng!"
 
Mắt bé tròn xoe:
"Ô, sao biết nhỉ
"Đúng vậy đó Chòe
"Bé ngày xưa thế!
 
Nhưng từ khi
"Từ ngày bé quen
"Ngủ sớm, dậy sớm 
"Học bài vui liền
"Không còn thấy chán".
 
Chòe cười: "Đúng rồi
"Cô bé Mi ơi
"Giờ cô ngoan giỏi
"Ai cũng khen thôi".
 
              TRẦN THỊ TUỆ MAI
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 129, ra ngày 15-9-1974)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>