Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

Con Công và Con Gà Trống

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trên cành cây con gà trống đậu,
Bỗng công bên bờ giậu nhìn sang
Vốn hay có tính khoe khoang
Thấy mình đẹp mã công càng làm kiêu

"Gà ơi! Mày trăm chiều nhem nhuốc,
Suốt đời mày chẳng được bằng tao.
Cơm ngon hải vị sơn hào
Áo quần gấm vóc mày sao được bằng

Tao trông mày thật thằng nhục nhã
Cứ quanh năm vất cả cần chuyên
Đêm ngày thức giấc không yên
Thế mà cũng chẳng có quyền bằng tao"

Gà nghe nói thấp cao mọi lẽ
Bèn xuống sân và khẽ phân rằng:
"Thôi đi đừng có khoe khoang
Chính thân mày mới là thằng kém tao

Đây chẳng thiết giường cao chăn gấm
Miễn cơm no áo ấm thì thôi
Chẳng ưa những thói biếng lười
Tận tâm công việc giúp người là hơn

Tuy rằng có sớm hôm vất vả
Nhưng mà tao rất hả trong lòng
Còn mày tuy đẹp bộ lông
Cả đời tuy được ăn không ngồi rồi.

Khi thất thế ắt thời mày chết
Lúc bấy giờ mày hết vênh vang
Mấy ai bì kịp phượng hoàng
Sa cơ cũng phải đâm quàng theo tao

Còn mày đã đáng là bao".

                             TRẦN HIẾU LIÊN
                           b/n: Nhất điểm Linh đài
                                     (Gò Công)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 16, ra ngày 28-11-1971)

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

Hai Mươi Sáu - Mười Một và Bạn Xa

 

 

 

 
 

 

 

 

 

Mùa đông về chưa em ngoan
Vườn ra những nụ hoa vàng tả tơi
Hôm qua một cánh chim trời
Giữ trên môi những nụ cười dễ thương

Em về có thấy trên đường
Hai hàng khuynh diệp mờ sương cuối mùa
Tháng mười một đã về chưa
Những hàng nến nhỏ ngẩn ngơ cúi đầu

Tan rồi một thuở mưa ngâu
Ngày mười sáu tuổi tìm đâu giữa đời
Em mười bảy tuổi có vui
Những dòng mưa nhỏ ngậm ngùi thu đông

                                             TÔN NỮ THU DUNG

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 214, ra ngày 1-12-1973)

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2020

Thận Trọng Trong Mọi Hành Động

 

 Các em thân mến,

Một độc giả có viết cho chúng tôi than phiền hôm nọ em đi chợ có mua một trái xoài cầm trên tay. Đến một hàng xoài khác thấy xoài có vẻ ngon, em chọn một trái và hỏi giá. Người bán nói giá cao. Em không mua và bỏ đi. Người bán gọi em lại bảo trả lại họ trái xoài mà em mua nơi khác. Em phân trần, họ không nghe, em đành đưa cho họ trái xoài của em, lại còn bị sỉ vả thậm tệ.

Ông Esope, một nhà hiền triết Hy Lạp hồi 6 thế kỷ trước Thiên chúa Giáng sinh có kể chuyện ngụ ngôn dưới đây:

Một người làm ruộng thấy lúa của mình chín ngoài đồng thường hay mất mát nên đặt bẫy bắt kẻ trộm lúa. Hôm nọ, anh ta bắt được một lượt Ngỗng, Hạc và con Cò con.

Con cò năn nỉ anh nông phu:

- Xin bác đừng giết lầm tôi tội nghiệp. Tôi đâu có ăn trộm lúa của bác. Tôi thấy Ngỗng và Hạc tổ chức lấy lúa của bác, tôi đến xem. Tôi không tán thành ý kiến và hành động không hay của họ. Bác xem tôi chỉ là một con cò con bé nhỏ, yếu đuối. Tôi rất hiếu thảo với cha mẹ tôi. Tôi cần phải sống để mò tôm, bắt ếch đem về nuôi cha mẹ già, và tôi phải đưa cha mẹ tôi đi dạo chơi một khi cha mẹ tôi buồn.

Người nông phu trả lời:

- Nhưng Cò bị bắt một lượt với bọn ăn trộm lúa kia. Vả lại, Cò cũng ăn lúa như họ. Chuyện quá rõ ràng như vậy làm sao tôi phân biệt người ngay kẻ gian mà tha cho Cò.

Ông Học Lạc là một nhà thơ trào phúng danh tiếng ở miền Nam hồi đầu thế kỷ này. Ông làm nghề hốt thuốc, trị bệnh. Một hôm, ông ngồi xem khách trú đánh bông vụ, một loại cờ bạc thông dụng ở miền Nam trước đây. Ngoài Bắc gọi đánh bông vụ là đánh thò lò. Ông bị bắt chung với khách trú, bị trói dẫn lên quan, và bị phạt y như người đánh bạc. Ông có làm bài thơ như sau:

Hóa An Nam, lứ Khách trú (1)
Trăng trói lăng xăng nhau một lũ
Ngoài mặt ngỡ ngàng là Bắc, Nam :
Trong tai (2) cắc cớ xui đoàn tụ
Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh (3)
Ông Bổn không thương người bảy phủ (4)
Phạt tạ xong rồi trở lại nhà
Hóa thời hốt thuốc, lứ bông vụ.

Các em thân mến,

Người xưa có khuyên chúng ta mỗi khi có dịp qua rẫy dưa, dù giày có sút đi chăng nữa chớ ngồi xuống mang lại, tránh cho người trồng dưa khỏi nghi mình hái trộm dưa họ.
 
Chiến quốc sách có nói: Người đi đêm tuy không là gian nhưng không thể cấm chó không cắn được.
 
Trong mọi hành động các em nên dè dặt, ý tứ để tránh cho người ta hiểu lầm mình. Xoài mua rồi nên yêu cầu người bán gói lại, nếu không, đến hàng xoài khác, các em nên nói cho họ biết trước trái xoài em cầm trên tay là của em vừa mua ở hàng bên cạnh. Đến nhà bạn, bạn vắng nhà, chớ bước vào. Chớ lân la đến những nơi bất hảo như cờ bạc, hút sách mà liên lụy. Chọn bạn tốt mà chơi, để tránh bị hiểu lầm. Chắc các em cũng đồng ý với lời nói của Mạnh Tử: Ai đã biết mạng người là quí không bao giờ đứng dưới tường cao.
 

Thân mến chào các em         
NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG   

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 112, ra ngày 19-10-1973)

________________
(1) Hóa là tôi, lứ là anh, tiếng Triều Châu.

(2) Tai nạn.

(3) Sĩ năm kinh là người học trò giỏi, thuộc cả sách Tứ Thư, Ngũ Kinh.

(4) Bảy phủ tức là bảy bang Hoa Kiều ở miền Nam là: Quảng Đông, Triều Châu, Huệ Châu, Hải Nam, Phúc Kiến, Tuyền Châu và Phước Châu.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020

Biết Cám Ơn

 

 Trong một ngày của mỗi người, có biết bao nhiêu là dịp để mà cám ơn. Từ sáng sớm, khi mới bừng tỉnh dậy, nghe bên tai ta ríu rít tiếng chim hót, tiếng nói ngọt ngào của mẹ hiền, tiếng thỏ thẻ của em bé, rồi đến khi ta mở mắt, kìa ánh sáng chan hòa, vạn vật bừng sáng, một ngày mới rực rỡ đang lên. Cán ơn Thượng đế cho ta tai, mắt để mà nghe, mà nhìn. Thế còn nếu ta không có tai, mắt? Thì em ơi! Hãy cám ơn Thượng đế rằng ta còn tay chân để mà cầm, mà đi, còn óc để suy nghĩ. Nhưng có người tàn tật hoàn toàn thì sao? Thì em đáng thương của chị! Hãy cám ơn Thượng đế rằng ta đang sống giữa loài người, mà loài người thì có rất nhiều tình cảm. Rồi gần em nhất, còn cha, mẹ, anh, chị, em của em thương yêu em. Ấy là nói quá đi thế chứ chị tin chắc rằng trong số các bông hồng của chị, có rất ít em kém may mắn đến thế. Như vậy thì các em có nhiều dịp, quá nhiều dịp để mà cám ơn. Buổi sáng em ăn điểm tâm, cám ơn người nấu cho các em đĩa xôi hay tô phở ; thay đồ đi học, cám ơn người thợ dệt may vải đẹp ; đi xe tới trường, cám ơn người nghĩ ra phương tiện di chuyển, người tài xế lái xe ; ngồi học, cám ơn người nghĩ ra chữ để ta có thể bước vào biết bao nhiêu thế giới nhờ sách vở, cám ơn thầy cô hết lòng dạy dỗ ta ; trưa về ăn cơm, cám ơn mẹ, hoặc chị, hoặc người giúp việc đã nấu nướng sẵn sàng. Các em ơi! Cám ơn tổ tiên đã gây dựng nếp nhà và cám ơn cha mẹ suốt đời tận tụy thương yêu các con.

Với một lòng thiết tha yêu thương các em gái, vì hạnh phúc của các em, chị xin các em hãy tập cám ơn. Bởi vì khi cám ơn ai, người đó sẽ vui và sung sướng, đó là em làm một việc tốt. Ngoài ra, chính em, em cũng sung sướng nữa có phải không em? Cái sự biết rằng người ta giúp đỡ mình, người ta thương mến mình đó, nó làm cho chính mình ấm lòng lắm phải không các em. Người nào trên đời này cũng đều phải liên hệ đến người khác chứ không thể sống lẻ loi một mình được, vậy thì, các bông hồng của chị, chúng ta hãy cám ơn Thượng Đế đã cho con người cái sự biết cám ơn đi. Nếu có một người nào mà suốt đời không hề biết cám ơn là gì thì thật là đáng thương cho người ấy phải không các em? Vì họ phải sống buồn chán, khô khan trong sự bất mãn, cô đơn, không cảm thông với người khác được. Còn người nào luôn luôn nhìn thấy lòng tốt của người khác để mà cám ơn, chính là đã được Thượng đế thưởng cho họ có nhiều nguồn vui đấy phải không các em.

Bây giờ chị xin các em dành cho chị mỗi buổi tối 5 phút, các em ghi tất cả những việc tốt của tất cả mọi người em gặp trong ngày đã làm cho em, mà em đã có cám ơn rồi hoặc em quên, em sẽ ngạc nhiên mà thấy rằng sao quanh mình có nhiều người tốt đến thế, và sao mà mình lại may mắn được hưởng nhiều hạnh phúc đến thế.

Em ơi! Bài đã dài, chị xin ngừng, và cùng với chị, chúng ta cùng cám ơn người nghĩ ra chữ để chị em ta có thể truyền thông tư tưởng đến cho nhau, các em chịu không nào?


Chị Đỗ Phương Khanh     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 4, ra ngày 4-9-1971)
 

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2020

Lũng Hồng

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Còn chút nồng hương trên tháp me
Nắng vương cây cỏ lối em về
Chim cũng lao xao ngời giọng hót
Ơi! Một đời ngọt tuổi pha lê

Áo em vàng dịu mát mây trời
Cung nhạc nào trổi thật chơi vơi
Với tay hôn lá vừa tầm mắt
Vu vơ nên mắt biếc xanh ngời

Đường em về hoa bướm thênh thang
Sách vở trên tay nắm rất ngoan
Em cười cho tuổi thêm hoa bướm
Vùng thiên đàng vui tiệc liên hoan

Ghép lá trong tay dầu thẹn thò
Như tuổi em còn ngọt ấu thơ
Gió sớm hôn cành xanh một thuở
Cười đi em kẻo tiếc vô bờ
 
Lặng thinh nghe mơ ước thật gần
Và chừng như không biết bâng khuâng
Tóc em dài che mây lối đó
Nên phiền ưu cũng rất âm thầm

Buổi sáng em ngoan bước đến trường
Hoa cỏ còn vùi trong hơi sương
Thu gầy ôm tóc dài qua ngõ
Guốc gỗ âm vang chuyện bình thường.

                                                     VỊ THA
                                                (nhóm Tình Biển)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 189, ra ngày 15-11-1972)
 

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Lều Chõng

 

Đêm ấy không có trăng.

Phố phường Hà Nội đã theo cảnh tượng trời đất biến thành một khối đen sì.

Vũ trụ thu lại vùng ánh sáng của mấy cây đình liệu.

Gió bấc ào ào thổi.

Chín mười ngọn lửa lớn bằng chín, mười cái bịch hết thẩy điên cuồng lồng phách như muốn lia những bó đuốc nứa nhẩy vọt lên từng mịt mù.

Quang cảnh trường thi hôm nay rộn ràng hơn mấy hôm trước.

Dưới lớp mái ngói của nhà Thập đạo, mũ áo thoáng hiện trước bóng đèn lồng.

Trong mấy gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời, trống cái đi đôi với thanh la, chốc chốc lại đưa ra những tiếng oai nghiêm trịnh trọng.

Ngoài dãy phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín lấy khu nền tường, đội lính trú phòng rầm rập theo vó ngựa của quan Giám Trường đề-điệu diễn từ mặt nọ đến mặt kia. Tiếng nhong nhong của nhạc ngựa hòa với tiếng dình dình của trống quân, càng giúp cho cuộc tuần phòng thêm vẻ cẩn mật.

Trên nếp cổng tiền, một bức hoành biển nghiêng mình nằm ghếch đầu trên đôi đồng trụ, chiều dài thườn thượt không kém một chiếc thuyền thoi. Sóng biển phủ lên một bức diềm nhiễu điều, chính giữa kết thành một bông hoa sen to bằng cái mâm, hai đầu thì hai trái găng lớn như cái thúng lủng lẳng đu ở cạnh cột. Lòng biển, bốn chữ "Tân hưng thịnh điển" song song đứng ngang một hàng, nét vàng lóng lánh trong nền sơn son như muốn cười với ánh lửa của trời tối.

Từ mật tiền qua phía tả đến mặt hậu, cũng như từ mặt hậu qua phía hữu đến mặt tiền, bốn cửa của bốn vi giáp, ất, tả, hữu đều ngỏ thênh thang.

Những cái khung bảng chứa hàng mấy nghìn tên người đều ngoảnh bộ mặt "dán giấy" ra đường, như đương ngóng các thầy sĩ tử.

Mấy chiếc ghế tréo cao chín mười bậc cùng doãi bốn chân và đứng ngất ngưởng ở ngoài các cửa như đương đợi các ông khảo quan.

Trước hai cửa của hai vi tả hữu, cũng như trước hai cửa của hai vi giáp ất, toán lính thể soát đo nhau đứng chực ngoài cửa với những dáng bộ rất nghiêm trang. Tấm áo nẹp xanh thân đỏ ngọn gàng nấp dưới chiếc nón dấu sơn quang dầu. Những sợi dây tòng của chiếc tay thước khảm chai, bông bênh rũ xuống miếng ban kiên sặc sỡ.

Khoảng đầu canh ba, tiếng ồn ào bắt đầu nổi ở nẻo xa xa. Rồi nó dần dần gần lại. Rồi nó dần dần rõ thêm. Rồi nó dần dần đưa đến những đám đèn đuốc lập lòe như đám ma trơi. Học trò các nơi tấp nập kéo đến cửa trường.

Gió bấc thổi càng dữ.

Những cây đình liệu cháy càng nỏ.

Trên miếng đất giá lạnh của trời đông, bóng người chật như đám hội.

Có người tóc đã bạc phơ. Cũng có người hồng mao còn ngất nghểu trong vành khăn nhiễu. Có người không giấu sự nghèo túng, thân hình gầy guộc so sởi trong mảnh áo đơn. Cũng có người như muốn khoe vẻ phong lưu, quanh mình quấn mấy lần áo bông sù sù, hai hàm răng còn run cầm cập. Có người hai vai nặng chĩu khuỷu tay còn đủ sức thích bên kia gạt bên nọ, len từ ngoài tít vào trong cùng. Cũng có người cất cổ không lên, lều chiếu đều bị lôi sểnh sệch ở mặt đất. Vênh cái mặt dương dương tự đắc, đó là người mới thi lần đầu. Vẻ lo ngại hiện đầy trên bộ trán răn reo, ấy là kẻ lao đao trường ốc.

Còn nữa. Và còn nhiều nữa. Tả không thể hết.

Đêm càng khuya, học trò kéo ra càng nhiều. Ai vào vi nào, lật đật tìm đến cửa vi ấy. Dưới hàng vạn nón chóp lố nhố đứng ở bốn cửa, hàng vạn con người cùng một lối trang sức như nhau: sườn này: cái chõng tre và bộ gọng lều; sườn kia: thì bó áo tơi và cuộn áo lều, hoặc một đôi chiếu cói; trên ngực, quả bầu be và chiếc ống quyển; dưới bụng thì cái yên mộc hay cái tráp sơn. Bấy nhiêu đồ vật, nặng có, nhẹ có, lớn có, bé có, dài có, ngắn có, hết thẩy xúm lại và đu cả lên cái cổ yếu ớt của các ông thư sinh. Hình như trời cũng bắt tội nhà Nho, trước khi bước lên đường công danh, đều phải tập làm việc của bọn phụ trạo.

Kẻ chen vào người đẩy ra, kẻ du đi, người ẩn lại dưới ánh lửa sáng, đám người dồn dập bị xô đẩy cồn cộn như lớp sóng nước triều. Tiếng gọi nhau, tiếng hỏi nhau, tiếng chào nhau, tiếng mắng nhau, tiếng cãi nhau, tiếng rầm rầm nói chuyện với nhau. Các thứ tiếng ấy hợp lại, làm cho bốn khu cửa trường, ầm ầm như bốn cái chợ.

Sang đầu canh tư, các cây đình liệu đều cháy hết già một nửa. Tàn nứa đỏ ối theo ngọn gió bấc tản mác bay khắp vùng trời. Rồi từ từ, nó rơi xuống đám đầu người, xuống quãng đất không, xuống những nơi ở tít xa xa, nếu nó không bị tắt ở trong bóng tối.

Thình lình trong nhà Thập đạo, kiểng đồng gióng với trống khẩu, dõng dạc đánh luôn ba hồi. Các bóng đèn lồng nhất tề lay động. Các áo thụng lam, các mũ cánh chuồn đồng thời rộn rịp như sân khấu rạp tuồng. Sau khi bốn ông ngự sử đã đem chức trách đàn-hặc lên bốn chòi canh, các ông khảo quan tức thì cắt nhau mỗi người đi mỗi ngả. Cũng như mọi khoa, hai ông Phân khảo phải coi hai cửa tả hữu, ông Phó chủ khảo được theo chiếc biển "phụng chỉ" ra cửa vi ất. Còn cửa vi giáp thuộc quyền ông Chánh chủ khảo và lá cờ "khâm sai" của nhà vua ban.

Dứt mấy tiếng yết hậu của trống khẩu và kiểng đồng, hai hàng đèn lồng bắt đầu ở nhà Thập đạo từ từ tiến ra. Rồi đến một đôi lọng vàng cung kính rước lá cờ khâm sai đi trước. Rồi đến ông Chánh chủ khảo và bốn chiếc lọng xanh khúm núm theo sau.

Bộ dạng quan Chánh chủ khảo mới oai làm sao! Cái bối tử hình con công, cái vành đai đột chỉ vàng, cái gấu áo thêu thủy ba. cái xiêm xanh viền chân chỉ hạt bột, và đôi ủng đen có đôi bướm bạc long lanh, bấy nhiêu thứ đó hợp lại với cây hốt ngà cầm ở trước ngực và chiếc mũ gấm xòe hai cánh ra ngoài hai tai, đủ làm cho ngài giống hệt những quan phường chèo nếu ngài có bộ râu dài như họ. 

 Đám rước ra đến cửa vi, người lính cầm cờ khâm sai lễ phép leo lên chiếc ghế tréo và cắm cán cờ vào cái lỗ thủng sau ghế. Quan Chánh chủ khảo tạm giữ cây hốt bằng một tay trái để lấy tay phải vịn vào chân ghế tréo. Dón dén bước qua các bực, và trèo lên ghế, ngài sẽ vén cái vạt sau của tấm phẩm phục, rồi ngồi vào giữa mặt ghế. Cây hốt lại được trở lại phía trước mặt ngài với sự nâng niu của hai bàn tay súng sính trong đôi tay áo rộng như cái cống. Cả sáu chiếc lọng lần lượt nhô lên trên ghế. Những cái xanh che quan chủ khảo. Còn những cái vàng thì che lá cờ khâm sai.

Tiếng ồn ào ở khu cửa trường tự nhiên im bặt. Mấy nghìn con mắt đều đổ dồn vào viên đại thần đứng đầu khảo quan.

Thình lình ở trên lưng trời có tiếng ấm óe:

"Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập? Sĩ tử thứ thứ nhập!" 

Hồi loa dữ dội như muốn phá tan cái bầu tịch mịch, làm cho mọi người đều phải ngơ ngác. Dứt tiếng gầm hét, người lính đứng cạnh ghế tréo của ông chủ khảo , theo miệng một người lại phòng cũng đứng chỗ đó với một cuốn sổ trong tay chìa loa gọi tên một người học trò.

Một tiếng dạ bựt lên trong đám đông.

Một chàng thiếu mến, với cái dáng bộ liều chết, cố lách được qua " vòng vây", để đệ các đồ kềnh càng đến khu đất trước ghế tréo của quan chủ khảo.

Toán lính thể sát bắt đầu làm việc.

Họ giở bó áo tơi và cuốn áo lều. Họ nhòm những cái "cái chõng", chân chõng. Họ ghé vào ống đựng quyển và quả bầu be đựng nước. Họ lần dải lưng và vuốt các gấu áo, gấu quần của chàng thiếu niên. Họ cởi tung cả bộ gọng lều. Rồi họ lục soát đến cái tráp sơn của chàng ấy đeo ở trước rốn.

Ngoài một hộp mực, vài cái bút, vài cây sáp, một cái dùi vở, một tập giấy bản và mấy cái bánh giầy, mấy cái bánh giò, một nắm cơm, vài miếng trả trâu, vài miếng thịt rang, trong tráp không có vật gì khả nghi.

Chàng thiếu niên được phép lĩnh quyển của người lại phòng, cẩn thận cuốn lại, bỏ vào chiếc ống quyển đeo ở trước ngực, rồi tung tăng đi vào trong trường với các đồ đạc xúc xích bám quanh vai, quanh cổ. 

Đến lượt người khác theo tiếng loa gọi tiếng vào.

Bọn lính thể sát lại xúm nhau lại làm các công việc như trước.

Người này cũng không có sách thạch bản hay là văn cũ chữ "kiến" chi hết, nhưng mà các đồ lặt vặt thì không đựng bằng tráp mà đựng bằng yên. Trong cái yên, cũng có giấy, mực, dùi, bút, thịt, trả, cơm, bánh như chàng thiếu niên vừa rồi, và còn hơn một bộ đồ hút thuốc phiện.

Bọn lính thể sát bĩu môi:

- Vào thi vẫn còn đèo bòng cái của tội này, thì lúc nào hút, lúc nào làm văn?

Người ấy ngáp một cái dài và trả lời:

- Có hút, văn mới hay! Nếu không hút thì sao ra văn?

Rồi hắn đón lấy quyển của người lại phòng và lểu đểu đi vào trong trường.

Tên lính cầm loa lại gọi đến tên người khác.

Khám trong lều chõng của người này cũng không thấy thứ gì gian lận, nhưng trong cái yên lại có một chiếc dầm đào cỏ. Bọn lính thể sát ngạc nhiên và hỏi:

- Sao lại đem cái này vào trường?

Người ấy khẽ đáp:

- Thưa cậu tôi mắc bệnh đi kiết.

Bọn lính không hiểu lại hỏi:

- Đi kiết thì dùng cái đó làm gì?

Người ấy ngập ngừng:

- Thưa cậu, để khi làm văn, lỡ ra bị mót đại tiện, thì đào nền lều mà tương nó xuống, rồi lại vùi đi. Chứ làm thế nào? Trong trường, chỗ nào cũng có lều của học trò, "đi" vào đâu được?

Bọn lính thể sát đã hiểu công dụng của cái dầm, họ liền cho phép người ấy vào trường sau khi hắn đã nhận quyển thi bỏ vào ống quyển.

Người lính cầm loa lại bắc loa gọi:

- Đào Vân Hạc, Sơn Tây, Đào Nguyên!

Vân Hạc đứng ở ngoài xa, tuy có nghe thấy tên mình, nhưng không thể nào mà vào được.

Người lính cầm loa gọi đến ba lần, vẫn không thấy có người thưa, hắn bèn đặt quyển thi của Đào Vân Hạc xuống cạnh chiếc ghế của quan chủ khảo, rồi gọi đến người tiếp theo.

Một người coi bộ rất khỏe, dạ một tiếng lớn, rồi cố xô đẩy những người chung quanh, hùng dũng đeo lều chiếu vào tận cửa trường.

Bọn lính thể sát xúm lại lục đồ đạc.

Các vật cần dùng của người này, không khác của mấy người trước. Riêng có thứ đồ đựng nước, không phải là quả bầu be, mà là một cái lọ sành rộng miệng. Ngạc nhiên, một người trong bọn liền thò cái que khoắng vào trong lọ, tức thì ở dưới trôn lọ, có vật tròn tròn bềnh lên mặt nước. Cái gì thế nhỉ? người lính đó nghiêng cái miệng lọ và móc lấy vật ấy ra. Té ra một mớ giấy bản viết chữ nhỏ như con kiến, người ta vo lại và trát sáp ong ở ngoài cho khỏi thấm nước.

Của phi pháp liền bị tịch thu. Và cái tội "mang sách vào trường" liền tống ông học trò ấy ra khỏi cuộc thi cử.

Tên người khác được nhắc đến trong miệng loa. Và, sau một tiếng dạ gọn gàng, một người đứng tuổi tiến đến trước mặt bọn lính thể sát với một dáng bộ lo sợ. Thấy người này có vẻ đáng ngờ, bọn lính thể sát càng lục kỹ các thứ đồ đạc. Nhưng không bắt được cái gì gian lận, họ đã toan tính cho đi. Thình lình một người trong bọn họ trông thấy phía trong một cái "cái chõng" có một miếng vá, hắn bèn dùng con dao nhọn cậy tung miếng vá ấy ra. Thì ra trong đó có để hai cuốn "Hành văn bảo kíp" - thứ sách thạch bản, chữ in nhỏ bằng hột cám- Cũng như cái ông vừa rồi, người ấy liền bị trói lại để giải ra dinh Tổng đốc với tất cả đồ vật của mình.

Người lại phòng, người lính cầm loa và bọn lính kiểm soát lại cứ tiếp tục ai làm việc nấy như thường.

Chừng nửa canh năm, sương mù tỏa khắp bầu trời, ngọn lừa ở các cây đình liệu đã lui xuống gần mặt đất. Ánh sáng đã hiện ra sắc úa vàng.

Đám người và đám lều chõng ở ngoài đã chuyển hết ba phần tư vào trường, khu đất của trường chỉ còn lơ thơ vài trăm học trò. Tiếng ồn ào dần dần nhỏ bớt.

Mặt trời mọc. Các cây đình liệu cũng vừa cháy hết. Vũ trụ đã khôi phục cảnh tượng xinh đẹp và mông mênh của ban ngày.

Mấy nghìn học trò cửa vi giáp đã được vào trường gần hết. Bấy giờ người ta mới lại gọi đến những người lúc nãy đã gọi một lần mà chưa thấy vào.

Quyển của Vân Hạc bị đặt ở dưới cuối cùng, cho nên tên chàng phải gọi sau rốt.

Sau khi chàng vào khỏi cửa, cánh cửa vi giáp liền bị khóa lại. Quan trường và tất cả các người tùy phái đều theo cửa chính vào nhà Thập đạo. 

Lúc ấy tất cả học trò vi giáp đóng lều đã xong. Những chỗ gần nhà Thập đạo đã bị những người vào trước chiếm hết. Chàng toan đem lều ra đóng ở phía ngoài cùng. Nhưng khổ quá, cái khu đất ấy, lúc nãy còn là một cõi biên thùy bỏ hoang, các ông vào trước đem bã văn chương tuôn cả ra đó, mùi thối theo ngọn gió đưa ra ngạt ngào, không thể nào mà chịu cho nổi. Chàng lại lếch thếch vác lều và chõng đi lùng khắp các miếng đất ở phía trong.

Trong một cái lều ở gần vi hữu bỗng có tiếng gọi:

- Đào Vân Hạc! Anh tìm ai mà lật đật thế?

Nghe rõ tiếng Nguyễn Khắc Mẫn, chàng đáp:

- Tôi đi kiếm một chỗ đóng lều, chứ không tìm ai!

Khắc Mẫn nói lớn:

- Đến đây! Chỗ này còn rộng! Mau lên!

Vân Hạc mừng quá, chàng vội đeo các đồ đạc lại chỗ gần lều Khắc Mẫn. Nhanh nhẩu, Khắc Mẫn đỡ bộ lều chõng trên vai Vân Hạc xuống đất. Cởi hết mấy nuộc dây chằng, thầy lấy sáu chiếc gọng lều cắm làm hai hàng, để cho Vân Hạc vít những đầu gọng sâu vào các ống ròng rọc. Rồi một người trải cái áo lều lợp lên, một người đem đôi áo tơi che kín hai đầu. Bốn phía góc lều đã được Khắc Mẫn đóng bốn cái cọc nho nhỏ và neo bốn chiếc gọng lều vào đó, cho khi có gió, lều khỏi lay chuyển. Vân Hạc liền đem cái chõng kê vào trong lều, rồi chàng sang lều Khắc Mẫn, giở bộ đá lửa, đánh lửa hút thuốc.

Chiếc lều bên cạnh, bỗng thấy có khói bốc nghi ngút. Vân Hạc tưởng là bị cháy, vội chạy ra coi. Nhưng không phải. Người ta đốt vàng. Ông chủ lều ấy sợ có oan hồn theo vào trường thi báo oán, nên phải dùng thứ lễ ấy tiễn họ. Chàng mỉm cười và quay vào lều của mình.

Một hồi trống cái từ trên chòi canh giật giọng đưa xuống. Trong vi tức thì hiện ra cảnh tượng nhốn nháo. Khắc Mẫn nói với sang lều Vân Hạc:

- Có phải trống "ra đầu bài" đó không?

Vân Hạc gật đầu:

- Chớ còn trống gì bây giờ?

Rồi chàng mở tráp lấy bút vạ hộp mực đem đến cái nhà lợp cót ở gần với nhà Thập đạo.

Hai chiếc lọng xanh và đôi mã tấu sáng quắc vừa rước quan Giám trường đề-điệu ở nhà Thập đạo đi xuống. Như hai dòng nước chảy sau chiếc thuyền chạy mạnh, đám học trò đương đứng lật đật rẽ sang hai bên để cho mặt đất hở ra một con đường rộng. Bằng dáng điệu hùng dũng, ông đề-điệu đi thắng đến trước cái nhà lợp cót trao tờ giấy yết đầu bài cho người lại phòng dán lên khung bảng, rồi ngài dõng dạc quay ra và lại lên nhà Thập đạo để đi coi sóc việc trường.

Hàng nghìn học trò trong vi nhất tề xúm lại trước bảng, kẻ đọc người viết.

Khoa này mới đổi phép thi, kỳ đệ nhất thi bằng kinh nghĩa. Hai bài truyện là:

Luận ngữ: Tắc hà dĩ tai?

Mạnh Tử: Vị thiên hạ đắc nhân.

Năm bài kinh thi:

Kinh dịch: Bạt mao dĩ kỳ vựng chính cát.

Kinh thư: Dụng nhữ tác châu tiếp.

Kinh thi: Nam sơn hữu đài.

Kinh lễ: Tuyển hiền dữ năng.

Kinh Xuân thu: Cập Tề nhân minh vu U.

Vân Hạc không chép, chàng chỉ nhẩm qua một lượt rồi trở về lều. Học trò ở trước nhà bảng dần dần tản mác, ai nấy trở lại, chỗ ở của mình với cái dáng bộ lo ngại nhiều hơn vui vẻ.

 
NGÔ TẤT TỐ           
(trích trong Lều Chõng)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 109, ra ngày 28-9-1973)
 

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2020

Phân Bày



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
nếu đôi lần thầy vô tình gắt gỏng
trong giờ chơi hay những lúc giảng bài
em đừng hỏi tại sao thầy quá nóng
vì tánh thầy nông nổi tự xưa nay

nếu đôi lần thầy mắng em ngu dốt
tự thâm tâm thầy chua xót vô cùng
bởi lúc nhỏ thầy đã từng thất học
nên bây giờ thầy chỉ biết bao dung

nếu đôi lần thầy đánh đau em khóc
lệ thơ ngây trào khóe mắt dại khờ
là lúc đó thầy giấu từng tiếng nấc
mặc niệm thời thơ ấu chửa âu lo

nếu đôi lần thầy gọi em trên bảng
tay run run cầm viên phấn đứng im
em phân vân chưa biết trừ hay cộng
thầy đáp dùm trừ tất cả đó em!

nếu đôi lần em thấy thầy áo rách
phơi thịt da đen đúa kiếp nhục nhằn
em đừng vội chê cười hay oán trách
thầy quá nghèo manh chẳng đủ che thân

nếu đôi lần em thấy thầy vui vẻ
cười đùa như thuở còn trẻ lên mười
em đừng hỏi tại sao thầy như thế
tuổi thầy già nay đã chẵn hai mươi
nên thầy muốn quên đi từng mụn ghẻ
mọc trong hồn chai thành sẹo em ơi!
 
nếu đôi lần em thấy thầy nhầm lẫn
con toán trừ hay toán cộng toán nhơn
bởi cuộc đời thầy quá nhiều cay đắng
lớn khôn rồi nên không muốn thiệt, hơn!

nếu đôi lần em thấy thầy bỏ dở
từng niềm vui trên môi nở đau buồn
bởi lúc nhỏ không có người bợ đỡ
nên lớn lên thầy chẳng được ai thương!

nếu đôi lần thầy bỗng dưng câm nín
nhìn chung quanh rồi cúi xuống một mình
tay ôm mặt che tủi hờn thầm kín
mím môi dìm chua xót tận tâm linh...

nếu sau này bọn chúng mình từ giã
xin các em tha tất cả cho thầy
những lỗi lầm chưa một lần nghiệt ngã
để cho thầy khỏi phải khóc hôm nay!

                                           Ngọc Thùy Giang
                                                   (nhóm hoa rừng)

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 82, ra ngày 1-12-1967)

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

Nghiệp Giáo


 Ông Thanh nâng tách nước uống một ngụm nhỏ, đoạn tiếp lời:

- Nghề giáo của anh là một nghề khổ nhọc, bạc bẽo nhất. Làm thầy giáo mệt trí óc, sức khỏe hao tổn nhiều, đôi khi còn bị học trò oán ghét nữa. Đã vậy gặp nhằm ông hiệu trưởng khó tánh, thầy giáo lại phải khổ tâm và nghe lắm lời chê trách rầy rà... Anh có công nhận như thế không?

Thầy Ngọc ngồi đối diện với ông Thanh, nhìn tách nước trà bốc khói, cười đáp:

- Vâng, khổ nhọc thì có, nhưng bạc bẽo, thật tình tôi chưa thấy. Học trò của tôi rất ngoan. Ông hiệu trưởng trường tôi đối đãi với mọi người rất tử tế, anh ạ.

Lặng thinh một lúc, ông Thanh nói:

- Có lẽ anh mới vào nghề nên chưa phải bất mãn vì những điều rất thường trong giáo giới mà chúng tôi vừa kể đó.

Quả vậy, thầy Ngọc chỉ mới đi dạy học được một năm thôi. Trong một năm ấy, thầy đã hết lòng tận tụy với nghề. Bằng cách dạy thực tế, giảng giải rõ ràng, học sinh của thầy tiến bộ rất chóng. Thầy dễ dãi, vui vẻ, nhưng đối với những học trò lười, thầy cũng rất nghiêm khắc, không ngại dùng roi vọt để buộc chúng chăm chỉ học hành. Thầy Ngọc đã thành công. Cuối năm, tất cả học trò của thầy đều được lên lớp. Thầy thấy thỏa mãn, hăng hái hơn. Bây giờ tuy đang lúc nghỉ hè, song thầy cũng đã soạn sẵn một chương trình dạy mới mẻ để áp dụng cho niên khóa tới.

Thấy thầy Ngọc mỉm cười hoài nghi trước lời nói của mình, ông Thanh lại bảo:

- Nhưng dù không gặp sự buồn phiền, nghề giáo của anh chắc hẳn cũng không hơn được một chân quản lý công việc nhẹ nhàng, lương lại rất hậu. Anh nghĩ lại xem.

- Vâng. Tôi sẽ suy nghĩ kỹ và trả lời anh sau.

- Tôi rất mong anh nhận lời.

Ông Thanh đứng lên và nói:

- Thôi, đã khá trưa, tôi xin về anh nhé!

Thầy Ngọc tiễn bạn ra cửa. Như còn luyến tiếc câu chuyện, ông Thanh tiếp:

- Tôi nhắc lại anh rõ, làm quản lý khỏe lắm anh ạ. Hơn nữa anh lại giúp cho tôi, một người bạn thiết thì đừng lo chi cả.

Thầy Ngọc hỏi:

- Nhưng xưởng anh chừng nào hoạt động?

- Sẽ bắt đầu vào một ngày rất gần. Bởi thế hôm nay tôi mới tìm đến anh đấy chứ!

- Sao anh không kiếm người khác, lại cố giao công việc quan trọng ấy cho tôi?

- À, thú thật với anh, vì tôi muốn tìm một người tin cẩn. Mà người tin cẩn của tôi không ai ngoài anh.

Thầy Ngọc tươi cười:

- Cám ơn anh quá! Nhưng tôi nào có xứng đáng gì!

- Anh lại khách sáo! Thôi tôi về luôn đa. Nhớ suy nghĩ kỹ nghe!

- Vâng! Chào anh.

*

Trên đường từ tiệm hớt tóc về nhà, thầy Ngọc vừa thong thả bước đi, vừa vui vẻ ngắm phố.

Vẫn như mọi hôm, chiều nay đường phố tấp nập những người. Những cánh áo dài tha thướt đủ mầu sắc hiện ra tô điểm cho phố phường nét tươi trẻ ấm cúng. Tiếng xe cộ, tiếng cười nói vang vang, khuấy động cả bầu không khí đáng lẽ phải êm ả u buồn vì nắng nhạt. Người ta tìm đến các công viên, tiến về phía rạp hát, hoặc đi thơ thẩn phố này qua phố khác. Sau một ngày làm việc, hình như ai cũng muốn kiếm lấy một thú vui nho nhỏ để lãng quên bao nhiêu mệt nhọc lo âu.

Thầy Ngọc đang đi chầm chậm lơ đãng ngắm cảnh vật, bỗng chăm chú nhìn về đằng trước:

- Đứa nào như thằng Nam nhỉ?

Trước mắt thầy, hai đứa bé tung tăng dắt tay nhau đi tới. Chúng đi cùng vệ đường với thầy nên thầy thấy rõ đứa bên phải rất quen mặt:

- Đúng là thằng Nam!

Thầy Ngọc không quên Nam, vì nó là đứa học trò kém nhất trong lớp thầy, và cũng vì thầy đã từng hết lòng ra công chỉ dạy nó.

Nam là con nhà nghèo. Thầy Ngọc không biết cha nó làm nghề chi. Mẹ nó thì mỗi sáng vẫn thấy ngồi bán cơm tấm cho học sinh trước cổng trường. Món ăn này rẻ tiền lại no bụng nên rất đắt khách. Nhiều khi Nam phải bán phụ với mẹ một lúc rồi mới vào học. Có một hôm chưa đến giờ học, thầy Ngọc đang ngồi trong lớp soạn sổ sách, bỗng nghe đám học sinh chơi đùa ngoài sân đồng vỗ tay rôm rốp, reo cười vang rân:

- À, thằng Nam có râu, thằng Nam có râu...

- Râu cá chốt đó!

- Chắc nó "ung vặn" tụi bây ơi!

- Lêu lêu mắc cỡ.

Ngạc nhiên, thầy Ngọc bước ra ngoài xem việc gì. Thầy thấy thằng Nam đang đứng giữa các bạn nó, mặt mày ngơ ngác một cách đáng thương. Thầy bật cười, gọi nó lại:

- Mặt em dính lọ đấy, chùi đi.

Và quay sang các học sinh khác, bảo:

- Vết lọ ấy chứng tỏ Nam vừa giúp mẹ bán hàng. Đó là một điều tốt đáng khen. Sao các em lại chế nhạo? Đừng làm thế nữa nhé!

Nam giúp đỡ mẹ như vậy cũng khá. Nhưng về việc học, nó lại lười biếng quá! Thầy Ngọc nhớ lại lúc ban đầu thấy Nam không biết chuyên cần học tập, thầy rầy mắng luôn. Nhưng nó vẫn không đổi tánh. Khác với phần đông đồng nghiệp chỉ chú ý đến học trò giỏi, thầy Ngọc chẳng hề chán nản trước điều đó. Thầy quyết làm cho nó phải nghe lời mình mới thôi. Thầy quay qua hỏi các bạn của Nam, để biết nhà nó hầu tìm đến báo cho cha mẹ nó hay đặng răn dạy con mình.

Và một buổi chiều, thầy Ngọc đã đến tận nhà Nam. Đấy là một mái lá lụp xụp, nằm chen giữa một xóm nghèo. Buổi ấy Nam đi vắng. Thầy Ngọc chỉ gặp bà mẹ và đàn em của nó. Hỏi ra, thầy được biết cha Nam đã qua đời từ lâu. Nghe thầy nói rõ về sự học của Nam, mẹ nó hết sức buồn. Bà nói:

- Thật khổ! Lâu nay tôi vẫn hy vọng vào nó, ngờ đâu nó lại thế! Thầy giáo ơi, tôi biết làm sao bây giờ? Một mình tôi phải làm việc quần quật để nuôi anh em nó, có còn thì giờ đâu để mà trông nom, khuyên dạy?

Ngừng một chốc, như để nuốt mất bớt tủi cực, bà tiếp lời, giọng van lơn:

- Xin thầy giáo thương tình giúp tôi sửa đổi nó, tôi mang ơn thầy rất nhiều. Nếu nó cãi lời thầy cứ đánh nó cho tôi.

Thầy Ngọc không ngờ hoàn cảnh gia đình Nam lại đáng buồn như thế. Vậy mà nó chẳng biết lo nghĩ chứ! Thầy hứa sẽ theo lời mẹ Nam, và chào bà ra về.

Thế là từ hôm ấy, thầy Ngọc đổi cách dạy đối với Nam. Những lời thầy mắng suông được thay thế bằng roi vọt:

- Nam, con gì giống người nhứt?

- Thưa thầy con... con...

- Con gì? Nói mau!

- Dạ con nít ạ.

- Không phải đâu em. Con roi đấy! Lên đây, chịu năm roi về tội không học bài.

- Nam, toán tôi cho về nhà làm, sao em không làm?

- Thưa thầy... em bận đi ăn giỗ.

- Chà, ăn giỗ khoái lắm nhỉ? Nhưng chắc còn thiếu một món, phải không?

- Thưa món chi ạ?

- Mòn "bánh tét nhưn mây" ấy mà, em chẳng biết sao? Cúi xuống đi, tôi cho dùng thử.

Qua nhiều lần bị thầy phạt như thế, Nam bắt đầu e sợ. Nó cố chăm chỉ lại một tí. Song nếu thầy Ngọc không dùng đến roi, độ vài tuần, tánh lười biếng cố hữu lại đến với nó ngay. Thật là lạ! Nhưng dù sao, thầy Ngọc cũng thấy hài lòng đôi chút, vì như thế vẫn còn hơn lúc trước. Cuối năm, Nam được lên lớp như các bạn. Thầy Ngọc đoán chừng mẹ nó rất vui mừng...

Giờ đây gặp lại Nam, tự nhiên thầy thấy vui vui trong dạ. Nó cùng với thằng bạn đi tới kia. Khi gặp thầy, nó sẽ cúi chào, cười lỏn lẻn. Thầy sẽ vỗ vai nó, hỏi thăm sức khỏe mẹ nó, em nó, sau cùng là khuyên nó hãy cố học khi lên lớp trên. Phải, thầy sẽ nói nhiều với Nam những điều đó bằng một giọng dịu dàng thân ái. Thầy Ngọc nghĩ như vậy và bước nhanh tới trước.

Nhưng, lúc gần cậu học trò ấy, nụ cười vụt tắt ngay trên môi thầy Ngọc. Thầy sửng sốt đến lặng người. Thật không ngờ, Nam chỉ liếc nhìn thầy thật nhanh, rồi lập tức quay nơi khác, kéo bạn đi thẳng! Ngạc nhiên xong, thầy cảm thấy thẹn thùa, tự xấu hổ cho những ý nghĩ niềm nở ban nãy. Rồi thầy tức giận, mặt đỏ ửng lên như đang đi giữa trời trưa nắng. Thầy muốn chạy theo, vả vài cái tát vào mặt đứa học trò bất nghĩa. Nhưng sau cùng, thầy bảo thầm:

- Hay nó không thấy rõ mình chăng?

Và để khỏi nghi oan cho học trò, thầy Ngọc quay bước trở lại, đuổi theo hai thằng bé. Thầy định gọi Nam, xem cử chỉ nó đối với mình ra sao. Song khi đến gần nó thầy lại lặng thinh chú ý nghe thằng Nam nói với bạn:

- Ê, mầy có biết người vừa đi qua là ai không?

- Ai thế?

- Thầy tao đấy!

- Thầy mầy? Sao mầy không chào hỏi gì hết vậy?

- Chào quái gì? Tao ghét ông ta lắm!

- Sao vậy?

- Lúc học với ông ta hôm nào ông ta cũng gọi tao lên bảng, kiếm cớ đánh tao hoài. Mầy nghĩ coi có tức  không?

Nghe đến đây, thầy Ngọc đứng dừng lại, trong tâm hồn thầy, tựa hồ đang có một hiện tượng gì đột nhiên tan vỡ. Thầy cúi đầu, lầm lũi đi nhanh về nhà, như cố trốn tránh một hình ảnh đáng ghê sợ. Cảnh vật chung quanh vụt nhòa đi. Thầy không nghe gì, không thấy gì, trong lòng chỉ rối loạn những cảm nghĩ chua chát.

Thầy chợt nhớ đến lời ông Thanh, bạn thầy, nói hôm nào. Phải, nghề giáo là một nghề bạc bẽo nhứt! Lâu nay thầy không tin thế. Nhưng bây giờ thì không chối cãi chi được vì chính thầy vừa chạm trán với sự thực đau lòng ấy rồi. Đã biết thế, thầy còn lưu luyến nghề này làm gì? Thầy sẽ xin thôi dạy học để đi làm cho xưởng của ông Thanh như lời ông mời.

Nghĩ tới đó, thầy Ngọc buồn bã lắm. Nghề giáo là một nghề thầy hằng ưa thích. Thầy từng ước mơ được sống với nghề khi còn là học sinh. Ngày đó, thầy hay để tâm, đắp xây bao nhiêu dự định tốt đẹp cho nghề. Thế mà nay, vừa bước chân vào nghề, thầy lại đành bỏ dở sao?

Sau vài lần suýt đâm vào mấy người đi trên đường phố, thầy Ngọc về đến nhà. Vợ thầy vui vẻ nói:

- Nhà vừa có khách anh ạ.

Thầy Ngọc liền hỏi:

- Ai? Anh Thanh phải không?

- Không. Cậu Hoàng, học trò giỏi nhất của anh đấy mà.

- Nó kiếm tôi có chuyện gì?

- Cậu ấy bảo vừa đi nghỉ hè ở miền quê trở ra, nhớ thầy quá nên lại thăm. Cậu có gởi biếu anh hai trái xoài tượng thiệt to nữa!

- Tốt quá nhỉ!

Thầy Ngọc nói với giọng mỉa mai. Bỗng dưng, thầy thấy nghi ngờ tất cả học trò của mình.

Vợ thầy hơi ngạc nhiên:

- Hình như anh có điều gì phiền giận?

Thầy Ngọc gượng cười lắc đầu:

- Nào có gì đâu? À, anh Thanh sao lâu quá không thấy lại chơi nhỉ?

- Anh ấy bận việc chứ gì!

- Chắc vậy!

Thầy Ngọc lầm bẩm. Giá có ông Thanh lúc đó, có lẽ thầy sẽ bảo ngay:

- Tôi nhận, tôi sẽ làm việc cho xưởng anh.

*

Thầy Ngọc bước chân vào cổng trường. Nhìn cảnh rộn rịp của ngày nhập học, một niềm vui thích dâng lên trong lòng thầy giáo trẻ.

Sân trường im vắng sau mấy tháng hè, sáng nay lại bừng dậy đón chào học sinh đông đảo trở về vui vầy tụ họp. Những gương mặt trong sáng ngây thơ, những nụ cười xinh xắn, những tấm áo mới, những chiếc cặp mới hiển hiện lưu động khắp nơi. Muôn nét tinh anh như cùng góp lại cả trong này.

Thầy yêu mến khung cảnh ấy quá! Thầy mỉm cười, nhìn mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên cha mẹ, những cậu học trò cũ dắt tay nhau đi, hoặc chạy nhảy, cười nói huyên thuyên. Thầy cố nhìn cho tường tận, cố thâu nhận tất cả những nét linh hoạt đẹp đẽ đó, vì rồi mai đây, thầy không còn được sống hòa mình trong thế giới vui vẻ này nữa.

Sau đó, thầy Ngọc tiến về phía văn phòng. Ông Hiệu trưởng đang bận rộn với các phụ huynh học sinh, thấy thầy bước vào, ông vội nhờ thầy thư ký giải đáp hộ mấy câu hỏi của phụ huynh học sinh. Còn ông bước ra kéo thầy Ngọc cùng ngồi, rồi mở lời:

- Có lẽ thầy hỏi về việc lá đơn xin thôi dạy của thầy trao cho tôi hôm qua?

Và ông tiếp luôn:

- Tôi chưa vội chấp thuận, vì chẳng biết thầy đã nghĩ kỹ chưa mà muốn  như vậy?

Thầy Ngọc đáp:

- Thưa ông, tôi đã nghĩ kỹ rồi ạ.

- Nhưng sao thầy muốn thôi dạy? Hay tôi đã làm phiền thầy điều gì chăng?

Thầy Ngọc ngẫm nghĩ một lúc, rồi thuật chuyện thằng Nam cho ông hiệu trưởng nghe, đoạn nói:

- Vì nghĩ nghề giáo bạc bẽo như vậy, lại có người bạn mời đi làm việc cho một xưởng nọ, nên tôi mới xin thôi dạy.

- Thầy đã lầm rồi. Đâu phải tất cả học trò đều như đứa bé thầy kể. Số trẻ đó chỉ là một phần nhỏ. Còn phần lớn học trò đều nhớ ơn thầy. Như thế, làm một ông giáo đâu đáng buồn như thầy tưởng.

Ngừng một chốc, ông tiếp:

- Bây giờ thầy nên tiếp tục dạy đi. Suy xét lại một lần nữa, độ mươi hôm sau sẽ quyết định cũng chẳng muộn... Thôi, thầy lại lớp cũ nhé! Học trò cũ đang chờ chào thầy để lên lớp trên, và học trò mới cũng đang chờ trình diện với thầy đó!

Rời văn phòng, thầy Ngọc đi về lớp học quen thuộc của mình. Vừa thấy thầy, mộg nhóm học sinh tụ tập trước cửa lớp reo lên:

- A! Thầy đến... Thầy đến, tụi bây ơi!

Và chạy lại vây quanh thầy, hỏi han một cách thân mật:

- Thưa thầy, thầy vẫn mạnh?

- Bãi trường thầy có đi đâu không?

- Em nhớ thầy quá!

Thật là ríu rít như chim non buổi sớm. Thầy chợt quên đi bao nhiêu chua chát chán nản vì nghề. Thầy tươi cười:

- Cám ơn các em!

Một cậu lại hỏi:

- Thưa thầy, năm nay thầy vẫn dạy lớp nhì hay lên dạy lớp nhất?

Thầy Ngọc đáp:

- Thầy vẫn dạy lớp nhì em ạ!

- Tiếc quá! Nếu thầy dạy lớp nhất tụi em còn có thể được học với thầy, vui biết mấy!

Một cậu nhỏ bỗng nắm tay thầy, nước mắt chảy dài trên má:

- Thưa thầy... cho em ở lại lớp nhì...

- Sao vậy?

- Em muốn học với thầy hoài hè!

Cảm động, thầy Ngọc vuốt đầu cậu bé:

- Đi học thì mỗi năm phải lên lớp chứ! Em đừng buồn. Thầy luôn dạy trong trường đây, rồi mình cũng gặp nhau thường mà.

Và sau một hồi nghĩ ngợi, thầy bảo:

- Các em hãy vào lớp đi. Chốc nữa sẽ có thầy mới đến đem các em lên lớp trên. Thầy trở lại văn  phòng có chuyện cần.

Và thầy Ngọc đã lên gặp ông hiệu trưởng để rút đơn xin thôi lại...


SA BIỆT LƯU     

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa Cô Bé Can Đảm)

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

Còn Mãi Trong Tim



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kính tặng Cô Ngô Thị Vân – Giáo Sư Anh Văn
Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt – Gia Định

Với chúng em, đây là niên học cuối
một cuộc thi chấm dứt thuở học trò
chỉ còn lại chút dư âm tiếc nuối
những tháng ngày rất đẹp, rất nên thơ…

Ngày cuối cùng Cô giảng xong bài học
dặn những điều cần thiết lúc đi thi
em đã thấy, ở Cô, giòng lệ ngọc
biết bao tình trong giây phút biệt ly

(Em vẫn biết còn học trò áo trắng
là vẫn còn giữ những nét dễ thương
đời mai sau sẽ có nhiều bóng nắng
tìm đâu ra khoảng mát chốn học đường?)

Và Cô ơi! suốt đời em mãi nhớ
giòng lệ nào tràn ngập những thương yêu
một khoảng trời màu hồng trong tim nhỏ
bục gỗ, bàn Thầy, bóng dáng chắt chiu…

                                        Trần Thị Nguyệt Mai
                                                      1972

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2020

Thuở Còn Cắp Sách...

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thuở còn cắp sách
Em bé ngây thơ
Tung tăng đến lớp
Sớm nắng chiều mưa

Thuở còn đi học
Hũ mực cầm tay
Bộ bà ba trắng
Cặp táp đeo vai

Thuở còn cắp sách
Cô giáo thật hiền
Bảng đen phấn trắng
Chim hót ngoài hiên

Thuở còn đến lớp
Bài Học Thuộc Lòng
Đức Dục, Toán Đố
Gia chánh, Thủ công

Thuở còn cắp sách
Ngòi viết lá tre
Trên trang vở mới
Phượng nở ngoài hè

Thuở còn đi học
Mắt biếc hồn thơ
Tóc bum bê ngắn
Cuộc đời êm mơ

Thuở còn đến lớp
Thày dạy bao điều:
Khoan dung, nhân hậu
Lễ phép, thương yêu

Bao điều ấp ủ
Bao niềm vấn vương
Thuở được tới trường
Thuở còn cắp sách......

                          Thơ Thơ
               (Bút nhóm Hoa Nắng)

Gởi đến tất cả các thày, cô giáo của tôi, với lòng biết ơn vô bờ bến
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>