Thứ Tư, 27 tháng 7, 2016

CHƯƠNG MƯỜI LĂM_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI LĂM


Sáng hôm sau, trong căn nhà mát ven hồ, chúng tôi thức giấc. Mặt trời đã lên cao. Bà Glen dọn cho chúng tôi bữa điểm tâm.

Rồi, dưới ánh nắng Gavin lấy con dao săn của cha cắt con cá thành hai khúc đều nhau. Thịt cá hồng, rắn chắc, xương sống trắng ngời chứng tỏ thịt đang tươi ngon. Gavin bảo tôi:

- Chúng ta rút thăm, nghe? Vậy mới công bình. Mỗi phần nặng cỡ 6 livres đấy (1), nhưng phần đuôi nhiều thịt hơn.

Chúng tôi lấy đồng pence quăng lên không để xem ra sấp hay ngửa, và tôi đã được phần đuôi con cá. Gavin là một người bạn tốt, nó tỏ ra mừng cho sự thắng cuộc của tôi:

- Nhớ đấy! Đừng nấu quá 20 phút, ngon lắm đấy!

Gói phần cá của mình bằng những lá cói, đặt vào giỏ gắn trước ghi đông xe đạp, chúng tôi vào từ giã bà Glen đoạn ra về. Gavin ngồi đằng trước, chở tôi phía sau. Chốc chốc, chúng tôi lại thay phiên nhau đạp xe, vì chúng tôi muốn chia nhau tất cả, mồi ngon cũng như khó nhọc.

Đúng giờ ăn trưa, tôi về đến nhà. Ba mẹ đã ngồi vào bàn ăn, tôi ngại ngùng vì đã đi chơi suốt ngày song cũng hãnh diện bởi câu được phân nửa con cá tươi quý làm quà ba mẹ. Chắc chắn với nửa con cá thu tươi này, chúng tôi sẽ có những bữa ăn ngon lành.

- Đi đâu về đó?

Tựa lưng ra thành ghế, ba hỏi tôi bằng giọng ồm ồm chán nản, y như giọng ông tuyên bố cái bữa mẹ tôi dọn trứng cho ông:

- Khỏi! Từ nay khỏi làm la cót cho tôi. Chúng ta đã ăn nhiều quá rồi. Theo các y sĩ, ăn nhiều là nguồn gốc mọi bệnh hoạn.

Mẹ tôi đỡ lời:

- Tôi có nói với ông rồi, quên sao: cháu nó đi câu với Gavin ở...

Tôi vội vàng đặt phần cá trước mặt hai người:

- Ba mẹ nhìn xem: nửa con cá thu tươi rói! Gavin câu nhưng chính con móc và giật nó lên...

Mẹ tôi vạch mớ lá xanh ra, kêu lên:

- Hoan hô Robert! Ngon tuyệt!

Nghe mẹ khen, mặt tôi tươi lên, cùng một lúc tôi chờ đợi ba khen. Ông nhìn sững khúc cá như bị thôi miên. Bình nhật ba rất ít khi cười, nhưng hôm ấy, tôi nhớ rõ ràng ông đã cười thành tiếng và nói:

- Ngon thật... nhưng chúng ta ăn sao được cá thu? Không khéo bịnh chết! Trưa nay đem lại đằng hiệu Donalson đi cho xong.

- Thôi đi, tôi xin ông lần này. Hãy để lại vài lát nếu không cho ăn hết...

Mẹ tôi buồn bã nói, mấy nếp nhăn cày sâu xuống vầng trán phẳng của bà. Ba tôi nghiêm giọng:

- Tôi đã nói không ăn là không ăn. Mùa này cá thu hiếm, được giá lắm. Ít gì cũng được 3 shillings 6 mỗi livre, nhưng đó là bán lẻ kia, chớ còn mình bán cho cửa hiệu thì chắc ít hơn. Lão Donalson chỉ dám trả 2 shillings 6 mỗi livre là cùng... Cũng được tiền rồi.

Tôi nghẹn ngào không thốt được một lời. Đem bán cho hàng cá trọn nửa con cá ngon lành này thay vì để thêm vào những bữa ăn nghèo nàn của gia đình chúng tôi? Hay là bà nói chơi đây? Tôi thầm ao ước.

Ba tôi cúi xuống tiếp tục ăn. Mẹ tôi mím chặt môi, dùng cái muỗng cán dài moi mấy củ khoai tây lùi trong tro ra, dọn cho tôi, giọng bà thảm não:

- Đây! Phần ăn của con, ngồi xuống ăn đi con!

Xế hôm ấy, tôi đi bán cá. Ông Donalson dáng người mập mạp, da dẻ hồng hào, tạp dề có sọc xanh mang trước ngực, che khuất một phần áo trắng tinh, đội mũ rơm, vui vẻ.

Tôi còn đang lúng túng vì không biết giá cả ra sao, thì ông ta cho biết là ba tôi đã ghé đây trong khi đi làm, cho nên ông ta không chút ngạc nhiên, mà sẵn sàng đón chờ tôi mang cá đến. Khúc cá nặng trên 6 livres. Ông hàng cá đẫy đà vuốt râu, nhìn tôi:

- Cháu câu được, hả?

- Vâng!

Tôi đáp xuôi xị.

- Nó vùng dữ lắm, hả?

- Vâng!

Tôi cúi mặt đáp, cùng một lúc hồi tưởng lại đêm qua, đến mặt hồ lấp lánh ánh trăng, đến tình bạn của chúng tôi, đến buổi câu lý thú...

- Đây! 2 shillings 6 mỗi livres, tất cả a livres, vậy là 15 shillings chẵn. Cháu đem tiền về cho ông Leckie nhé?

Rồi ông dõi mắt theo tôi trong khi tôi rời hàng.

Chiều hôm ấy, ba đi làm về tôi liền trao tiền cho ông, ông gật đầu tỏ vẻ hài lòng, cho hết cả vào cái ví da. Suốt bữa ăn, ông vui vẻ kể lại rằng ông vừa gặp ông Giám đốc Thủy cục, rằng ông ấy dạo này có vẻ "xuống dốc" quá: bị sạn trong thận mà! Như vậy, chuyện ông ta về hưu chỉ là chuyện chờ đợi từng ngày.

Ông nói chuyện này bằng giọng hăng hái khác thường. Sau bữa ăn, ba bảo tôi:

- Robert! Vào xa lông, ta có chuyện nói...

Trong gian phòng ít khi có dịp sử dụng này, tôi và ba đối mặt nhau, cạnh cửa sổ. Trên kệ, bó hoa bất tử khô quắt. Qua khung kính, tôi thấy mấy cành đào xanh ngắt lung linh trong gió nhẹ. Mấy ngón tay ba đan vào nhau. Vẻ ân cần song lưỡng lự ông nhìn tôi, môi mím chặt:

- Robert! Con học giỏi, ta bằng lòng lắm, con lớn rồi đấy.

Tôi đỏ mặt vì được khen – ông rất hà tiện lời khen – ông tiếp:

- Ta hy vọng là con hiểu những cố gắng của ta đối với con.

- Thưa ba, con rất hiểu, con biết ơn ba mẹ nhiều lắm.

- Thầy Reid vừa đến tìm ta...

Tôi run rẩy lắng tai. Ba tôi điềm nhiên tiếp bằng giọng chậm rãi:

- ... Ông ấy yêu cầu ta ký một hồ sơ... Ta và ông ấy đã bàn kỹ về tương lai con – ông ngưng lại, dặng hắng một cái – Robert! Chắc con cũng đã nghĩ đến điều này chứ?

Tim tôi đập loạn xạ trong lồng ngực:

- Thưa ba, chắc thầy con có cho ba biết là con có thể hy sinh tất cả để được theo đuổi Y khoa tại Đại học Winton.

Ba cố gắng mỉm cười:

- Con phải hiểu điều này: ta không giàu có gì.

- Nhưng thưa ba, thầy Reid có cho ba hay về học bổng Marshall chớ?

- Có, Robert ạ!

Khuôn mặt tai tái của ba hồng lên một chút và cái nhìn như cảnh cáo tôi để tôi khỏi nuôi cái ảo tưởng nguy hiểm:

- ... Và ta đã trả lời rằng thầy Reid rất lầm lẫn khi nhen nhúm cái hy vọng hão đó trong lòng con. Ta, ta không ưa những tư tưởng quá tiến bộ của ông ấy. Ai biết trước được kết quả cuộc thi tuyển? Bằng chứng như thằng cậu mày đó. Chao! Học bổng Marshall! Khó lắm con ơi! Thành thực mà nói, ta không chê con điểm nào nhưng ta không tin là con đậu nổi...

- Nhưng ít ra, ba cũng vui lòng cho con thi thử chứ?

Cổ tôi như bị nghẹt vì lo lắng, mặt ba tôi tối sầm lại, để khỏi nhìn tôi, ông đưa mắt ra khung cửa sổ:

- Robert, không được! Đó là lợi ích cho riêng con, mỗi mình con thôi. Vả lại, dù cho con đậu, ta không đủ sức để con theo đuổi Đại học 5 năm. Trong năm năm đó con sẽ không mang về nhà một trinh con. Ta đã tốn kém nhiều cho con. Giờ đây là lúc con đền đáp lại công ơn ta đôi chút...

- Thưa ba, xin ba...

Tôi hết lời nài nỉ một cách vô ích và sau cùng tôi im bặt vì chán nản, tuyệt vọng. Tôi muốn nói là tôi sẽ trả lại cho ông gấp trăm những gì ông đã cho tôi nếu ông cho tôi thử thời vận, rằng nếu trong 5 năm bận học đó, tôi không mang tiền về thì bù lại, tôi sẽ cố học hết sức. Tôi sẽ... nhưng tôi chạm phải sự lạnh lùng sắt đá của ông nên tôi cứng họng luôn.

Như mọi người yếu đuối khác, ông đặt danh dự vào việc không thay đổi ý kiến, cho như thế là tốt nhất. Ông không ghét bỏ tôi nhưng mù quáng vì tính keo kiết đáng sợ, ông nghĩ rằng quyết định của ông có ích lợi cho tôi và cả gia đình.

Giọng khuyến khích, ông bảo:

- Tuần rồi ta đã nói chuyện với anh Cai. Mùa hè này con được nhận vào xưởng thép, con sẽ có một nghề chắc chắn trong tay trước tuổi thành nhân. Ban đầu, lương không cao mấy, nhưng con cũng có thể góp thêm vào ngân quỹ gia đình. Ta thấy như vậy là thực tế hơn.

Tôi ấp úng mấy lời chi đó, tôi không muốn trở thành thợ và học việc ba năm trong một xưởng thép là điều tôi chẳng hề ao ước. Dù xem ra ba có lý, tôi không khỏi đau xót ngậm ngùi. Ba đứng lên, thở dài và vỗ vai tôi:

- Ta biết con thất vọng lắm, nhưng biết làm sao hơn? Khi không đủ phương tiện ta không nên đòi hỏi.

Tôi ngồi nán lại một mình trong xa lông. Ra ba đã lo chuẩn bị cho tôi vào học việc trong xưởng và mẹ tôi đã tin cho dì Kate hay trong bức thư cho nên dì mới nhìn tôi cách khác thường như vậy.

Nhớ đến niềm hy vọng, đến dự định, đến những lời tâm sự với Gavin, đến sự háo hức của tôi trong những ngày qua, bất giác tôi không sao cầm nước mắt. Tôi khóc lặng lẽ, âm thầm. Không bao giờ tôi trở nên người mà tôi ao ước, tôi sẽ chỉ là người thợ thôi sao?

------------------
(1) Mỗi livre nặng cỡ nửa kí lô.

_____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI SÁU

CHƯƠNG MƯỜI BỐN_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI BỐN


Lễ Phục Sinh đến. Tôi được nghỉ giao bánh mì. Trước khi mặt trời mọc tôi đã rời nhà đến ngã tư Lenvenford chờ Tom Drin, anh ta đi giao hàng, tôi sẽ nhờ xe đến Luss. Nom anh ta không vui, đáng ra là anh ta được nghỉ, nhưng hãng của cha Gavin thiếu nhân công.

Trèo lên xe, tôi ngồi giữa mấy bao bột mì, ngựa cất vó trong lặng lẽ.

Đường sá vắng vẻ chìm trong bầu không khí mát lạnh ban mai. Chốc mới thấy một phụ nữ đi mua sữa về hay một ông mặc áo ngủ ra mở cửa sổ, một chị bồi phòng ngái ngủ che tay ngáp dưới một khung cửa hé mở.

Cuộc du ngoạn thật thích thú. Tôi sắp đi câu với Gavin lần cuối, trước khi vùi đầu học thi Marshall.

Mặt trời lên cao song vẫn còn sương.

Trong khi chiếc xe ngựa lắc lư tựa một con tầu trên sóng, cảnh vật như diễn hành trước mắt tôi... khu rừng nhỏ, những vườn cây, ngôi biệt thự bằng đá xám với những ống khói cao, những sân thượng...

Trong sân, sau một ngôi nhà, tôi giúp Tom khuân các bao bột mì xuống. Có một lúc, chúng tôi khám phá ra một bao bột 50 kí lô bị rách, bột đổ tràn ra sàn xe. Tom chửi thề, gãi đầu và cuối cùng bảo tôi:

- Thôi! Mặc kệ, thế nào chúng ta cũng thu dọn xong!

Đến Luss thì trời đã xế bóng, Gavin kiên nhẫn ngồi tự bao giờ ở một cây trụ đầu làng đợi tôi. Vẫn bộ đồng phục của ngôi trường sang trọng. Thật khó mà tả hết vẻ lịch sự của thằng bạn chí thân: Gavin cao hẳn như tôi nhưng vẫn giữ nét mềm mại thanh lịch, vẻ kiêu hãnh tự tin trên khuôn mặt tươi tắn, trẻ trung.

Niềm vui chợt dâng lên tràn ắp khi chúng tôi lặng lẽ bắt tay nhau.

- Tao e là mình không câu được tối nay đấy.

Gavin bảo tôi trong khi chiếc xe ngựa xa dần. Không có gió và nhiều ánh sáng quá, chúng tôi cùng đồng ý về điểm này và cùng sóng bước qua ngôi làng yên tĩnh nằm bên bờ hồ.

Để chờ mặt trời lặn, Gavin và tôi ngồi trên khoang thuyền trước căn nhà mát của cha nó. Như thói quen, chúng tôi chỉ trao đổi ít câu trong lúc xem xét lại vật dụng.

Trước bảy giờ, bà gác dan dọn cho chúng tôi một bữa ngon lành gồm có bánh mì ngọt, nướng nóng hổi, thơm lừng, trứng chiên và sữa tươi...

... Rồi chúng tôi đẩy thuyền xuống nước, chưa tới giờ buông câu song mặt hồ lấp lánh trở mầu hồng báo hiệu hoàng hôn. Tôi khua mái chèo giữa buổi chiều mát và yên tĩnh rồi một khắc sau, gác chèo để mặc nó bồng bềnh trên mặt hồ lặng lờ. Một chốc sau, chúng tôi không thấy mặt nhau nữa. Đột nhiên, Gavin hỏi, giọng nghèn nghẹn:

- Robert, có thật mày thi Marshall không?

(Marshall là kỳ thi tuyển hằng năm mở ra cho học sinh vùng Winton. Người đậu nhất sẽ lãnh một học bổng 100 livres mỗi năm, số tiền khá to thời ấy, trong năm năm. Với học bổng này, thí sinh sẽ có thể ghi danh tại Đại học Winton).

Tôi giật mình đáp:

- Đúng vậy, tao định cho mày biết tin này trước tiên. Mà sao mày biết được?

- Thầy Reid nói với ba tao... – Gavin im lặng một giây rồi tiếp – Robert này, tao cũng định thi đấy.

Tôi kinh ngạc mở to mắt để nhìn bạn trong bóng tối, lắp bắp:

- Gavin! Mày đâu cần học bổng?

Giọng Gavin buồn bã khác thường, nó nói rõ ràng từng tiếng một:

- Robert, mày lầm đó! Lúc sau này ba tao làm ăn lỗ lã nhiều... gia đình tao không còn như trước đâu. Thật ra, ba tao không phải khoe khoang nhưng mày nên biết ông cần giữ thể diện trước mọi người... Ba tao đã hy sinh cho tao nhiều rồi. Bây giờ đến lúc tao phải cố gắng để ông vui đôi chút.

Tôi im lặng đau đớn. Tôi biết Gavin rất yêu cha và cũng nghe nói gia đình ông suy sụp song tôi không ngờ đến mức trầm trọng ấy. Chao! Hai chúng tôi sẽ là địch thủ của nhau ư? Thật là sét đánh ngang tai tôi!

Gavin nói tiếp trong khi tôi ngồi lặng:

- Robert! Tất cả học sinh xuất sắc trong vùng đều dự thi, thêm một người hay bớt nghĩa lý gì? Vả lại, danh dự của tỉnh mình đang lâm nguy: từ 12 năm nay không một học sinh nào của Levenford được học bổng cả.

Và bằng giọng quả quyết, nó lại nói:

- Một trong hai đứa mình sẽ thắng...

- Mày sẽ thắng, Gavin ạ!

Tôi nghẹn cổ lại, cố gắng để nói câu trên... vì tôi biết Gavin là một học sinh xuất sắc. Gavin trầm giọng:

- Thú thật với mày, tao rất mong được đậu để ba tao vui song tao cảm thấy rằng mày nhiều hy vọng hơn tao trong kỳ thi này. Robert, nếu mày đậu, mày sẽ học y khoa chứ?

- Gavin ơi, tao mơ ước trở nên một nhà sinh vật học, một y sĩ chuyên môn tìm tòi, thí nghiệm.

Giọng trầm tĩnh, Gavin bảo:

- Phải đó! Và tao tin là việc chúng ta đối đầu nhau trong kỳ thi này sẽ không làm sứt mẻ tình bạn cao quý của chúng ta.

Chúng tôi nắm chặt tay nhau.

Trăng ló dạng trên ngọn Ben, dịu dàng xuyên qua bóng đêm, một vạch dài sáng lấp lánh trên mặt hồ đen ngòm. Chúng tôi trôi vào bờ từ lúc nào.

Bỗng, một con cá lớn phóng mình lên khỏi mặt nước đen như mực làm dòng tư tưởng của chúng tôi xoay chiều trong một nhoáng...

Gavin nghiêng mình lấy cần câu và thì thầm bên tai tôi hai tiếng:

- Được rồi!

Tôi chèo thuyền nhè nhẹ dọc theo bờ, nín thở... Gavin ngồi phía sau buông câu xuống nước, cánh tay mặt làm một cử động chậm chạp, nhịp nhàng. Sợi dây bóng ngời vút trên không khí thành một đường cong sáng và lặng lẽ rơi xuống xa hơn.

Lần này, tiếng cá quẫy nước mạnh hơn lần đầu. Tôi cảm thấy phấn khởi khi cần câu trên tay Gavin cong vòng và tay nó run run bám chặt be thuyền. Nó mở hết dây và nói với tôi, giọng thì thầm như thể sợ cá nghe:

- Chèo đi! Đừng để nó lủi dưới thuyền.

Tôi gật đầu lặng lẽ làm theo lời bạn trong lúc con mồi vùng vẫy một cách tuyệt vọng, nó phóng lên khỏi mặt nước đen ngòm và cứ mỗi lần rơi xuống, bọt nước lấp lánh bắn chung quanh nó. Tôi quạt nhanh mái chèo cho thuyền lùi lại. Càng lúc tôi càng mạnh tay, bây giờ không phải là lúc cần sẽ sàng nữa, mái chèo khua động cũng mạnh ngang với tiếng con mồi quẫy nước.

- Khá đấy! Một con cá thu... mà lại là con cá thu cực to mới thích chứ!

Gavin vừa thở hổn hển vừa nói bằng giọng chắc nịch. Cả hai chúng tôi đều mỏi nhừ, Gavin giục tôi:

- Thôi, rút chèo lên đi.

Và nó từ từ, rất cẩn thận, cuộn dần sợi dây nối liền từ cần câu đến con cá lại. Ánh trăng soi sáng thân hình cao lớn và khuôn mặt cương nghị của bạn tôi. Tôi nhìn chầm chập vào nó chờ lệnh. Con cá đã đuối sức. Bạn tôi la to:

- Tao thấy nó rồi... Chà! Chắc nó từ biển sâu đi lạc vào. Đưa cái móc, mau đi! Ở dưới băng ấy.

Khom mình vói lấy cái móc nhưng không may, tôi trượt chân trên sàn thuyền ướt, ngã nhoài, nằm thẳng cẳng trên băng, trầy cả chân. Thuyền tròng trành suýt bị lật. Gavin không nói gì, không trách tôi. Bằng giọng trầm tĩnh nó hỏi tôi sau khi đợi tôi gượng ngồi lên:

- Được không? Bây giờ mày có thể...

- Ồ! Được chứ!

- Robert này, con cá chưa ăn hết mồi, nó chỉ bị móc nhẹ thôi, mình rất ít hy vọng. Bây giờ mày cầm móc sẵn, hễ tao kéo nó lên khỏi mặt nước là đâm ngay mũi móc vào dưới mang nó, nghe không?

Tôi lo lắng khư khư giữ chặt cái móc trong tư thế quỳ gối trên sàn thuyền. Con cá đã được bạn tôi kéo lên khỏi mặt nước, đúng là một con cá thu dài, bóng lưỡng khiến tôi sững sờ vì quá đỗi vui mừng. Chưa bao giờ tôi câu được một con cá to như thế.

Gavin rất khéo tay, vì nó thường đi câu với cha. Nó bảo là cá rất dễ thoát nhất vào lúc này. Tôi run rẩy, ù tai, chớp mắt liên hồi. Con cá gần tôi quá, tôi choáng váng ao ước phóng móc đúng vào cái thân mình bóng loáng của nó... và tôi đã làm được như ý muốn, chậm rãi kéo nó lên khỏi mạn thuyền. Gavin quỳ xuống cạnh tôi.

Trăng lên cao, êm ả soi sáng hai chúng tôi: đôi bạn trẻ quỳ song song nhau, chiêm ngưỡng say sưa con mồi tuyệt vời của chúng. Con cá cong mình giãy đành đạch vài cái rồi nằm duỗi dài trong lòng thuyền.

Đang sung sướng vì được con mồi quý giá, tôi chợt nghe đau nhói tận tim vì một ý nghĩ khủng khiếp vừa lướt qua đầu tôi: "Gavin hay tôi, một trong hai đứa phải thất bại trong kỳ thi tuyển sắp đến".

______________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

CHƯƠNG MƯỜI BA_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI BA


Lòng náo nức, tôi chạy xuống thang lầu. Giờ này tôi rảnh. Tôi muốn xem chớp bóng mà chẳng có đồng nào trong túi áo! Túi áo! Cũng chả phải là áo tôi, nó là áo cậu Murdoch chuyển lại đó chứ. Tôi đã lớn để có thể mặc áo quần của cậu, những bộ quần áo cũ kỹ được mẹ cất trong rương, sặc mùi long não.

Tôi bèn ra bếp: mẹ tôi đang phun nước cho ẩm áo quần trước khi ủi. Mái tóc mẹ đã hết óng ả, cặp mắt lờ đờ thêm, khuôn mặt gầy và nhăn hơn, song vẫn tính nết cũ: dịu dàng và kiên nhẫn. Tôi nóng lòng muốn tâm sự với mẹ, nhưng tôi chỉ nói:

- Một ngày kia, mẹ sẽ thấy... Một ngày kia... mẹ sẽ thấy...

Nở nụ cười hiền lành và buồn bã, mẹ hỏi tôi:

- Mẹ sẽ thấy gì nào?

- Một ngày kia, con sẽ đủ sức làm một điều gì cho mẹ, mẹ sẽ sung sướng hơn bây giờ... con tin vậy đó. Một điều quan trọng...

Vụng về nhưng tin tưởng, tôi trả lời bà. Mẹ áp cái bàn ủi gần má thử sức nóng, vui vẻ bảo tôi:

- Vậy bây giờ, trong khi chờ đợi, con giúp mẹ một việc không quan trọng, được chứ? Robert? Con đem cái thư đến cho dì Kate...

- Ô! Thưa mẹ, sao không, được lắm chứ!

Tôi thường đem thư mẹ cho dì Kate ở đầu tỉnh, khu Barloan Toll, và cho cậu Murdoch, hiện làm việc với ông Dalrymphe, nhà trồng tỉa. (Cậu thành công lắm, cậu tỏ ra vui vẻ vì thoát ách bảo hộ của ba). Nhờ tôi, mẹ đỡ tốn khoảng tiền tem không ít, – bà năng gửi thư mà!

Các thư gửi đi phản ánh nguyện vọng cũng như tâm hồn mẹ: thư không chỉ mang theo tin tức mà còn đầy những lời khuyên nhủ, dặn dò, khích lệ, chúng biểu lộ ao ước nồng nhiệt thiết tha của mẹ: giữ mãi mối dây liên lạc thật chặt chẽ giữa mọi người trong gia đình.

Mẹ đặt bàn ủi xuống, vào trong một giây và đem ra bao thư dán kín, đưa tôi:

- Đây, con đem đến cho dì con. Mẹ muốn gửi cho nó ít bánh... nhưng (bà giờ nắp thùng ra và xịu mặt xuống) hết bột rồi. Thôi, con đi đi! Nhớ hôn tất cả hộ mẹ nhé?

Tôi dạ to một tiếng, cầm phong thư chạy bay ra đường. Ngang công viên, rẽ trái, dọc theo dãy nhà đồ sộ, vách đen sì của xưởng thép.

Dì Kate ở một trong những căn nhà xinh xắn mới xây ở ngoại ô, thảm cỏ xanh tươi mát bao quanh. Gần tới nhà, tôi chợt thấy dì đang đẩy một cái xe trẻ con từ một ngã rẽ khác trở ra, xe mầu xanh dương, mặt dì rạng rỡ trông thấy (Chao! Tôi dám cam đoan là dì đã bỏ ra nhiều thì giờ trong tuần để đẩy xe loanh quanh đây kia, ngoài phố, đến công viên với đứa con cưng quý của dì). Chốc chốc, dì dừng lại vỗ nhẹ lên cái chăn cũng mầu xanh dương ở một góc có thêu chữ N to tướng, mầu trắng.

Dì chưa trông thấy tôi, tôi đứng lại nhìn dì đến gần, thích thú và cảm động trong lòng. Thân hình dì có hơi mập ra, dì cúi xuống đứa bé, cười đùa với nó. Khi dì vượt ngang tôi, tôi rụt rè gọi:

- Dì Kate!

- A! Robert! – Dì kêu lên mừng rỡ – Tại cháu bé nên dì không thấy cháu đó. Này, Robert, cháu biết không: bé sắp mọc cái răng thứ hai đó, mà suốt ngày không khóc một giọt đó, ngoan quá, phải không cháu?

Dì Kate của tôi! Trông dì hạnh phúc làm sao! Đứa bé thì xinh xẻo quá. Nhà dì thật sạch, đầy đủ mọi tiện nghi – kể cả máy nước nóng – mùi sơn mới và mùi sáp thơm nồng. Vào nhà, tôi biết ngay dì là một tay nội trợ tài ba, ngăn nắp.

Tôi chợt nhớ lại những lời tiên đoán tồi tệ của ba (chả là ông tức giận dì không còn mang tiền về cho ông nữa mà) rằng nào là dì sẽ làm hỏng cuộc đời, nào là Jamie không xứng đáng, nào là một hôn nhân thất bại v.v... Tôi, tôi nhận thấy dì sống rất hạnh phúc, tôi vui lắm.

Sau khi cho bé vào nôi, dì đốt lò ga và chỉ một lát sau gian bếp thơm lừng mùi thịt bít tết và hành tây chiên lẫn lộn. Dì tươi cười bảo tôi:

- Robert! Cháu ở lại ăn với dì và Jamie nhé? Chú ấy đang tắm. Robert ơi! Lúc này chú phải làm thêm giờ phụ trội nên không rảnh mà dắt cháu đi xem đá bóng. Cháu đói chưa? Đợi một chút nhé?

Dì tôi trở thành tế nhị nhiều so với khi còn con gái. Jamie đã xuống: tóc còn ướt được chải cẩn thận, một cái cà vạt đỏ tươi trang điểm thêm cho Jamie.

- Robert đây rồi!

Jamie kêu lên vui vẻ, vồn vã. Đối với tôi, vài lời đơn giản như thế kèm thêm cái gật đầu thân ái còn ấm lòng hơn những câu tiếp đón dài dòng.

Chúng tôi vào bàn ăn ngay. Dì chọn cho tôi miếng thịt thật to, mềm và ngon. Tôi như thể được tiếp máu, trong lúc đó chồng dì không ngừng múc thêm thức ăn vào dĩa cho tôi, những củ hành chiên vàng giòn, bánh mì nướng phết bơ và trà đậm, nóng.

Hai người hiểu rằng ở nhà ông bà ngoại, càng ngày càng tiết giảm thức ăn. Jamie luôn luôn bắt tôi ăn thêm mỗi khi có dịp. Cái nhìn của chú ấy đầy thân ái và luôn luôn kèm theo câu:

- Ở tuổi cháu phải ăn nhiều vào cho mau lớn.

Tại Lomond-View một luật lệ quái dị đè nặng tuổi thơ của tôi: phải hà tiện đủ mọi cách, dù phải hy sinh những cần thiết đi nữa. Ôi! Nếu ông ngoại tôi không bị tiền bạc ám ảnh, nếu không làm nô lệ cho cái tính hà tiện Tô Cách Lan khiến ông thích có tiền gửi trong ngân hàng hơn là có bữa ăn ngon... Tính ấy làm tiêu hủy lòng đại lượng, gieo tai họa cho gia đình không ít.

Mỗi khi bối rối về vấn đề tiền bạc, tôi nghĩ ngay đến vợ chồng của dì tôi. Họ không giàu, nhưng họ mua những miếng thịt ngon và Jamie đã dắt tôi đi xem đá bóng; tôi, một đứa trẻ mồ côi, cô độc. Họ đã dùng đồng tiền kiếm được một cách khó nhọc trong vài mục đích vị tha... Họ tốt biết bao! Hay nói văn vẻ hơn một chút, thì họ biết làm chủ đồng tiền chứ không để tiền làm chủ họ.

Sau bữa ăn, Jamie bắt đầu trêu tôi một cách trìu mến, phàn nàn khuynh hướng thích cô đơn của tôi và tỏ vẻ lo lắng cho tôi thực sự làm tôi cảm động. Mãi một lúc sau, dì Kate mới hỏi tôi:

- Nhà có gì lạ không, hở cháu?

- Ý, chút nữa cháu quên: có thư gửi cho dì!

Dì đón lá thư trong tay tôi, mở ra đọc hai lần tiếp, tôi ngạc nhiên thấy mặt dì tối sầm lại và những nếp nhăn trên trán dì đã biến mất từ lâu bỗng hiện ra. Rồi dì đưa cho chồng đọc, Jamie đón thư đọc nhưng không nói một lời. Dì kêu lên, bực tức:

- Thật hết sức! Cái thói ham tiền ở nơi ba đã trở thành bệnh chớ không phải chơi.

Chúng tôi cùng thấy không khí khó thở. Chợt may sao: em bé la lên và dì tôi vội vàng chạy lại bế nó, cho bú.

Tôi được hân hạnh ôm "kho báu" đó trong tay một lúc sau khi nó bú no, đó là dấu hiệu sự thương mến của dì và Jamie đối với tôi.

Dì âu yếm nhìn tôi bế em và cười, nói:

- Nó nhận ra cháu đó, thấy chưa? Robert! Một ngày kia cháu sẽ lớn lên, có con... cháu sẽ hiểu...

Tôi ngượng đến đỏ mặt lên. Dì đặt em bé vào nôi và tiễn tôi ra cửa. Dì chăm chú nhìn tôi:

- Mẹ không nói gì với cháu về lá thư gửi dì hết sao, Robert?

- Thưa dì, không. Nhưng thưa dì, cháu cũng có tin quan trọng...

- Tốt hay xấu? Dì tôi hỏi, đầu hơi nghiêng, dáng bộ nóng nảy.

Tôi vui vẻ:

- Thưa dì, tin này... rất tốt... Dì ạ!

Tôi ngừng lại thình lình. Đêm tối bí mật vây phủ dì cháu tôi. Xa xa có tiếng còi tàu rú lên. Dì cười:

- Thôi được, cháu cứ giữ kín bí mật của cháu, dì cứ giữ kín bí mật của dì. Đừng vội nói ra.

Tôi nắm tay dì thật chặt rồi quay đi thật mau. Dù tôi thương yêu dì nhưng tôi vẫn chưa muốn kể cho dì hay trước tiên về niềm vui của tôi. Từ dòng sông tối đen có tiếng rền của một con tàu hướng ra bể cả. Tôi rùng mình và cảm thấy phấn khởi rất nhiều. 

_____________________________________________________________________ 

CHƯƠNG MƯỜI HAI_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI HAI


Nhiều năm kế tiếp trôi qua... Mấy cây anh đào trước nhà xum xuê hơn trước.

Buổi chiều tháng 4 năm 1910, tôi rời trường, lòng vui vẻ, hãnh diện. Mặt trời hồng rực rỡ lặn sau ngọn Ben.

Chiều nay tôi cảm thấy tôi chính là tôi, bởi đôi lúc tôi ngờ ngợ như mình là kẻ nào khác, vâng! Đôi lúc tôi xa lạ với chính tôi.

Sáng hôm kia ở hiệu Baxter ra, tôi chợt nhìn trong tủ kính, giật mình vì hình ảnh phản chiếu cho tôi thấy một thiếu niên 15 xanh xao, gầy ốm, tay chân dài ngoằng, nét mặt u trầm, buồn bã... Tôi đã giật mình tự hỏi: mình đó sao, trời?

Nhưng hôm nay thì tôi hết sức phấn khởi, sung sướng vì câu chuyện thầy Reid nói với tôi lúc tôi ra về. Số là chúng tôi sắp được nghỉ lễ Phục Sinh, trước khi tan học thầy đã giữ tôi lại (thầy còn trẻ, khoảng 30, dáng cao lớn, khỏe mạnh, một cái sẹo dài nằm vắt ngang ở môi trên và vì nó, chiếc mũi thầy hơi thấp xuống, khiến người ta thấy đôi mắt xanh thầy to hơn, lộ hơn dưới mái tóc óng ả vàng hoe. Da thầy trắng và hơi nhờn. Râu luôn luôn được cạo nhẵn, hình như ông không cần che giấu vết sẹo trên môi). Thầy ôn tồn bảo tôi:

- Robert Shannon! Trò không giống như các bạn cho nên... – ông gõ gõ tay lên bàn trong khi tôi nhìn chăm chú vào ông – ta muốn đề nghị với trò một điều này...

Trở về đến nhà, tôi vẫn còn bàng hoàng xúc động vì câu chuyện thầy nói với tôi. Tôi muốn được một mình nghiền ngẫm bí mật này. Song ông tôi đã chờ tôi trước cửa sổ mở rộng, bàn cờ "dame" trước mặt. Giọng nóng nẩy, ông hỏi:

- Sao con về trễ thế? Có gì hở?

-Thưa ông, không có gì.

Ít lâu nay tôi trở nên khép kín đối với ông, vả chăng ông không còn là bậc anh hùng đối với tôi và bí mật quý báu này tôi không muốn chia sẻ với ông.

Phải công bình mà nhận rằng ông ít thay đổi hơn tôi: vẫn còn khỏe mạnh, tuy râu ông ngả bạc và chiếc áo ghi lê càng ngày càng nhiều vết bẩn hơn. Gần đây, bạn ông, ông Peter-Dickie đã vào Viện dưỡng lão. Song về phần ông, ông rất ghét nghe ai nói đến chết chóc cũng như nhắc đến tuổi tác đè nặng người ông. Càng lúc ông càng tỏ ra yêu đời, vui vẻ nhất là trong lúc này, theo lệ thường, bà cố tôi đã đi Kilmarnoch.

Ông không vui vì cảm thấy tôi không hăng say chơi cờ với mình, cái thú ông vẫn say mê:

- Robert, con làm sao vậy? Y như ngồi trên lửa...

Tôi nén lòng đến ngồi trước mặt ông, ông cúi đầu nhíu mày nhìn bàn cờ, chú chú chăm chăm tính nước và ông giăng bẫy tôi bằng cách đi một nước cờ với vẻ hết sức lơ đãng, tay còn gõ gõ ống điếu nữa chớ.

Còn tôi, tôi đầu óc đâu mà nghĩ đến trò chơi: tôi đang bị ám ảnh về cái đề nghị tốt đẹp của thầy Reid. Trước mắt tôi tương lai rộng mở. Như tất cả các bạn đồng học, tôi hết sức lo lắng, bối rối khi sắp rời trường để chọn nghề. Tôi có tham vọng, muốn trở thành một nhân vật đặc biệt, nhưng hoàn cảnh tôi chỉ cho tôi rất ít hy vọng để trở thành mẫu người tôi ao ước. Ở trung học tôi luôn luôn nhất lớp và các giáo sư đều tiên đoán tôi sẽ tiến xa. Song chưa một vị giáo sư nào, trừ thầy Reid để ý đến tôi đặc biệt. Thầy là người chú ý đến năng khiếu tôi, tỏ ra thân mật đối với tôi, thầy khám phá ra tôi, đứa học trò say mê vạn vật có cái gì khác hơn là sự giải trí suông. Tóm lại, thầy có biệt nhãn đối với tôi. Tôi còn nhớ rõ...

Một hôm vào mùa hè, một đôi bướm xanh loại thông thường nhất bay qua khung cửa sổ mở rộng, vào lớp. Cả lớp đều ngẩng lên, nhìn. Giọng mơ màng như là đặt câu hỏi cho chính mình chứ không phải cho bọn môn sinh, thầy Reid nói:

- Tại sao chúng bay thành cặp, nhỉ?

Im lặng giây lâu và rồi, tôi rụt rè đáp:

- Thưa thầy, vì bây giờ là mùa chúng ghép đôi.

Thầy nhìn tôi hỏi thêm:

- Có phải trò nghĩ rằng bướm cũng biết yêu nhau không?

- Thưa thầy, vâng! Chúng nhận ra nhau cách xa hàng dặm nhờ một mùi thơm do chúng tiết ra.

- Chuyện khá lý thú đấy! – Thầy tiếp, vẻ nghi ngờ về sự hiểu biết của tôi – Này, Robert! Trả lời tôi câu nữa: làm sao chúng nhận ra mùi của nhau?

- Thưa, nhờ những gai thịt ở đầu mấy sợi râu...

Thấy thầy nhìn tôi, mỉm cười có vẻ tán thưởng và khuyến khích, tôi thêm:

- Thưa thầy, điều này cũng chưa có gì là mới lạ, so với loại Amrial pourpre, giống này ngửi bằng cẳng kia...

Bạn học tôi cười lên như phá, nhưng chúng bị thầy cắt ngang:

- Im đi, lũ ngu! Ít nhất trò ấy còn khá hơn các trò. Này, Robert! – Ông tiếp tục hỏi tôi – Trò có thể cho biết chúng có thể nhận ra nhau không, nếu không có cái mùi đặc biệt kể trên?

- Thưa thầy, mắt của loài bướm lạ lắm: nó gồm khoảng ba ngàn phần tử, mỗi phần gồm có đủ giác mô, võng mô, thủy tinh thể, nhưng dù chúng có tài phân biệt mầu sắc, chúng chỉ có thể thấy rất gần, không quá một thước hai.

Khi tôi dứt lời, nét mặt thầy rạng rỡ hẳn lên song thầy không hỏi tiếp gì nữa. Cuối giờ học, trong khi sắp hàng, thầy mỉm cười với tôi. (Ôi chao! Làm sao quên được cái cười thân mật đó!).

Kể từ ấy, không những khuyến khích tôi tiếp tục học thêm về Sinh vật học, thầy còn dạy tôi Vật lý, trình độ cao hơn các bạn tôi. Vài tháng kế đó, thầy dắt tôi vào phòng thí nghiệm, hướng dẫn tôi thêm.

Nhờ vậy, tôi thường rất cô đơn, trở nên mến phục thầy rất mau và những lời thầy dạy trong lớp, tôi xem ngang như Kinh Thánh.

Gavin đã theo lời cha vào trường nội trú Larchfield năm ngoái. Điều này làm tôi đau đớn không ít. Đó là một trường Trung học trưởng giả nổi tiếng, học phí rất đắt, khó có con nhà trung lưu nào học nổi. Tôi chỉ còn một điều an ủi là: tuy Gavin được cảm tình của nhiều bạn mới, nó vẫn quý mến nhất có mình tôi không thay đổi.

Mỗi trưa hè, mượn xe đạp thầy Reid, tôi vượt 15 dặm đến để xem bạn tranh giải cho trường. Thoạt thấy tôi, tức thì Gavin bỏ hết đám bạn vây quanh, can đảm chạy lại với tôi. Tôi, kẻ phá đám, khép nép đứng chờ bạn ở một góc sân thể thao, cái sân sang trọng. Gavin, áo thun sọc, quần nỉ mềm trắng, buông mình xuống cỏ cạnh tôi, bứt cọng cỏ đưa lên miệng, hỏi:

- Sao? Ở Levenford có gì lạ không?

Và nhìn sâu vào mắt nhau, chúng tôi biết rằng không gì chia rẽ được chúng tôi, trừ cái chết, nhưng chúng tôi còn trẻ quá, lo gì?

Song dù tình bạn chúng tôi khăng khít, mãnh liệt, dù suốt ngày nghỉ nào cũng có mặt bên nhau, chúng tôi vẫn cam chịu xa nhau hàng tháng dài vì bận học. Phần tôi, đáng lẽ thay vì bằng lòng với một thằng bạn kém hơn Gavin đôi chút, tôi thà cô độc thui thủi một mình.

Một mình, tôi rong ruổi khắp các vùng quanh tỉnh, tôi quen thuộc từng tổ chim, từng phiến đá, từng lối mòn trên các ngọn đồi Winton. Cho đến nỗi mấy bác gác rừng quen mặt và cho phép tôi tự do đi lại, đó là một đặc ân hiếm có.

Bộ sưu tập của tôi tăng dần. Tôi có cả những loại sâu bọ hiếm nhất, như con chuồn chuồn đặc biệt thuộc loại Pantala flavescens, theo tôi biết thì chưa bao giờ được thấy ở Tô Cách Lan này, trước đây. Nhờ tìm tòi thám hiểm, tôi không hề ao ước "nghỉ hè trên bãi bể" như các bạn. Trí tưởng tượng mang tôi ra xa hơn mấy bờ bể nhỏ. Đồng hoang đối với tôi trở thành rừng hoang vu, nơi tôi mạo hiểm xông pha với nhiều thận trọng.

Nhưng thưa các bạn, đừng ngỡ là ngoài giờ học tôi được tự do theo đuổi đàn bướm suốt ngày đâu. Ba tôi luôn luôn trông coi cho giờ rảnh rỗi của tôi trở thành hữu ích. Từ lúc ông cho là tôi đã đến tuổi có thể làm việc được, ông kiếm việc cho tôi ngay.

Hiện nay, sáng sáng tôi phải đến lò bánh mì Baxter, lấy xe ba bánh đạp đi giao bánh nóng cho thành phố đang còn ngái ngủ. Số tiền kiếm được, ba tôi cất hết, viện lý do chính đáng: để trang trải một phần phí tổn nuôi tôi.

Ông không ngừng thúc bách mẹ tôi giảm chi, dù bà đã giảm chi đến mức tối đa.

Thời gian gần đây, ba tôi đích thân thanh toán mọi chi phí trong tháng, ông luôn luôn đòi bớt, bớt, bớt cho đến nỗi người bán phát khùng lên; mua bất cứ vật gì ông cũng cò kè lâu lắc. Mỗi khi nghe bán đấu giá, bán xôn một vật gì xem ra có ích (theo ý ông) ông liền quyết định đi mua. Nhưng tính hà tiện của ông thường thắng: trở về với hai tay không, ông vui vẻ reo lên rằng tiền vẫn còn nguyên!

Một tiếng kêu thích thú làm tôi chợt tỉnh, tiếng kêu của ông tôi. Đầu óc bay bổng đâu đâu nên tôi đã thua nốt hai con cờ chót. Ông tôi cười hả hê:

- Ta thắng được con rồi, thấy chưa? Thắng cậu học trò thông minh nhất tỉnh đâu phải chuyện chơi?

Tôi vội vàng rời ông ngay, chỉ nơm nớp sợ ông giữ lại bày ván nữa.

_____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI BA

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2016

CHƯƠNG MƯỜI MỘT_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI MỘT


Cậu Murdoch sửa soạn đi thi. Vị độc giả trung thành với các loại sách mẫu hạt giống và cách trồng tỉa đã sẵn sàng trong hành lang. Diện bộ lễ phục, mang đôi giày tốt nhất, trước mặt cậu là mẹ tôi đang quỳ, đôi tay đỏ chai vì công việc nội trợ đang cầm bàn chải, chải vết bùn dính ở lai quần cậu, nét mặt già nua của mẹ rạng rỡ hãnh diện.

Mẹ, người vất vả vì chúng tôi, lo nấu nướng, giặt ủi, may vá, chùi rửa nhà cửa... người dậy sớm nhất, thức khuya nhất, người làm tất cả mọi việc mà không mong đợi một phần thưởng nhỏ; mẹ, người nhẫn nhục chịu đựng tính biển lận ngày càng tăng của ba... Người khổ cực trong mọi việc nhà mà vẫn tìm chút thì giờ để săn sóc âu yếm cha già bị bỏ rơi trên kia và đứa cháu nhỏ mồ côi mà định mệnh đã trao vào tay mình.

Riêng hôm nay, tất cả đều dành cho cậu con trai út, ngày quan trọng nhất. Cậu tỏ ra hết sức tự tin. Chiều qua, trong lúc nói chuyện với cha, cậu quả quyết:

- Con đã cố gắng hết mình, ba đừng lo!

Chắc là nhờ gãi đầu, làm rơi gầu đầy cổ áo, cậu đã nhét được vào đó ít chữ nghĩa cần thiết chi đây?

Trong túi cậu có tiền ăn trưa, một bút, một tẩy, mấy ê ke, thêm đến những hai cặp kính (để ngừa rủi ro) tóm tắt lại cậu chuẩn bị đủ thứ cần thiết. Đáp chuyến tàu hỏa lúc 7 giờ 20, cậu rời nhà đi ứng thí ở Winton. Đứng ở bậc thềm, mẹ và tôi vẫy tay từ giã và chúc may cho cậu...

Mỗi chiều, cậu về nhà do chuyến tàu bốn giờ. Riêng ba tôi, ông về sớm hơn, chờ sẵn ở nhà.

- Sao? Con làm bài khá chứ?

- Khá lắm, thưa ba!

Mỗi ngày qua, tin tưởng của cậu mỗi tăng. Trong lúc mẹ dọn cho cậu bữa ăn xế, cậu ăn ngon lành thì tất cả chúng tôi ngồi chăm chú lắng nghe cậu kể chuyện thi cử đã trải qua bằng những câu ngắn, giọng điềm tĩnh:

- Thật tình, con cũng ngạc nhiên: bài thi sáng nay sao dễ quá! Con viết liền một mạch đầy mấy trang, phải xin thêm, trong lúc đó tụi bạn con cắn bút ngay từ trang đầu.

- Tốt quá, con thế là giỏi!

Mắt sáng lên, ba tôi khen cậu. Mẹ táo gan dọn cho cậu miếng thịt đông dày cỡ miếng thịt của ba. Mọi người trong nhà, kể cả tôi đều cảm thấy cậu thành công đến nơi, và lấy làm mừng cho cậu.

Ngày thứ tư đến, ngày tôi được dì Kate và Jamie dắt đi hội chợ. Ông tôi vui vẻ kể cho tôi nghe những thú vui tại hội chợ làm tôi say mê. Tôi nói:

- Cháu sẽ được dì Kate dắt đi, cháu sẽ được biết những trò vui đó, ông nhỉ!

- Dĩ nhiên, ông cháu ta sẽ được dự tất cả các trò vui.

Tôi hết sức ngạc nhiên: ai đưa ông đi? Ông làm sao có tiền để làm lộ phí? Hay là có ai mời ông? Nhưng tôi mãi tưởng tượng đến thú vui do ông kể nên quên hỏi ông điều quan trọng đó đi.

Đúng hai giờ chiều anh Jamie đến đón dì cháu tôi (chúng tôi đã đợi sẵn nơi phòng khách) và chúng tôi không khỏi kinh ngạc khi thấy anh Jamie từ cái xe mầu vàng chóe mới tinh, bước xuống oai vệ như... một ông chủ xe hơi chính cống! Anh cười toe toét giải thích rằng bạn mình, anh Lightbody làm thợ máy ở xưởng Argyll đã mượn xe này để đưa chúng tôi đến hội chợ.

- Đừng tưởng chỉ có mình Adam mới có thể đi xe hơi, nghe bồ!

Jamie vui vẻ thêm. Chúng tôi tiến lại bắt tay anh Sam ngồi chễm chệ đằng tay lái. Theo lời khuyên của anh này, dì tôi chạy về phòng lấy chiếc khăn voan mỏng để giữ cho mũ khỏi bay.

Trước khi lên xe chúng tôi còn đi vòng quanh chiếc xe ngắm nghía một cách thích thú. Đúng lúc đó, ông tôi xuất hiện, áo quần chải chuốt, tay chống cái "can" đẹp nhất, cất giọng chào mọi người và khen:

- Cái xe tốt thật! Đúng điệu thật! Thật đúng điệu!

Ông gật gù ra dáng hài lòng khi ngắm cái xe, đoạn quay sang Jamie, giọng ông nghiêm nghị:

- Này, Jamie! Cậu đừng tưởng ta để cho cậu đưa cháu ta đi hội chợ Ardfillan đến tối mịt, không biết giờ nào về... mà... mà chỉ có mình cháu Robert nhỏ xíu đi theo đâu, nhá?

Dì Kate bực mình nói:

- Thưa ông, nhưng... có ai mời ông đi đâu?

Jamie bật cười to (anh quen ông tôi, hai người vẫn sóng đôi từ quán rượu đi ra) vui vẻ:

- Càng đông càng vui, có hại gì? Lên xe đi, ông!

Chiếc xe, sau khi hục hặc vài cái, nổ máy và chúng tôi hãnh diện vượt mau trên đường Drumbuck. Dì tôi và Jamie ngồi băng trước, khăn quàng cổ của dì bay phất phới trước gió, ông và tôi thoải mái ở băng sau.

Xe chạy được một quãng, Jamie lấy ra điếu xì gà to tướng mời ông, lập tức ông không đợi mời tiếng thứ hai, nhận lấy liền. Ngồi tréo chân một cách bệ vệ, ông tôi vừa châm lửa đốt thuốc, vừa nói với tôi:

- Đi dạo kiểu này tuyệt quá! Robert nhỉ? Hy vọng anh Sam sẽ đưa chúng ta đi dạo một vòng quanh thành phố cho thiên hạ lác mắt chơi!

Xe qua khỏi nhà ga thì có tiếng kêu giật làm tôi quay lại: cậu Murdoch vừa từ ga ra, giơ tay vẫy. Tôi hét dựng lên:

- Anh Sam! Dừng xe lại! Cậu Murdoch kìa!

Xe dừng lại đột ngột, khiến cho mọi người ngã nhào tới trước, nó rung chuyển đến nỗi tôi như hạt gạo trên sàng. Sam có vẻ không vui, trong lúc cậu tôi chạy bay tới, phóng lên xe, ngồi vào băng sau, tuyên bố rất... tự nhiên:

- Tôi... tôi đi với mấy người!

Im lặng! Chao! Sao gia đình chúng tôi có nhiều người tự mời mình quá vậy chớ?

Cái xe lao đi, vòng quanh thành phố.

Tôi quay hỏi cậu:

- Cậu làm bài khá không, hở cậu?

- Khá lắm, Robert! – Cậu gật gù.

Tựa lưng vào ghế, cậu há miệng ra, hào hển thở. Tôi lo lắng nhìn khuôn mặt xanh xao của cậu, thương hại khi nghĩ rằng cậu đã quá sức vì chạy bộ theo kịp cái xe. Hình như cậu định nói gì đó, song lại thôi, lấy mũ phe phẩy ngang mặt như thể là nóng quá!

Xe chạy ra khỏi thành phố, trước mặt chúng tôi xa xa là mặt bể lấp lánh ánh nắng. Xuyên qua các cánh đồng và cồn cát, con đường trải dài như một giải băng trắng. Bên trái, sừng sững ngọn Ben xanh ngắt, thấp thoáng trong một làn sương mù. Khung cảnh yên tĩnh, xinh đẹp tuyệt vời.

Xuống khỏi dốc, xe đạt đến tốc độ 20 dặm một giờ. Đi ngang làng mạc, nông dân túa ra cửa nhìn chúng tôi, những người đàn ông ngẩng lên, ngưng việc, khoa cuốc xẻng, chào chiếc xe sang trọng, lạ lùng! Súc vật thì không mấy hài lòng, có vẻ tức giận – hay hốt hoảng? – vì con vật lạ đã làm rộn chúng. Anh Sam quả thật là anh tài xế lý tưởng: anh hết sức khéo léo mới tránh được mấy con bò bướng bỉnh, mấy chú chó giận dữ đuổi theo sủa vang lên, lũ gà cục tác bay tán loạn dưới bánh xe. Vài bận thấy lông gà rơi lả tả nhưng nhờ bụi mù mịt, chúng tôi khỏi ân hận là đã cán chết chúng dưới bánh xe.

Có một lần bị ê mặt: chả là khi xe lên dốc, nó chết máy thình lình. Vài gã thô lỗ – chắc cũng đi hội chợ – ngang qua chúng tôi cười giễu:

- Thôi! Xuống đẩy cho xong!

Bốn giờ chiều chúng tôi đến nơi, nghĩa là trước giờ mở cửa những một giờ. Các trò giải trí bắt đầu trễ hơn nữa. Dì Kate xuống xe đi mua cho mẹ tôi vài thứ cần dùng trong hiệu tạp hóa nổi tiếng của thành phố miền bể dễ thương này. Sam tìm chỗ đậu xe. Còn chúng tôi thì náo nức nhìn các gian hàng, các băng quảng cáo trong khuôn viên hội chợ. Khu vực được dùng tổ chức hội chợ là một cánh đồng rộng sát bãi bể. Tiếng náo loạn lẫn trong tiếng sóng.

Đang ngồi yên một góc trong lòng xe, xanh xao và thiểu não bỗng cậu Murdoch bật dậy mạnh đến nỗi làm cho cả giàn xe rung chuyển, tôi ngỡ đâu là anh Sam lại nổ máy chi đây? Nhưng tôi chợt hiểu khi cậu quát lên:

- Ta sắp tự tử! Ta tự tử cho mà xem!

Giọng nói và thái độ cậu quả quyết, hùng hồn cho đến nỗi mọi người kinh hoảng. Hai nắm tay đập thình thình lên nệm xe, mắt trợn trừng, cậu thét lên:

- Ta tự tử cho mà xem! Ta không muốn thi vô Quốc gia Bưu điện! Lỗi tại ba! Lỗi tại ba hết! Ta chết cho mà xem! Ba phải trách nhiệm...

Ông tôi kêu to:

- Nhân danh Thượng Đế! Bình tĩnh lại đi cháu! Cái gì xảy ra?

Cậu giương đôi mắt cận thị nhìn ông và tất cả chúng tôi, rồi thình lình cậu dựa ra nệm xe, khóc rống lên:

- Ông ơi! Con bị đuổi ra khỏi phòng thi! Sáng nay, họ kêu riêng con đến, bảo "đừng trở lại nữa". Có lẽ họ lầm! Bài vở con trôi chảy cả mà!?

Cậu tôi thi hỏng? Ai nấy kinh ngạc. Tiếng khóc cậu làm chúng tôi đau lòng nhưng đám người hiếu kỳ bu quanh làm chúng tôi khó chịu. Ông tôi nắm cổ áo cháu, dỗ dành:

- Nào, nín đi cháu, nín đi! Rồi khắc có cách!

- Phải giúp cậu ấy lên tinh thần! Một ly rượu...

Sam quả quyết. Ông tôi:

- Phải! Ta có kinh nghiệm về điều này. Nào! Cho nó ly rượu ngay!

Ông tôi và Jamie đỡ cậu xuống xe, Sam nhanh nhẹn lại mở cửa quán giải khát trước mặt. Trước khi họ biến vào căn phòng tối om và mát mẻ đó, anh Sam chu đáo dặn tôi:

- Em đi dạo quanh một vòng đi nhé? Chúng ta chỉ vào một lúc thôi, không lâu đâu.

Tôi chần chờ trước quán, nghĩ đến cậu Murdoch đáng thương nên mất hết hăng hái lúc đầu, song sau đó một lúc, tôi cũng tiến vào khuôn viên hội chợ, nơi dân chúng đổ xô đến. Tôi nhận ra vài khuôn mặt quen thuộc ở Levenford và... chao ơi! Tôi chợt nhận ra cái đầu nhỏ nhắn, mái tóc nâu, khuôn mặt rám nắng của bạn tôi: Gavin! Thế là trong chớp mắt, tôi quên phăng tình cảnh đáng thương của cậu tôi.

Tay trong tay, hai đứa tôi lẫn vào đám đông, thích thú... chúng tôi dự đủ mọi trò chơi: bắn súng, ném vòng. Thua có, ăn có. Chúng tôi dừng lại xem trò múa rối. Đầu chúng tôi vương đầy hoa giấy, áo gắn đủ thứ huy hiệu. Đêm xuống dần, đèn hơi ga được đốt lên. Đám đông dày đặc, nhạc vang dội, điếc tai.

Một đoàn xe hỏa nhỏ chạy ngang, trên một toa trần, dì Kate và Jamie ngồi cạnh nhau cười tươi tỉnh. Anh Sam, ông tôi và Murdoch thì cỡi ngựa gỗ chạy vòng tròn dưới ánh đèn sáng choang. Ý cha! Rõ ràng là một cậu Murdoch khác con người cậu lúc vừa rồi: mũ giấy sặc sỡ, dây vắt ngang tai, miệng ngậm điếu xì gà to tướng, mắt sáng ngời, đôi lúc chồm mình trên lưng ngựa hú lên như một kỵ mã trong phim mạo hiểm!

Đêm khuya, thật khuya, chúng tôi mới gặp nhau quanh xe. Thật quả chúng tôi đã trải qua một ngày vui tuy hơi mỏi mệt. Dì Kate rạng rỡ như đóa hoa nhìn anh Jamie âu yếm. Murdoch bắt tay Gavin một cách nồng nhiệt. Anh Sam, nhân vật quan trọng nhất thì biến mất, ô không! Anh đang hý hoáy mở nắp thùng xe!

Trên đường về, xe chạy trong đêm mát rượi, bỏ sau lưng tiếng động rời rạc và ánh sáng có vẻ uể oải, mỏi mệt như... chúng tôi. Sau xe, cậu tôi và ông tựa vào nhau ngủ gật. Băng trước dì Kate với Jamie ngồi sát vào nhau. Anh Jamie choàng tay qua vai dì tôi, thân mật. Chắc họ đang ngắm trăng? Gavin với tôi nắm tay nhau, êm ả trong tình bạn, tưởng như đang cùng nhau lao vào bóng đêm tĩnh mịch và vô định, nhưng không chút lo sợ. Dưới ánh trăng mát dịu và vô vàn vì sao lấp lánh, chúng tôi cảm thấy gần gũi nhau, sung sướng cho đến nỗi muốn kéo dài giây phút bên nhau không dứt. Gavin thì thầm bên tai tôi:

- Robert! Tao thích như thế này!

Tôi gật đầu, đồng ý vì hiểu nó muốn nói gì. Nó cùng tâm trạng với tôi.

Ai cũng có đôi bạn hết. Chỉ mình anh Sam lẻ loi, anh im lặng chăm chỉ lái xe. Anh quả đáng thương! 

______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI HAI

CHƯƠNG MƯỜI_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG MƯỜI


Tháng 7 đến, sắp nghỉ hè. Lúa nghiêng mình dưới làn gió nóng, trĩu hạt, sắp chín vàng. Gavin và tôi rong chơi cùng khắp, triền núi Garshake mọc đầy dâu rừng, chúng tôi hái ăn và mang về cho mẹ cả xô đầy, mẹ rất thích vì thứ dâu rừng làm mứt ngon thập bội so với thứ mứt đại hoàng mà chúng tôi phải cố nuốt hàng ngày.

Hai đứa tôi còn tắm suối, lần đầu tôi tập bơi, đàn cá vàng kinh ngạc thấy người, lội nhanh để trốn, chạm cả vào chân chúng tôi. Tôi thích thú kêu to và hai đứa cười ròn rã. Vùng vẫy trong nước thật quả có ích: mọi ưu phiền của tôi như trôi tuột, như được rửa sạch.

Rồi chúng tôi chạy nhảy bằng thích và cuối cùng nằm dài lên cỏ, ngửa mặt nhìn trời, tận hưởng hạnh phúc. Vòm trời trong xanh, không khí tinh khiết, ấm áp, nắng vàng, cây lá xanh tươi và trong tôi bừng lên sức sống.

Có lẽ tôi đã sống như một kẻ ngoại đạo. Làn gió hè thổi tan những ý tưởng về Thượng Đế ra khỏi tâm trí, tôi chả hoài hơi lưu tâm đến những bưu thiếp bà gửi về. Tối tối, tôi chả còn e ngại bọn quỷ dữ nấp ở xó nhà chỉ lăm le ám hại linh hồn tôi, như lời bà. Vừa đặt lưng xuống giường là mắt tôi nặng chĩu ngay, có khi chỉ vừa kịp đọc vội, đọc vàng một câu kinh ngắn cho có lệ.

Nhưng không bao lâu, tôi hay tin là sắp phải xa Gavin: mỗi dịp hè ba nó thuê một trại mát vùng Perthshire, ở đó có thể săn bắn, câu cá (một điều xa xỉ mà sau này người ta sẽ trách ông). Gavin nghỉ hè tại đó, một vùng cao nguyên đầy cỏ dại và thơ mộng.

Chị Julia không ngớt lặp đi, lặp lại cho tôi biết rằng tôi có thể đến đó nghỉ hè với Gavin. Mà tôi, tôi cũng rất thích, song than ơi! Áo quần thảm hại quá, chưa kể phí tổn di chuyển bằng tàu hỏa và nhiều khó khăn khác về tài chánh khó nỗi vượt qua, vì vậy, dự định tốt đẹp ấy bị bóp chết ngạt từ trong trứng!

Hai đứa tôi chia tay ở sân ga, mắt mờ lệ. Chúng tôi nắm tay nhau thật chặt không muốn buông ra và hứa trung thành cùng là nhớ đến nhau luôn.

Trọn tháng ròng, tôi chỉ biết lang thang bên mấy ngôi nhà tranh có rào đầy bụi rậm. Gió thổi hun hút giữa lùm cây nghe như tiếng thở dài ảo não của đất đai đã cạn dần sinh lực.

Phần đông các gia đình khá giả ở Levenford đều đi nghỉ mát ở bờ bể. Thành phố đìu hiu vắng vẻ trở thành xa lạ đối với tôi, y như một thành phố bị quân ngoại xâm chiếm đóng.

Gavin vắng mặt nhưng đều đặn gửi thiệp về, giọng nó tràn ắp nồng nhiệt làm tôi càng nôn nả mong gặp nó.

Thế rồi, một buổi chiều tôi đi dạo trước khi vào làm một bài luận dài ngoằng về Marie-Stuart, nữ hoàng Tô Cách Lan, tôi lại gặp Jamie – anh vẫn có lệ chiều chiều đến ngồi trên thành tường thấp bao quanh vườn nhà tôi – quay lưng vào nhà. Chiếc khẩu cầm trên miệng, anh thổi lên một điệu nhạc rất lôi cuốn, tôi nghe mê nhưng không biết tên nên đặt là "điệu nhạc của anh Jamie" – Anh cứ điềm nhiên thổi trong lúc tôi lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh. Chúng tôi cùng tận hưởng hơi mát truyền lên từ thảm cỏ vàng đẫm sương chiều, từ những cụm mây mù vây kín những mái tranh khô héo.

Cỡ bảy giờ, dì Kate đầu trần, hai tay thọc vào túi, cổ áo choàng mỏng mầu xám kéo cao lên, rời nhà đến thăm cô bạn. Dì làm như chỉ thấy có mình tôi. Còn Jamie? Anh cũng làm như không thấy dì, có điều dì càng đi xa, điệu nhạc càng to lên như đuổi theo sát gót. Tôi hiểu lờ mờ rằng đây chính là một dạ khúc Tô Cách Lan, chậm, dìu dặt, thấm thía...

Một hôm, cảnh đó tái diễn, và dì ngừng lại trước chúng tôi đột ngột, giọng dì nghiêm nghị:

- Robert! Cháu nên vào nhà thì hơn!

Tôi chưa kịp trả lời dì thì anh Jamie ngừng thổi kèn, đón lời:

- Kìa, thằng bé có làm gì bậy đâu?

Dì Kate trừng mắt nhìn anh Jamie, tia nhìn giận dữ, nhưng anh vẫn thản nhiên làm dì phải quay đi không biết nói gì khác nữa. Giọng lửng lơ, anh lại nói:

- Chào! Buổi chiều hôm nay trời đẹp làm sao!

- Chắc chắn trời sắp mưa!

Dì tôi trả đũa, Jamie vẫn tươi cười:

- Có thể lắm, nhưng hại gì, một cơn mưa nhỏ ấy mà!

- Anh giữ tôi lại để nói chuyện thời tiết đấy hẳn?

Giọng dì dấm dẳng, nhưng trong cái tranh tối tranh sáng của buổi chiều, tôi thấy dì đẹp ghê đi: thân hình cao, rắn chắc, chân thon, thẳng. Jamie lơ đãng đưa kèn lên miệng thổi vài tiếng rồi nói:

- Tôi nghĩ đây là một buổi chiều lý tưởng để... đi dạo...

- Hả? Đi dạo? Xin hỏi anh: đi dạo ở đâu?

- Ờ! Đâu mà không được...

- Dễ nghe há? Tôi không định đi dạo, tôi đi thăm bạn tôi, anh hiểu chưa?

Dì sắp quay đi, tức thì Jamie nhảy phóc xuống, phủi quần, nói mau:

- Tôi cũng đi đường ấy. Tôi xin phép được đưa cô đi!

Dì Kate có vẻ bối rối, không nói năng gì. Nhưng tôi có cảm tưởng là khi hai người sóng đôi được một đoạn thì bóng tối đã che mất đôi chân cong của Jamie! Phải! Quan tâm làm chi đến đôi chân? Đáng kể là tấm lòng kia chứ!

Nán lại một chút chờ họ đi khuất, tôi vào nhà, mở cái cặp ra, soạn sách vở làm bài. Nơi bàn ăn, cậu Murdoch có vẻ khá chăm chỉ, nhưng tôi ngạc nhiên thấy cậu không hề lật sách. Cậu gãi đầu liên hồi, gầu rơi đầy trang giấy. Tôi tự hỏi cậu có thực sự học không vì vài bận tôi thấy giữa các trang sách của cậu thò ra một cuốn mẫu hạt và cách trồng tỉa, bằng chứng hiển nhiên về sự ham thích trồng trọt của cậu tôi.

Suốt ngày, cậu ngồi học một cách miễn cưỡng, day trở không ngừng, đứng lên rồi ngồi xuống, khi thì chạy đến trước gương nặn mấy cái mụn trứng cá, khi thì lẻn ra vườn, lang thang như một tâm hồn đau khổ. Đôi lúc vô tình cậu hé cho tôi thấy rõ tư tưởng thầm kín của cậu:

- Robert này, mày biết không: bên Hòa Lan họ trồng từng mẫu Uất Kim Hương cơ đây! Tưởng tượng coi: từng mẫu Uất Kim Hương?

Tối tối, ba tôi ngồi ngay sau lưng cậu, im lặng và kiên nhẫn như một bác đánh xe ngựa. Sẽ có cuộc thi tuyển vào Quốc gia Bưu Điện tháng tới. Ngày ấy càng gần, ba càng nắm chặt dây cương hơn, tôi dám chắc ba không ngần ngại gì mà không dùng roi, nếu thấy cần và con ngựa khốn khổ chắc bạn đã rõ: không ai khác hơn là cậu Murdoch của tôi!

Ba nhất định cậu tôi phải đậu, không chỉ để bảo đảm tương lai của cậu mà còn để thỏa mãn tính kiêu hãnh của ba. Ba đã không thành công và được yêu vì trong xã hội, ông cần trả thù, ông ao ước hết lòng được báo tin cho mọi người, từ ông Thị trưởng, luật sư Mc Kellar, bác sĩ Lair, cho xếp ông, bằng giọng hãnh diện rằng chính con trai thứ của ông đã trúng tuyển vào Quốc gia Bưu Điện!

Tôi sẽ sàng đến ngồi gần cậu, hết sức sẽ sàng để tránh làm rộn người đang học thi. Mẹ đã cẩn thận bao sách tôi bằng loại giấy nâu dày để giữ cho lâu bền – ở nhà này không được làm hư hại bất cứ một vật gì – Ông tôi thì đề tên tôi lên ngoài bìa bằng nét chữ rắn rỏi và rất đẹp. (Tôi đã lên lớp ba tháng nay rồi. Thầy giáo mới, ông Singer hói đầu, cử chỉ từ tốn, chậm chạp và rất thứ tự, tỏ vẻ ân cần đối với tôi. Tôi tấn tới rõ ràng, tỏ ra có năng khiếu đặc biệt). Nhưng tôi không bao giờ kể chuyện đó ra với ba tôi, vì tôi biết ông không cần quan tâm đến. Trong khi soạn cặp, vô tình tôi làm rơi tờ ghi phiếu điểm thi tam cá nguyệt đệ nhất xuống gạch làm ba chú ý, tôi lúng túng đỏ mặt lên làm ba thêm nghi, ra hiệu đưa ông xem. Tờ giấy ghi phiếu điểm mầu vàng nhạt, khá dày, do chính tay thầy Ginger ghi chép: tôi được nhất về Toán, Địa lý, Sử ký, Anh văn, Pháp văn, nhì môn Vẽ và được xếp hạng nhất ở lớp.

Xem xong, ba có vẻ ngạc nhiên, nhìn tôi dò xét, như... nghi ngờ. Mà làm sao không tin chớ: chữ ký và chữ viết đều do tay thầy tôi. Song tôi ngạc nhiên thấy thay vì hài lòng, ba tôi trả tờ giấy với sắc mặt không vui. Tôi khổ sở chúi mũi vào trang sách.

Im lặng. Chỉ có tiếng tích tắc của đồng hồ, tiếng lật sách, tiếng cựa mình trong ghế của ba kêu lên ken két. Quên, còn tiếng kim đan của mẹ nữa chớ: mẹ đang đan khăn choàng cổ cho cậu Adam. Luôn luôn đan khăn choàng cho cậu Adam! Chín giờ tối, dì tôi về và đi thẳng lên lầu sau khi chào cha mẹ. Chúa ơi! Tôi có lầm không: hình như dì hát khe khẽ bản nhạc của Jamie?

Chín rưỡi, mẹ nhìn tôi ra hiệu, tức thì tôi dẹp sách vở hết sức cẩn thận vì nơm nớp lo sợ đụng chạm bàn ghế, ba sẽ nổi giận lên, rồi tôi chui vào phía sau màn, cái góc của tôi.

Chúa ơi! Tôi đói quá đi! Sao mà y như chưa ăn chiều vậy! Ước gì có mẩu bánh mì nhỉ! Tôi biết mẹ không nỡ từ chối với tôi, nhưng làm sao xin được giữa lúc này? Nén cơn đói, tôi thay áo và quỳ gối đọc Kinh, đoạn lên giường.

Đôi khi, tôi thao thức tận lúc cậu đi ngủ. Cũng là lúc ba mẹ thì thầm bàn tính chuyện nhà. Tôi nghe thoang thoáng tiếng được, tiếng mất. Sở vệ sinh Ardfillan đòi ba nộp bản tường trình về việc hốt rác (Trời ơi! Tưởng gì lạ!). Hôm nay bà mua thịt bò hết bao nhiêu?... Đắt quá vậy? (Hoài! Lúc nào ông cũng chê mẹ tôi mua đắt!). Giọng ông cao hơn: "Năm nay bãi bỏ chuyện nghỉ hè ở bãi bể đi, để tiền gởi vào hội bất động sản, tốt hơn". Tiếng mẹ: "Ừ! Năm sau nếu Adam làm ăn khá hơn hay nếu ông lên chức"... "Trong lúc chờ đợi phải tiện tặn, tiện tặn, tiện tặn..."

Từ lâu, tôi quen thói keo kiệt của ba, hết cho là lạ lùng, càng ngày ông càng đam mê tiền bạc, tìm đủ mọi cách để khỏi chi ra. Mẹ tôi khổ sở rất nhiều vì thói ấy, bà phải chắt bóp từng ly, từng tí trong mọi việc tiêu pha. Tôi chắc mẹ tôi cũng như các bà nội trợ khác ưa mua sắm trong các nhà hàng lớn như Donaldson hay Bruce! Chao! Hàng bày trong đó mới hấp dẫn làm sao! Và tôi dám chắc nếu có đủ phương tiện, mẹ tôi là đầu bếp khéo nhất – trong vài dịp hiếm có, mẹ trổ tài làm bánh ngon kinh hồn – Tôi biết mẹ tôi thích dọn cho cả nhà những món ăn ngon lành.

Song luôn luôn, mở cái ví cũ mèm, đen chũi ra, lẩm nhẩm tính một lát, bà thở dài trở về với mấy món xúp lúa mạch cổ điển và sai tôi chạy qua quán mua một penny (1) xương (lần nào mẹ cũng dặn: "Nhớ bảo ông ấy chừa lại chút thịt, con nhé!") và ghé lại tiệm Logan mua thêm nửa penny vừa cà rốt vừa củ cải.

Tội nghiệp mẹ tôi: hôm thứ hai rồi, khi đánh rơi cái đèn dầu treo ngoài hành lang, mẹ đã bật khóc... Mà thôi! Tôi buồn ngủ quá đi!...

Một buổi tối, mẹ sai tôi đốt đèn ngoài hành lang. Tôi thấy dì Kate vừa về, trễ hơn thường lệ.

- Cháu đó hẳn? Robert? – Tôi biết dì hơi bối rối song giọng dì thân mật.

- Thưa dì vâng!

Trèo lên đốt đèn xong, tôi bước xuống ghế, dì nắm tay tôi bảo:

- Robert! Cháu ngoan lắm!

Tôi đỏ mặt sung sướng: Ít lâu nay dì rất dễ thương đối với tôi. Có vẻ ngập ngừng một chút, dì tiếp:

- Nghe này, Robert! Jamie nhất định mời dì đi hội chợ Ardfillan với anh ấy. Người đàng hoàng ai thèm đi như vậy chớ? Anh ấy cũng đồng ý với dì về điều này. Cho nên anh ấy... dì với anh ấy sẽ dắt cháu đi chung cho vui, nếu cháu thích...

Nếu? Tôi đã nghe kể những điều vui ở hội chợ Ardfillan, mỗi năm một lần nông dân các vùng lân cận đều đổ xô tới... Tôi thì thầm:

- Dì ơi! Cháu...

- Vậy là cháu bằng lòng, hử?

Dì âu yếm nắm chặt tay tôi và khi lên thang lầu dì báo cho tôi biết rằng Gavin vừa trở về, dì gặp nó ở sân ga.

Gavin trở về rồi? Thích quá: vậy là nó về sớm hơn dự định hai ngày. Vậy thì ngày mai tôi gặp nó rồi.

Gặp lại bạn thân, hội chợ Ardfillan, hai điều đó làm tôi tràn ngập vui sướng. Tôi hé cửa, nhìn bóng đêm thở mạnh. Đêm tối mịt, không một ánh sao nhưng làn gió nhẹ chứa chan hứa hẹn. Ôi! Đời mới đẹp làm sao!

--------------
(1) Penny : một xu Anh.

______________________________________________________________________

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

CHƯƠNG CHÍN_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG CHÍN


Mùa xuân vẫn như kéo dài. Khu Drumbuck có một ngõ nhỏ gọi là "con đường xanh". Tên này sai – đối với tôi lúc bấy giờ. Hai bên ngõ là những nhà nhỏ, một khu vực riêng biệt, khác hẳn khu nhà của các công chức của Levenford, kể từ ông Thị trưởng, ông Xếp ga, ông Chỉ huy trưởng đội Cứu hỏa cho đến viên Thanh tra sở Vệ sinh (là ông ngoại tôi). Chủ nhân những ngôi nhà này là nhân viên hãng đúc nồi gang.

Năm giờ sáng, còi đã hụ vì đến giờ làm việc, nên sáng không ai thấy họ đi ngang, chỉ vào buổi trưa, chiều, tiếng giày đinh của họ vang lên khắp đường, những bộ đồng phục xanh dương lấm lem, những khuôn mặt và đôi tay đen vì khói và dầu, thật trái ngược với ông ngoại tôi: đồng phục đính khuy đồng sáng loáng và mũ két trắng tinh!

Họ rất hiền lành, lương cao và công việc nhọc nhằn thực sự. Cho nên hễ chiều thứ bảy là họ đi chơi ở sân banh Levenford, hay hơn nữa: ngày chúa nhật đáp xe lửa đi Winton chơi. Đôi khi, họ còn đi bách bộ trong vùng và cao hứng họ dám ngừng lại rút khẩu cầm mang theo sẵn trong túi ra thổi lên một bản hay ra trò.

Trong đám thợ thuyền đó, tôi mến nhất anh Jamie Nigg, vì lẽ giản dị là anh ta rất mến tôi. Anh khoảng 30 tuổi, người thấp, vai rộng, tay dài, đôi mắt to, hơi buồn, có lẽ do đôi chân vòng kiềng của anh (tôi đoán thế). Mặc dù khi đi ngoài đường, anh cố sửa, song tôi thấy như cố tật vẫn không sao che giấu được.

Mỗi lần tôi tan trường ra là y anh đón đường tôi, nhìn tôi bằng hai mắt hiền lành, tay luôn luôn vuốt cằm (cạo râu mỗi ngày, dù vậy hai má và cằm anh vẫn thấy vệt xanh vì râu anh dày lắm).

- Sao? Mạnh chớ?

- Dạ mạnh! Cảm ơn anh Jamie.

- Ở nhà em, mọi người khỏe hết chớ?

- Cảm ơn anh, ai cũng khỏe hết.

- Ông ngoại em và cả gia đình đều khỏe?

- Thưa anh Jamie, vâng!

- Này, cậu em sắp thi đấy chớ?

- Thưa anh, phải; cậu em sắp thi.

- Bà em chưa về hở?

- Dạ, bà em chưa về.

- Hôm kia, anh thấy ông cố em ở sân vận động.

- Thế à?

- Ông cố em có vẻ khỏe lắm.

- Vâng!

- Hôm nay trời đẹp, hở?

- Vâng!

Hết chuyện! Im lặng giây lâu rồi anh Jamie cho tay vào túi rút ra một pence mỉm cười đưa cho tôi, kèm theo một câu khôi hài xưa rích vẫn thường được dùng ở Levenford:

- Cho em đấy! Cầm lấy! Và nhớ: đừng tiêu hết một lần trong cửa hiệu.

Tôi dạ to một tiếng cầm tiền chạy bay đi, anh đứng yên nhìn theo, nói với:

- Nhớ nói lại anh gửi lời thăm cả nhà, nghe?

Chả cần bận tâm tìm hiểu, tôi cho rằng anh Jamie tử tế với tôi là vì anh biết mẹ tôi ngày trước – cũng như ông Thị trưởng Blair, như chị Julia, và như nhiều người khác trong vùng.

Thật vậy, chỉ với mấy lời ngắn ngủi: "Ta có quen với mẹ em lúc trước" là đủ làm tôi phấn khởi, làm tuổi thơ côi cút của tôi tươi đẹp lên một chút và làm tôi tin tưởng vào lòng tốt của mọi người.

Vội vàng, tôi chạy đến quán bà Minns mua mấy viên kẹo chua chua có sọc xanh xanh, hồng hồng, không thắc mắc làm chi về cái lý do quá chu đáo của anh Jamie đối với tôi.

Từ sau khi nhận quà của cậu Adam, tôi học được chút kinh nghiệm... Và tôi cẩn thận hơn, và dù là anh Jamie dặn dò như thế, tôi vẫn tiêu ngay số tiền vừa nhận được, nếu không, sớm chầy người lớn cũng khám phá ra, hoặc khi thay quần áo nó từ túi quần lăn ra nền nhà bếp, làm ba tôi chú ý và nhất định là ông nhặt lên, bảo "để dành" cho tôi. Tôi còn bé, lại ăn uống thiếu thốn nên thèm bánh kẹo ghê gớm.

Tôi đâu phải hạng mù chữ, dốt nát? Cho nên tôi biết rằng thú vật trong rừng, ngoài đồng có thể chết vì thiếu ăn, dù bề ngoài xem ra... sung túc. Tôi cũng vậy,cái đói luôn luôn day dứt trong tôi, ngay cả khi vừa rời khỏi bàn ăn, nên tôi cho rằng nếu không có kẹo của bà Minns tôi dám chết quay lơ một ngày nào đó, chớ không chơi! Con nít rất cần chất đường cho cơ thể tăng trưởng, không phải sao? Nếu không người ta chế ra kẹo bánh làm chi?

Một bữa chiều thứ bảy, tôi tình cờ gặp anh Jamie – người vẫn gián tiếp cung cấp chất đường cho cơ thể tôi – ở góc "con đường xanh". Nhưng anh thì không, anh cố ý đón đợi tôi, chắc chắn như vậy. Chà! Anh có vẻ chải chuốt khác hẳn ngày thường. Bộ quần áo xanh dương, giày nâu và mũ két thấp có kẻ ô vuông đỏ, đen.

- Đi coi đá banh với anh không?

Tim tôi đập rộn lên: buổi chiều buồn bã trống rỗng vì Gavin ở Luss với ba nó chưa về. Xem đá banh: trò chơi này tôi chưa hề được dự mà cũng không hề chấp chới hy vọng được xem. Làm sao tôi từ chối nổi?

*

Lúc ra về, chúng tôi sát bên nhau như đôi bạn thân thiết. Đến ngã rẽ, anh đột nhiên trao cho tôi một cái gói, cái gói khá to đã là nguyên cớ khiến anh bối rối suốt buổi. Mặt bừng đỏ, giọng khàn khàn, anh nói:

- Em đưa cho dì Kate nhé? Nói là anh... tặng.

Ý cha! Lạ lùng chưa? Sao lại có dì Kate chen vô giữa hai anh em kìa? Dì Kate của tôi mà! Tình bạn thắm thiết của tôi và anh ấy có gì trục trặc đây chớ chẳng không? Trông dáng bộ tôi, anh Jamie càng đỏ mặt hơn:

- Em bằng lòng chứ? Cứ đem vô trong phòng dì, nhé?

Khi anh quay đi, tôi còn sửng sốt với gói quà trên tay. Về đến nhà, chả thấy dì đâu, cậu Murdoch thì đang vò đầu, vò cổ trước mấy cuốn sách dày cộp.

Theo đúng lời Jamie, tôi đi thẳng lên phòng dì, tôi reo to khi thấy dì:

- Dì ơi! Có quà cho dì! Có quà cho dì này! Sướng chưa?

Mặt tối sầm, dì tỏ vẻ không tin lời tôi, làm tôi phải lặp lại lần nữa, và đưa gói ra, dì tôi cầm lấy, thong thả mở gói trong lúc tôi như bị thôi miên: dưới lớp giấy hoa, một cái hộp tuyệt đẹp có thắt nơ, đựng ít nhất cũng 3 livres kẹo sô cô la, thứ thượng hạng. Tôi dám chắc là từ hồi sinh ra đến giờ dì tôi chưa hề nhận được món quà nào đẹp và... ngon hơn.

- Đẹp quá, dì hở? (Tôi tiết lộ tên người tặng) của anh Jamie đó, ảnh dắt cháu đi coi đá bóng chiều nay. Anh tử tế ghê, dì hở?

- Jamie?

- Dạ, anh Jamie – Nigg đó mà! Dì không biết sao?

Dì tôi có vẻ nửa thích thú nửa thất vọng, dì bĩu môi:

- Dì sẽ gởi trả lại cho ổng! Dì sẽ trả!...

Tôi cố nén một tiếng kêu bất bình, kinh ngạc. Sao lại gởi trả? Người ta tử tế như vậy... nhưng tôi cố không làm dì tức giận bằng giọng nhỏ nhẹ:

- Đừng, dì ơi! Tội nghiệp ảnh, dì ơi! Vả lại...

Tôi không nói hết được ý nghĩ, tôi thèm rõ dãi ra. Dì tôi không khỏi nín cười – dì ít cười, nhưng hễ khi dì cười trông dì xinh tệ! – vò đầu tôi:

- Ừ! Thôi, dì cho cháu một cái, nghe? Nhưng phần dì, dì thề không thèm đụng đến.

Không đợi dì mời đến tiếng thứ hai, tôi nhón ngay một cái.

- Ngon không, cháu?

Dì hỏi – xem chừng dì cũng thèm lắm. Kẹo ngon thế kia mà! – Tôi gật đầu chứ không nói được vì bận nhai kẹo. Giọng dì tôi tiếc rẻ:

- Phải chi của ai thì, hay quá...

Chao, dì Kate của tôi nói đến lạ. Tôi hăng hái bênh vực anh Jamie:

- Sao dì nói vậy? Cháu thấy anh ấy dễ thương lắm mà! Dì phải biết: anh ấy quen với mấy cầu thủ trong đội banh Levenford kia, chớ dì đừng tưởng...

- Cháu chưa hiểu gì cả, Jamie xoàng quá, một gã thợ quèn. Đó là chưa kể anh ta không kiêng cả rượu mạnh.

Bắt chước ông cố, tôi nói bằng giọng bất cần:

- Chuyện đó có hại gì đâu?

- Thôi, cũng được đi, nhưng cháu coi...

Tôi ngừng nhai chờ đợi, dì tôi đỏ bừng mặt, tiếp:

- Đôi chân của anh ta...

- Coi kìa? Ai bảo dì để ý đến chân ảnh làm chi?

Tôi lại hăng hái bênh vực Jamie. Dì tôi thở dài:

- Sao không để ý, cháu?

Tôi nói như người lớn:

- Bộ dì thương người khác, hở?

- À... à!... Cũng có...

Ánh mắt dì tôi chợt mơ màng, xa vợi. Thừa dịp, tôi nhón thêm cái kẹo nữa.

Dì tâm sự:

- Cũng có nhiều người đến với dì, nhưng dì chỉ nghĩ đến một người, một người lý tưởng. Một người đàn ông lớn tuổi, rắn rỏi, da nâu, lịch thiệp, học thức rộng, như mục sư Sproule chẳng hạn.

Chúa ơi! Tôi há hốc miệng nhìn dì tôi: mục sư Sproule, già gần 40, bụng hơi bự, tóc xoắn, giọng nói sang sảng và có tới bốn đứa con!

Lý tưởng kiểu gì vậy hả trời? Tôi gạt đi:

- Thôi đi dì! Anh Jamie hơn chứ. Ảnh còn trẻ, vui vẻ, tốt bụng...

Tôi chợt ngừng lại, đỏ mặt, nghĩ là mình không nên phạm thượng, chỉ trích thần tượng của dì mình. Song may quá: dì vẫn không phật ý, dì vui vẻ:

- Dì không giận đâu, này, ăn thêm đi, cháu! Đừng bận tâm. Dì thì dì thề không thèm làm bẩn miệng vì mấy viên kẹo này.

Tôi vâng lời dì tức thì. Dì tôi mơ màng:

- Robert à, dì chán tình yêu lắm, chán lắm! Luôn luôn phụ nữ bị thua thiệt! Robert! Viên kẹo bên trong mềm hay cứng vậy?

- Cứng dì ạ! Mà ngon lắm, dì ăn thử đi! Có hạt hạnh nhân trong đó, ngon dễ sợ, ăn đi dì! Đây, dì nghe cháu đi!

- Không! Không!

Dì tôi chối từ nhưng giọng yếu ớt khác lúc đầu. Tôi tấn công thêm:

- Dì ăn thử một viên thôi mà! Ăn đi dì! Ngon lắm!

Lần này, dì xiêu lòng, đón viên kẹo tôi đưa cho một cách lơ đãng, cho vào miệng, không nói gì. Tôi nóng nảy hỏi:

- Ngon phải không dì?

- Robert ơi! Không ai có thể mua chuộc nổi dì bằng quà biếu đâu, nhưng phải công nhận cháu nói đúng: kẹo ngon chi lạ!

- Dì này, dì ăn thêm cái nữa đi dì!

- Thôi!... mà... cũng được, nếu cháu muốn, tìm cho dì một cái nhân cam như viên đầu cháu ăn đó!

Thế rồi, cháu mời dì một cái, dì mời cháu một cái, non nửa giờ sau, chúng tôi ăn hết hàng trên hộp kẹo.

Đã thèm rồi, tôi sực nhớ thắc mắc:

- Dì ơi! Cháu nói sao với anh Jamie?

Dì tôi cột cái nơ quanh hộp lại, cười to – lần thứ nhất dì tôi vui vẻ thực sự:

- Hai dì cháu mình giả dối ghê chớ? Nhất là dì: ăn của người ta, chắc người ta tốn nhiều tiền lắm... mà không thương người ta...

- Cháu có thương anh ấy chớ!

Tôi la lên. Dì càng cười to thêm:

- Thì cháu cứ thương ảnh! Dì có cấm đâu. (Nghiêm giọng lại). Cháu hãy nói thật với ảnh là dì gởi lời cảm ơn, kẹo ngon lắm, nhưng ảnh đừng nghĩ gì hết, tốt hơn.

Tôi hơi rối trí vì mấy lời tối nghĩa của dì, toan hỏi, nhưng dì đã tiếp:

- Cứ nói: ảnh đừng hy vọng gì hết, cháu nhớ chưa?

Tôi chạy bay xuống lầu, quyết định sẽ chỉ nói với Jamie mấy câu trên, còn mấy câu dưới thì khỏi, tôi đâu có điên? Tôi không muốn Jamie buồn đâu. 

______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG MƯỜI

CHƯƠNG TÁM_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG TÁM


Năm ấy, xuân đến sớm. Trước nhà, ba cây dẻ lung lay mấy đóa hoa trắng làm đứa trẻ bất hạnh là tôi bỗng khoan khoái vì được tự do và say sưa vì những niềm vui mới mẻ. Ngày 15 tháng 4 bà tôi rời nhà như tôi đã kể, đến ở với người cháu theo thông lệ.

Bà vẫn tiếp tục lo lắng "phần hồn" cho tôi, ngay cả lúc lên đường. Dịp này, bà mặc áo mới và dúi vào tay tôi 6 pences.

Bà dặn dò tôi rất kỹ và rất nhiều thứ: nào nhớ uống thuốc, nào đừng nản lòng tin và hứa khi về sẽ xem thử làm gì cho tôi được.

Tôi rất thương yêu bà, song phải thú thực là sự ra đi của bà làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi càng thích thú hơn khi mẹ tôi đặt cho tôi cái giường nhỏ trong góc nhà, ngăn với gian bếp bằng cái màn. Ôi chao! Góc nhà nhỏ nhắn, ấm cúng làm sao... gần như là một phòng riêng.

Ông tôi càng vui hơn. Cử chỉ đầu tiên của ông tôi là vớ lọ thuốc bà chế cho tôi, mở nút, trút ra cửa sổ, cười vui vẻ. Chỉ vài ngày sau, đám hoa dưới thành cửa sổ héo dần và chết ngỏm làm cậu Murdoch nhăn nhó đổ lỗi cho ông đã giết hoa cậu dày công chăm bón!

Phải công nhận là lúc này ai cũng vui vẻ: trên lầu chỉ mình ông tự do làm chủ, nên mỗi ngày ông đều ra sân vận động để chơi "boules" với bạn ông. Ba tôi thì chiều chúa nhật dắt tôi đến Nha Thủy cục chỉ cho tôi thấy hồ chứa nước vĩ đại và ngôi nhà xinh đẹp, nơi mà ba tôi hy vọng sẽ độc chiếm khi ông Giám đốc hiện tại hồi hưu. Mẹ tôi bớt lo lắng, ám ảnh vì ý nghĩ không đủ ăn đến cuối tháng như thói quen. Còn cậu Murdoch thì sáng nào trong lúc cạo mấy sợi râu non vừa mọc cũng hát lên ông ổng:

- Tôi yêu một cô gái miền núi, cô rất dễ yêu...

Phải! Ai cũng tươi tắn như mùa xuân, trừ có dì tôi, dì tức tối vì nhựa cây lại lên, vì chim đỏ mỏ lại bay về, mỏ ngậm cọng rơm đậu trên mái nhà hay vì gì khác? Có Trời mà biết nổi!

Tôi tung tăng như con sáo, chạy việc lặt vặt cho mọi người, cho cả bà Bosomley, (bà vẫn đền công cho tôi bằng mấy ổ bánh mì kẹp thịt bít tết, ngon lành, thứ thức ăn tôi thèm rõ dãi). Tạm quên thân phận đứa trẻ mồ côi, sống nhờ ăn bám, tôi sung sướng, sung sướng yêu Gavin và được nó yêu lại hết lòng.

Hai đứa tôi bắt đầu sục sạo khắp mấy ngọn đồi xung quanh. Những cuộc du hành này lý thú gấp bội so với những cuộc đi dạo với ông. Gavin hăng say tìm trứng chim óc cau, thứ còn thiếu trong bộ sưu tập khá đầy đủ của nó, nó cho tôi biết là loại chim này hiếm nhất vùng Winton.

Trong khi hai đứa khom mình chui qua những bụi cây rậm rạp, Gavin chỉ dẫn cho tôi tập quen với đời sống trong rừng. Nó vạch những cành gai, chỉ cho tôi thấy trong những hốc kín đáo, những chỗ bất ngờ có tổ chim. Tôi sáng ngời mắt khi nhìn cái tổ nhỏ làm bằng bùn và rơm, trong đó nằm gọn những quả trứng bé xíu, lốm đốm xanh, thật là mới lạ đối với tôi. Gavin trang trọng bắt tôi giơ tay thề, thứ lời thề của người đi rừng: "Không bao giờ lấy hai trứng trong một tổ chim". Và nó còn nói bằng giọng giận dữ rằng lũ trẻ mất dạy đã lấy hết trứng và hủy cả tổ chim xinh đẹp.

Suốt tháng ròng, Gavin vẫn chưa tìm ra được loại trứng chim óc cau ao ước.

Một buổi chiều, hai đứa trở về sau một cuộc du ngoạn xa nhất. Tôi nấn ná lại bên hồ nước. Không hiểu tại sao, tôi lại ưa thích những ao hồ chứa đầy mầm sống này. Tôi cúi xuống vớt vài con nòng nọc và đúng lúc đó, tôi nom thấy một cái tổ bằng rơm, nằm gọn trong đám rong, có ba quả trứng to, xanh lá cây điểm những chấm đỏ, thật như thể là tôi mơ. Tôi kêu to lên làm Gavin dừng lại và sự mừng rỡ làm tôi không nói nên lời, chỉ cho Gavin đám rong trong đó có mấy trứng chim óc cau – tôi biết do nó miêu tả nhiều lần – Gavin khựng lại, kêu lên:

- Đúng đó! Robert!

Gavin lội bì bõm trong nước, đem ra một trứng – một trứng thôi – Hai đứa ngồi bên bờ ao, rồi với dáng bộ hết sức trân trọng nó đặt nhẹ trên mặt nước và sau khi biết chắc rằng trứng mới sinh, Gavin thổi nhè nhẹ và đặt vào lòng bàn tay tôi, giọng nó nồng nàn trìu mến:

- Đây! Đẹp ghê chứ?

- Ừ! Đẹp ghê thật. Mãi bây giờ mới tìm ra, tao mừng quá, Gavin ạ!

Sau khi ngắm nghía no mắt, tôi đưa cho nó:

- Đây, cầm lên đi, Gavin!

- Không! – Gavin nói, mắt không rời mấy cái trứng còn lại trong tổ – Sao lại tao cầm lên? Có phải của tao đâu?

- Coi kìa! Gavin! Mày thích và tìm đỏ mắt cả tháng nay...

- Nhưng đâu phải tao tìm ra nó? Chính mày tìm ra mà!

- Nhưng nếu mày không chỉ dẫn thì đời nào tao để ý tìm nó làm gì?

- Dù vậy, nó chính của mày!

- Của mày đấy, đừng lôi thôi!

- Không! Không phải của tao, ta phải công bình.

Tôi biết rằng không bao giờ Gavin chịu phạm vào lời thề mà lấy thêm một trứng, vậy chỉ còn một cách, tôi nói to:

- Gavin! Cái trứng này đẹp thật, tao công nhận, nhưng tao không thích, hơn nữa, tao chả sưu tầm thứ này, mày thì cần nó. Tao chỉ ưa cóc, nhái, nòng nọc, chuồn chuồn, mày biết rõ mà! Vậy nếu mày không lấy tao cũng đến vứt đi sau khi chơi chán, có phải uổng không?

Nghe tôi dọa thế, Gavin đâm cuống, đôi mắt xám của nó mở to:

- Nếu vậy thì tao lấy cái trứng, nhưng tao sẽ tặng mày một vật khác, nếu không thì bất công lắm. Phải! Tao sẽ tặng mày một vật mà hai đứa mình cùng ưa.

Nó gói cái trứng lại bằng miếng bông gòn mang theo sẵn, cho vào túi, nụ cười rụt rè của nó làm tôi sung sướng hết sức.

Chiều hôm ấy, từ nhà nó ra về, tôi mang theo cái kính hiển vi, vật quý giá mà tôi ao ước từ lâu song không thể nào sắm nổi: một bận tôi được Gavin chỉ cho cách sử dụng, vốn trước kia của chị nó hồi chị còn học vạn vật Trung học Winton. Kính này thuộc loại đơn giản song cũng có 2 vật kính và 2 thị kính. Ông Thị trưởng luôn luôn mua sắm những phẩm vật hảo hạng cho các con. Tôi cũng mang về cùng với kính vài phẫu thức đơn giản để xem và một cuốn sách cũ, bìa đã vàng, giấy thì mốc. Chương đầu cuốn sách đề: "Những gì ta có thể thấy trong một giọt nước" và chương hai: "Cấu tạo của một cánh ruồi".

______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG CHÍN

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016

CHƯƠNG BẢY_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG BẢY


Bà tôi tức giận vô cùng về chuyện bộ áo quần. Tôi bị tát tai, buổi tối vào giường tôi còn phải nghe một bài giảng dài ngoằng về tội vong ân bội nghĩa, và bà kết luận:

- Nếu cháu muốn là cháu trai yêu của bà thì phải ngoan.

Càng ngày, tôi càng được bà chăm sóc hơn về sức khỏe và hạnh kiểm. Tôi hắt hơi một cái ư? Bà tin là tôi có thể bị sưng phổi đến nơi và tức thì ngừa bằng cách bắt tôi uống thứ xi rô đen ngòm không rõ xuất xứ, do bà bào chế.

Tuy vậy, tôi thực sự sung sướng, sung sướng hơn bao giờ cả: việc tôi táo gan đánh nhau với Gavin, mà lại do chính tôi khiêu khích trước làm cho lũ bạn kiêng nể ra mặt, hết dám khinh thường. Song điều làm tôi được nhìn bằng con mắt đặc biệt, chính là do câu chuyện tôi chảy máu mũi. Chuyện đó trở thành một biến cố quan trọng trong lịch sử nhà trường, cho đến nỗi mỗi khi bàn về một điều gì xảy ra, chúng thường dùng một câu đại khái như:

- Điều này xảy ra sau ngày Robert chảy máu cam...

Hay là:

- Chuyện đó đến trước ngày Robert chảy máu cam...

Nghĩa là chuyện tôi chảy máu mũi được dùng để đánh dấu, để làm mốc ghi thời gian như thể là ngày một vị anh hùng dân tộc khởi nghĩa vậy.

Ngoài ra, nhờ bộ y phục xám lịch sự tôi không còn bị chế nhạo nữa. Bọn Jamieson làm hòa với tôi và bạn bè đều biết rằng sau ngày lịch sử đó, tôi với Gavin trở thành đôi bạn chí thân. Tôi hết lòng ghi ơn chị Julia.

Gavin, như tôi đã kể cùng các bạn, vốn ít chơi với bạn cùng lứa tuổi, không phải nó kiêu căng hay lập dị – dù cha nó không chỉ là Thị trưởng, ông ta còn là chủ một công ty bán thóc lâu năm và phát đạt nhất vùng – Thật ra, Gavin rất dè dặt, có cuộc sống nội tâm phong phú.

Thứ sáu, kế ngày đánh nhau, tan học ra, tôi thấy Gavin đã đợi tôi ở cổng trường. Nó không nói gì chỉ hơi mỉm cười một cách rụt rè và hai đứa sóng đôi cạnh nhau. Mấy tuần qua, tôi chỉ dám đi những ngã hẻm quanh co, các bạn tưởng tượng xem: hôm nay tôi hãnh diện biết chừng nào! Hai đứa dừng lại nửa giờ trước kho hàng của cha Gavin rồi đến chuồng ngựa xem Tom-Drin, viên tài xế trưởng cho một chú ngựa uống thuốc đau bụng.

Chúng tôi đi ngang những kho rộng chứa đầy rơm, những thùng thóc, những bao bột mì, đậu tằm, lúa mạch, ngang những thợ lăng xăng làm việc, mặc tạp dề trắng. Khi trông thấy tôi, ông Thị trưởng vẫy hai đứa lại gần, cười với tôi bằng nụ cười đôn hậu, giọng âu yếm:

- Hai cậu đã thân nhau rồi đấy ư?

Rồi ông chìa cho chúng tôi hai nắm "Locustes".

Trên đường về, trong bóng tối nhá nhem, vừa cắn hạt tôi vừa nói chuyện vui vẻ với Gavin. Và tôi còn vụng về bảo nó là thật sung sướng có được ông cha như cha nó. Thật vậy, tôi ao ước địa vị nó biết bao! Gavin có vẻ sung sướng vì câu nói của tôi lắm. Sau cùng, trước khi chia tay, Gavin cúi nhìn mũi giày dí dí trên lề đường báo cho tôi biết:

- Mùa xuân này, tao sẽ lên đồi Winton kiếm trứng chim, tao thích nhất là trứng con óc cau (Pluvier Doré). Này Robert, mày có thích đi với tao không?

Tôi thích mê đi ấy chứ, còn phải hỏi!

Nhưng đâu đã đến mùa xuân? Vì vậy, tôi phải nén lòng chờ đợi.

*

Một buổi chiều, mẹ tôi ra mở hộp thư, bà kêu lên một tiếng mừng rỡ. "Có thư Adam". Bà bảo chúng tôi khi trở vào bếp, nơi cả nhà đang dùng bữa ăn chiều. Và bà nói thêm cho ai nấy cùng biết là cậu Adam sẽ về đến nhà lúc một giờ trưa thứ bảy, ở lại một lát, có việc.

Bà giành lấy bức thư, mẹ có vẻ phật ý. Thư được chuyền tay khắp nhà và chỉ mình dì Kate bình thản trước tin này.

Riêng phần tôi, tôi hết sức nôn nao vì nghe mẹ kể lại nhiều lần các kỳ công của cậu Adam, một cậu bé tài giỏi luôn luôn thắng các bạn trong trò chơi bắn bi; chưa đầy 13 tuổi cậu ấy đã biết buôn bán kiếm lời: cậu mua một cái xe đạp cũ, bán lại lấy lời được 10 shillings. Một năm sau, cậu được nhận vào làm trong văn phòng luật sư Mc Kellar mà không cần có một sự gởi gắm hay giới thiệu của ai, ngoài ra cậu còn làm thêm giờ phụ trội ở hãng bảo hiểm "Le Rocher". Cậu để dành tất cả số tiền kiếm được. Cho đến năm 27 tuổi cậu nghiễm nhiên trở thành người Đại diện cho các hãng bảo hiểm "Le Rocher" và "La Caledonia". Cậu có mở một văn phòng sang trọng tại Winton. Hiện nay hằng năm cậu kiếm không dưới khoảng 400 livres (1). Hơi do dự một chút, mẹ kết luận: "Nó kiếm tiền khá lắm... hơn... hơn cả ba".

Bà còn hãnh diện khoe thêm cái broche vàng chóe đeo trên áo của cậu tặng và nói là rất đắt tiền, theo lời cậu nói.

Trưa thứ bảy, chưa đầy một giờ, có tiếng động cơ xe hơi vang dậy trước nhà. Ấy, xin các bạn đừng lầm, không phải xe cậu Adam đâu nhá, song quả thật là cậu về bằng xe hơi, cái xe đầu tiên của hãng Argyll, màu đỏ chóe, bánh xe cao, cửa mở ở phía sau.

Cậu tôi, vẻ tự tin và kiêu hãnh bước vào nhà, nụ cười trên môi, áo khoác có cổ viền bằng da thú, màu nâu. Cậu ôm hôn mẹ, người đã hết lòng chuẩn bị đón cậu về hôm nay, đoạn tiến lại siết tay ba thật chặt (chao ơi! Y như một ông khách lạ, mà là một quý khách chớ không phải là con trai của gia đình!). Cuối cùng, cậu cười với tất cả mọi người. Râu cạo nhẵn, người hơi đẫy đà những khá cao, da nâu sậm, nom cậu Adam thật là... đáng phục đối với tôi lúc bấy giờ!

Trên bàn ăn trước mặt cậu, mẹ đã dọn thịt bít tết, su lơ, khoai tây, mọi thứ đều vừa được lấy ra khỏi lò, thơm nức mũi. Chúng tôi ngồi quanh cậu, nhìn cậu ăn uống ngon lành – cả nhà cũng đã xong bữa rồi: ăn thịt nguội! – Và nghe cậu kể chuyện một cách vui vẻ:

- Ông Kay, giám đốc hãng xe Argyll sẵn dịp đi Alexandria đã rủ con cùng đi... Ôi chao! 75 cây số mà không đầy hai tiếng đồng hồ đã tới, ghê không?

Ghê thật chứ! Cậu quen lớn cả với ông giám đốc hãng xe! Đâu phải chuyện tầm thường? Tôi thấy mình quá nhỏ bé, vô nghĩa trước một ông cậu xã giao rộng, làm việc nhiều tiền như vậy. Và tôi không khỏi buồn rầu mà nghĩ rằng cậu không rỗi hơi, thừa thì giờ để bận lòng đến một đứa cháu mồ côi như tôi.

- Đáng lẽ con về sớm hơn kia, 12 giờ đã đến rồi cơ đấy, nhưng tại bận ghé lại văn phòng ông Mc Kellar thu xếp vài công việc cho hãng...

Đôi mắt ti hí của cậu cùng mầu với ba nhưng hơi nhạt hơn, bỗng – Chúa ơi! Tôi không ngờ đấy! – Cậu chăm chú nhìn tôi, mỉm cười làm tôi đỏ bừng mặt vì sung sướng quá!

Mẹ tôi, từ nãy mãi ngắm cái ba đờ xuy mới, cổ viền lông thú sang trọng của con trai, bây giờ càng thêm mến phục. Thỉnh thoảng, cậu dừng lại giữa hai câu nói và mỉm cười với mẹ.

- Có một điều chúng ta cần phải bàn ngay: chuyện tiền bảo hiểm của ông ngoại.

- Con có lý lắm, Adam ạ!

Ba nán lại trong dịp quan trọng này, kéo ghế lại gần con trai, nói.

Cậu Adam tiếp:

- Việc bảo hiểm sẽ mãn hạn: vào ngày 17, tháng 2 này... 450 livres sẽ được trả cho mẹ.

- Số tiền khá đó chớ?

Ba kêu lên, không giấu nổi vẻ sung sướng.

- Phải rồi, ba ạ! Nhưng nếu mình muốn, số tiền có thể được tăng lên.

Ba trố mắt kinh ngạc, trong lúc cậu nhếch mép ra vẻ thành thạo:

- Rất dễ dàng: mình chỉ xác nhận là mình bằng lòng gửi lại số tiền, con sẽ lo mọi thủ tục. Như vậy khi ông ngoại 75 tuổi hay khi ông mất, mẹ sẽ lãnh tất cả vốn lẫn lời đến 600 livres.

- 600 livres?

Ba lại kêu lên thích thú, song ông lại thở dài ngay sau đó:

- Và... như vậy thì hiện tại mình không được xu nào hết, phải không?

- Dĩ nhiên! – Cậu Adam nhún vai – Ba nên nhớ hãng bảo hiểm Le Rocher cũng chắc chắn như một ngân hàng, một chỗ gửi tiền lý tưởng, bảo đảm. Mẹ nghĩ sao?

Kỳ chưa: mẹ tôi không có vẻ háo hức như con và chồng. Bà lúng túng:

- Mẹ thì mẹ không muốn lợi dụng ông ngoại con, theo cách đó...

Cậu Adam bênh vực ý kiến mình một cách nồng nhiệt:

- Đâu phải là lợi dụng, mẹ? Từ khi ba mẹ phải nuôi ông ngoại trong nhà cho đến giờ đã... khá lâu, như vậy thì ba mẹ có quyền về số tiền đó chớ? Vả lại, cách đây mấy năm ông gửi tiền bảo hiểm ở hãng Castle, mỗi tháng chỉ phải đóng có 5 shillings và rồi khi hãng này sắp sập tiệm, đóng cửa, nếu con không lanh lẹ như người ta mà lo chuyển tiền qua hãng Rocher kịp thời thì kể như tiền ông tiêu tùng rồi, còn đâu?

Mẹ tôi thở dài khó hiểu, không nói gì cả. Ba tôi do dự một lát rồi hỏi con trai trưởng:

- Nếu tiếp tục gửi tiền ở hãng bảo hiểm, con cũng được thù lao chứ?

Cậu Adam cười hề hề:

- Dĩ nhiên là thế. Công việc là công việc mà, thưa ba!

Ba im lặng như tuồng suy tính lung lắm, sau cùng nói:

- Phải đó, Adam! Ba đồng ý với con, việc này có lợi cho ta...

- Như thế là khôn ngoan! – Cậu Adam tiếp lời cha – Đây! Con có đem về tất cả để giao mẹ đây! Mẹ thưa ông ngoại ký trước ngày 17 nhé?

Cậu vừa nói vừa lôi cặp tài liệu trong cặp đưa cho mẹ tôi. Tôi trông thấy mẹ tôi gật đầu một cách miễn cưỡng. Câu chuyện chứng tỏ khả năng xoay sở của cậu Adam, song lúc đó tôi chả hiểu gì sốt.

Sau khi ba đi làm, cậu tôi tìm dịp bắt chuyện với tôi trước khi đáp chuyến xe tốc hành lúc 14 giờ 30. Cậu đứng lên, nhìn tôi với vẻ thản nhiên:

- Robert, chốc nữa cháu đưa cậu ra ga nhé? Cậu muốn tặng cháu một món quà để làm kỷ niệm ngày cậu cháu ta gặp nhau. Xem này: một đồng vàng mới tinh! Đó là một vật quý giá và hữu ích, dù cho bọn kiết xác thường nói ngược lại. Này cháu! Cậu muốn cháu phải hiểu rõ giá trị đồng tiền, ngay khi còn nhỏ như cậu vậy! Cháu đừng nghĩ rằng thích tiền là biển lận. Cháu nghĩ coi: tiền có thể mang đến cho ta thức ăn ngon, áo quần may cắt khéo, chỗ ở sang trọng và được nhiều người vồn vã. Quan niệm sống của cậu thế đấy! Đó, cháu coi coi: tỉ như ông ngoại đó thì biết, không một xu dính túi, ăn toàn phô ma với bánh mì, thuốc lá cũng không có chớ đừng nói chi đến...

Cậu chợt ngừng vì thấy đã đến giờ lên tàu, chao! Cái cười của cậu mới tươi làm sao. Cho đến nỗi tôi chỉ biết cười theo và suýt nữa, tôi muốn công nhận lời cậu rất đúng.

Trong lúc chờ cậu ở hành lang, tôi ngạc nhiên thấy mình ao ước cuộc sống... y như cậu. Một ngày nào đó, rủng rỉnh túi tiền, tôi bước vào một nhà hàng sang trọng, cất giọng oai vệ gọi bồi bàn, bảo mang đến những món thật ngon, tôi mặc áo thật đẹp, tôi... ôi chao! Những đồng vàng xủng xoẻng trong túi cậu Adam! Chúng mới cám dỗ tôi làm sao chứ! Tôi chợt tỉnh mộng vì tiếng cậu:

- Nào, cháu mang va li cho cậu được chứ?

Mong ước làm vui lòng cậu – thần tượng của tôi – tôi hăng hái đón lấy cái xách nặng chĩu, nặng hơn tôi tưởng, có lẽ chứa toàn những sách vở giấy tờ quan trọng trong lúc mẹ tôi hôn từ biệt con trai.

Cậu Adam có bộ giò dài dễ nể, cậu đi như sải trong lúc tôi chạy theo hụt hơi, phần thì vướng cái xách nặng phải đổi tay liên hồi, mà vẫn chưa theo kịp.

- Nào, cháu thích món quà gì?

- Thưa cậu, món gì cũng được! – Tôi lễ phép trả lời.

- Không! Cậu muốn tặng thứ gì cháu thích cơ!

Chao! Cậu tôi rộng rãi làm sao! Cậu yêu tôi biết bao nhiêu! Vậy thì, còn ngại gì mà không nói phăng ra món quà mình ao ước chớ? Tôi nghĩ ngay đến hồ nước trong công viên đã đông đá dày trên 10 phân mà những lúc đi học về tôi vẫn ngừng lại ngắm nhiều người trượt trên nước đá.

- Thưa cậu! Tôi mạnh dạn nói – Cháu thích đôi giày trượt băng, ở cửa hiệu Langland trên đại lộ có bán.

- À!... giày trượt tuyết hở? Cậu nghĩ là nó sẽ vô ích trong mùa hè. Cháu đồng ý chứ?

Tôi thất vọng nhưng công nhận lời cậu nói rất đúng. Cậu tiếp:

- Nếu mua giày trượt đá thì thà mua cho cháu quả bóng còn hơn. Nhưng cháu nghĩ coi, cháu có thể chơi banh một mình không? Phải cho bạn cùng đá mới vui, và như vậy chúng sẽ làm hư liền, nếu không cũng đến cũ... Quả bóng, ồ...

Tôi gần kiệt sức vì cái xách, mồ hôi nhễ nhại, vai mỏi nhừ đi. Cậu bàn tiếp về món quà xứng đáng:

- Cháu thích một con dao không? (Vừa nói cậu vừa gật đầu chào một người quen bên kia đường). Con dao... Ý! Quên, không được, cháu sẽ đứt tay và cậu sẽ bị bà rầy nữa, chưa kể... Nào! Để cậu nghĩ coi có món gì vô hại không...

Tôi cố sức để hóng nghe cho rõ lời cậu, cậu "ồ" lên một tiếng vui vẻ:

- Cậu nghĩ ra rồi, cậu có món quà hữu ích cho cháu, bà sẽ rất hài lòng! (Cậu vỗ vào trán). Có sẵn đây!

- Cảm ơn cậu!

Tôi trả lời vồ vập nhưng tay chân thì rã rời, tự hỏi không hiểu mình có lê chân đến ga nổi không? (Tôi rất sợ bị cậu chê: "Bây lớn mà bết quá, xách có cái xách như vậy mà không nổi". Song may thay, cậu không nói thế).

Cậu chỉ xem đồng hồ tay, ôn tồn giục:

- Còn hai phút nữa. Nhanh lên một tị cháu ạ! Ý, cháu đừng kéo lê cái va li của cậu như vậy, hư hết, va li đó đắt tiền lắm à!

Sau rốt, cậu cháu tôi cũng vào đến sân ga. Tàu đã chờ sẵn, cậu tôi nhảy lên toa hạng nhất, đỡ cái túi xách lục lạo một lúc trong khi tôi thở ra nhẹ nhõm, vì thoát cái xách như cái cùm, quên cả món quà cậu hứa.

Nhưng cậu không quên: nghiêng mình ra cửa, cậu đặt vào đôi tay ướt đẫm của tôi một cái giá đựng lịch vàng rực chói sáng như cái "bờ rốt" đeo trên áo của mẹ, có nút vặn để thay đổi mỗi ngày trong tuần. Trên cái mặt giá có khắc hàng chữ trịnh trọng:

"HÃNG BẢO HIỂM LE ROCHER"

- Đây, cho cháu! Đẹp ghê, há?

Bộ điệu cậu tôi như bộ điệu của một đế vương ban tặng châu báu cho thần dân.

Tôi bị mê hoặc vì bộ điệu đó cũng như cái mầu vàng chói lọi, nói theo không kịp suy nghĩ:

- Dạ, đẹp ghê! – Và tôi còn lễ phép, thêm – Cháu cảm ơn cậu!

Kỳ thật, tôi chỉ ngạc nhiên, không phải tôi vô ơn, trời chứng cho tôi, tôi biết ơn cậu, nhưng thất vọng về món quà quá đỗi. Viên xếp ga thổi hoét một cái, tàu chuyển bánh. Và tôi, khư khư với món quà xinh đẹp mà vô dụng, trở về.

Đến nhà, tôi lên ngay phòng ông cố khoe món quà, không quên hỏi:

- Bằng vàng hay bằng đồng vậy, hả ông?

- Bằng đồng đó, cháu à!

Tôi đọc lại hàng chữ trên giá lịch lần nữa, hỏi ông:

- Ông ơi! Ông bảo hiểm nhân mạng ở hãng này phải không?

Đột nhiên ông tôi nổi giận – rất vô lý, theo tôi nghĩ – ông đỏ bừng mặt, quát to:

- Robert! Mày còn nhắc đến trò bịp đó nữa, tao bẻ cổ mày, nghe chưa?

Tôi kinh ngạc, xịu mặt, đứng yên không hiểu gì cả. Ông tôi thì đứng lên, đi lui đi tới trong phòng, dáng bộ nóng nảy:

- ... Nhưng bần tiện, bỉ ổi nhất là cuốn lịch này! Bỉ ổi quá đi! Tao hết chịu nổi.

Cứ ngần ấy tiếng, ông nói đi, nói lại, ban đầu chua chát, giận dữ, sau dịu bớt đi. Rồi hình như chợt hối đã nóng nảy vô lý với tôi, ông quay lại, dịu giọng:

- Robert! Con thích trượt băng lắm phải không?

- Thưa ông, vâng, nhưng ông hỏi làm chi? Con đâu có giày?

Ông tôi vẫn ngọt ngào:

- Đừng nản lòng chứ! Nào, nào! Để ông xem! Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, ông ra nhà kho mang một thùng đầy ngập chứa nào đinh vít, bù long, giày cũ – trong nhà này không vật gì bị vứt bỏ – những thứ đã tích trữ hàng bao nhiêu năm.

Ông cặm cụi đem những đôi giày trượt băng ra ướm thử cho tôi nhưng than ơi: chẳng đôi nào vừa hết! Cho đến nửa giờ sau, khi tôi bắt đầu thất vọng thì ông lôi dưới đáy thùng lên một đôi "patins" bằng gỗ, có lẽ của dì Kate khi còn bé. Ông lấy cái cờ lê vặn vào giày tôi. Chao ơi! Vừa vặn quá đi! Ông thay chỗ dây đứt bằng dây mới.

Thế là hai ông cháu nắm tay cháu, hớn hở đến hồ.

------------------
(1) Livre : đồng bạc Anh, mỗi liver bằng 20 shillings.

______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG TÁM

CHƯƠNG SÁU_NHỮNG NGÀY XANH


CHƯƠNG SÁU


Bấy giờ tôi đã ngồi gọn trong lòng ông. Ông cháu tôi đã làm hòa rồi, thưa các bạn! Tôi liền mang hết những gì đè nặng trong lòng ra kể với ông. Ông lặng lẽ nghe, không thốt một lời.

Sau đó giây lâu ông từ từ rút ống điếu hút một hơi đoạn mới bảo tôi:

- Có một điều con phải làm, nhưng vấn đề là con có chịu làm hay không đây?

Giọng ông tôi bình thản nhưng âu yếm. Chao! Giọng nói làm tôi yên lòng biết chừng nào sau những ngày dài sống cô đơn trong hỏa ngục! Tôi sốt sắng:

- Thưa ông, con làm chứ. Con xin hứa với ông con sẽ làm!

Tuy không biết mình sẽ phải làm gì, tôi vẫn trả lời với giọng tự tin. Ông tôi rít vài hơi thuốc nữa:

- Trong lớp con, đứa nào khỏe nhất, can đảm nhất. Cương quyết nhất?

Tôi không cần phải do dự:

- Gavin-Blair thưa ông.

- Con trai ông Thị trưởng, hở?

- Thưa vâng.

- Trường hợp này, con phải đánh nhau với Blair!

Tôi nhìn ông kinh ngạc: Gavin không hề trêu chọc tôi. Nó luôn luôn tránh xa trò đùa bỉ ổi này. Từ khi vào trường, tôi chỉ trò chuyện với nó hai bận. Nó là một học trò giỏi nhưng dè dặt, không mấy cởi mở. Luôn luôn đứng nhất, được bạn học nể trọng, kể cả giáo sư, ngay cả các môn thể thao nó cũng thuộc hàng đầu. Học trò kháo nhau rằng chỉ với một tay nó có thể hạ Jamieson! Bỗng không mà tôi gây sự đánh nhau với nó ư? Vô lý quá! Vì thế, tôi giải thích với ông tôi điều này. Ông cười khẩy, khích tới:

- Như vậy, nghĩa là con từ chối? Con sợ nó chứ gì?

 Tôi cúi đầu tưởng tượng đến thân hình dẻo dai, nhanh nhẹn, cái cằm cứng rắn, đôi mắt xám sáng ngời của Gavin. Phải! Tôi không phải Ec-quyn, cũng không phải Xam-xông. Tôi không phải là các bậc anh hùng trong cổ tích, tôi sợ lắm!

Nhưng mặt mũi nào mà nói toạc ra như thế với ông? Tôi lắp bắp:

- Thưa ông, con chưa biết đánh.

- Ông sẽ dạy cho! Chỉ một tuần lễ là xong. Sức mạnh và vóc dáng không đáng kể, điều cần nhất là nhiệt tâm...

Thấy tôi im lặng, ông nhún vai, thêm:

- Dĩ nhiên, nếu con hèn quá, thì ông có thể viết thư thẳng cho giáo sư, nhờ ông can thiệp... con sẽ khỏi bị hành hạ, nhưng như thế chúng càng khinh con thêm. Theo nguyên tắc, con phải liều đánh với một đứa, đứa mạnh nhất, tiêu biểu, đại diện cho cả lớp. Sao? Dám không?

Tôi rùng mình, tuy nhiên có điều lạ này: trong bước đường cùng, tôi tưởng có thể đủ can đảm để liều lĩnh nhẩy từ mái nhà xuống đất, bất cần nguy hiểm đón chờ.

Thế rồi tối hôm đó, sau khi phụ rửa bát với mẹ xong, tôi bắt đầu tập dượt dưới sự hướng dẫn của ông tôi. Câu chuyện được giữ kín, bà tôi không hay biết tí ti.

Ông tập cho tôi thế đứng cứng chắc, nắm tay đưa ra trước, cằm rút cao đến nỗi tôi chỉ còn thấy mũi giầy thôi. Đứng đối diện tôi, cũng thủ thế như tôi, ông tôi hạ lệnh cho tôi thoi bên trái. Tôi tức thì tuân theo, vội vàng, hăng hái đến nỗi đấm vào bụng dưới của ông một thoi đáng đích. Ông tôi gập người lại, ngồi phệch trên ghế dựa, thở hổn hển. Tôi hoảng hồn, hỏi:

- Ông ơi! Con làm ông đau lắm hở?

Ông tôi tỏ ra giận dữ – không phải vì tôi đấm ông đau mà vì tôi đấm sai phương pháp. Đợi đến khi bớt đau, ông nghiêm trang dạy tôi một bài học chuyên biệt về những cú đấm. Sau đó ông bắt tôi chạy bộ từ nhà đến trường để luyện cặp giò.

Những ngày kế tiếp, ông kiên nhẫn dạy tôi nghệ thuật quyền Anh, buộc tôi cẩn thận khi uống nước, uống rất ít, hay đừng uống tốt hơn để da được săn chắc.

Hy sinh phần phô ma buổi chiều, thức ăn mà ông thích nhất, ông cho tôi. Ông lại bắt tôi ngồi trước mặt ông nhai chậm rãi cho dễ tiêu – ông bảo thế – và tôi biết rằng ông tôi thèm đến rỏ dãi ra.

Ông vui vẻ bảo tôi:

- Không gì bổ hơn phó mát Dunlop con ạ! Ăn nhiều vào cho mau lớn. Ông bảo đảm đó!

Tôi cũng tin lời ông, song những ngày kế tôi xót ruột ghê gớm.

Chiều thứ bảy, ông dắt tôi đến nghĩa địa để biểu diễn cho các bạn ông cùng thưởng thức tài nghệ.

Tôi dang tay, dạng chân múa may những thế độc diễn khác nhau trong lúc ông hứng khởi giải thích lý do của trận đấu dự định bằng giọng văn chương để các bạn hiểu.

- Ủa, anh quên mớ lý thuyết nằm lòng trứ danh của anh rồi hả? Anh luôn luôn khuyên người ta phải sống vui vẻ, giờ lại phản chính anh, xui thằng bé đánh nhau là nghĩa lý gì?

Ông tôi, bằng giọng cao xa, bóng bẩy trả lời:

- Anh Boay này, đôi khi ở đời người ta cần phải đánh nhau để được yên thân mà sống vui vẻ, hiểu chưa?

Ông bạn không chống đối lời nào, song nom cái cách ông nhìn chúng tôi, tôi hiểu rằng ông ta cho là chúng tôi khó thành công.

*

Ngày định mệnh đã tới. Khi tôi đi ngang phòng, ông gọi tôi vào, trang trọng siết chặt tay tôi như truyền hết niềm tin tưởng, nhiệt tâm vào đó. Nhìn thẳng tôi, ông bảo:

- Con nên nhớ điều này: con làm gì tùy ý, được hết, trừ sợ hãi.

Tôi suýt bật khóc, vì thú thật với các bạn: dù đã ăn khá nhiều phô ma của ông, tôi khó mà quên được những năm sống êm đềm cạnh mẹ cha tôi.

Hơn nữa, lúc sau này Gavin hình như muốn bênh vực tôi: đã có lần trong lúc chơi nhảy cừu, Jamieson nhân dịp đó chạy đến húc mạnh vào tôi khiến tôi ngã lăn, Gavin liền trị nó một trận ra trò. Và lần khác, trong giờ học thấy tôi tìm mãi tẩy không ra, Gavin đã lặng lẽ đưa cho tôi viên tẩy. Tôi quả không có cớ gì để gây sự đánh nhau với Gavin-Blair. Song tôi đã trót hứa với ông tôi làm sao có thể thả trôi lời hứa dễ dàng?

Huấn luyện viên của tôi đã khẳng định rằng bốn giờ chiều tan học là lúc rất thuận tiện cho trận thư hùng, tôi chỉ còn biết tuân theo.

Suốt ngày hôm ấy tôi lo lắng bồn chồn quá đỗi không ngớt lén quan sát khuôn mặt bình thản và thông minh của Gavin ngồi ở góc lớp đối diện tôi, nó có đôi lông mày thật đẹp hai hàng lông mi rậm, dài, môi trên ngắn, hãnh diện.

Vài lần tôi không cầm lòng được, ném về phía nó một tia nhìn van lơn kỳ lạ. Tôi buồn rầu khi nghĩ rằng tôi bắt đầu yên mến nó như một bạn thân, vậy mà lại phải sắp đánh nhau với nó, theo đúng kế hoạch ông tôi.

Đồng hồ trên tháp trường thong thả gõ bốn tiếng. Tôi còn hy vọng hão huyền là ông giáo sẽ giữ tôi lại phạt về lỗi gì đó. Nhưng vô ích: tôi rời lớp cùng một lượt với các bạn, đi ngang sân chơi. Gavin bước mau phía trước, cặp vắt trên vai.

Tôi hiểu rằng giờ hành động đã điểm, nếu tôi không muốn phải xấu hổ trước mặt huấn luyện viên của mình: tôi phóng tới và xô mạnh Gavin. Gavin quay lại hơi ngạc nhiên nhưng cũng nhận ra tôi đang khiêu khích nó; hai nắm tay tôi đặt lên nhau trước ngực như đang cầm đèn rước kiệu.

Tức thì bọn học trò bao quanh hai đứa tôi kinh ngạc và thích thú reo to:

- Lại xem tụi bay! Gavin và Robert sắp đánh nhau!

Gavin đỏ bừng mặt, nó bực bội nhìn bọn con trai vây quanh. Nó không thể gạt bỏ sự thách thức của tôi, dù là một đứa yếu xìu. Với một tay, nó đủ gạt luôn một lượt hai quả đấm của tôi gửi đến cho nó.

Tôi quên cả những bài học của ông. Đôi cánh tay gầy nhom khoa như những cánh quạt. Tôi đánh trúng nó song vào những chỗ cứng như cùi chỏ, gò má hay những cúc áo bằng đồng vuông vức, vì thế mỗi lần đánh trúng tôi lại bị đau hơn địch thủ.

Gavin trái lại, luôn luôn đánh trúng những nơi có thể làm địch thủ đau nhất. Hai lần, tôi ngã sấp giữa những tiếng cổ võ của bọn học trò vây quanh.

Cả hai đứa cùng lem luốc và thở như những cái đầu máy xe lửa cũ kỹ rán lên dốc. Tuy vậy, tôi càng lúc càng hăng cho đến nỗi một thằng bạn lớn nhất cũng phải kêu to lên:

- Cha! Cọng cải chơi trội chớ phải lơ mơ đâu, tụi bay? Coi nó hăng thua gì sư tử?

Trận đấu kết thúc khi tôi nhận một cú húc đầu của địch và máu cam chảy ròng ròng. Máu làm miệng tôi ấm và mằn mặn. Chỉ giây lát thân áo trước tôi nhòe nhoẹt máu. Tôi không ngờ thân thể gầy còm nhỏ nhắn của tôi mà chứa nhiều máu đến mức đó, mà kỳ lạ: tôi không thấy khó chịu chi cả. Trái lại, tôi có vẻ như sáng suốt hơn, bình tĩnh hơn dù đôi chân quả có run rẩy.

Vẫn tiếp tục chiến đấu, tôi vung tay tiến tới tuy mắt tôi như tóe lửa. Bỗng, tôi có cảm tưởng bị ai kéo lùi về phía sau. Gavin cũng vậy. Một anh lớn nhất kêu lên:

- Thôi! Đủ rồi! Bắt tay nhau đi! Tụi bay đánh nhau khá lắm! Đứa nào lấy chìa khóa cổng coi! Robert chảy máu như bò bị thọc huyết đây nè!

Tôi được đặt nằm ngửa trong sân chơi, trên mặt sỏi, cái chìa khóa to, lạnh ngắt đặt dưới ót trong khi Gavin nhem nhuốc và lo lắng, quì cạnh tôi. Áo tôi đẫm ướt và mấy anh đầu bò nhất cũng bắt đầu lo sợ khi thấy máu không ngừng chảy. Họ lăng quăng cứu cấp, sau cùng nhờ mảnh khăn tay thấm nước nhét vào hai lỗ mũi, máu cầm lại...

- Em nằm yên mươi lăm phút nữa nhé?

Họ dặn dò và rời chúng tôi. Các bạn học cùng lớp cũng đã ra về, trừ Gavin. Sân trường vắng vẻ chỉ còn lại hai đứa. Đầu choáng váng song tôi cũng cố gắng mỉm cười với Gavin một cách khó khăn – vì mũi bị bịt kín và máu khô cứng trên mặt – Gavin khe khẽ bảo:

- Đừng động đậy! Không phải tao cố ý muốn húc đầu vào mũi mày đâu, như vậy trái luật...

Tôi lắc đầu dù biết rằng làm vậy máu có thể tuôn ra và cố gắng mỉm cười:

- Còn tao, tao cũng buồn vì đánh trúng mắt mày.

Gavin lấy tay sờ nhẹ vào mí mắt và cười theo, nụ cười nồng hậu làm ấm lòng tôi như những ngày đông giá rét nhận được tia sáng mặt trời!

Một lát sau, nó nhẹ tay gỡ hai cuộn vải trong mũi tôi và đỡ tôi ngồi lên. Hai đứa lặng lẽ sóng bước trên đường về làng Drumbuck. Đầu tôi vẫn còn choáng váng, Gavin bảo tôi khi ngang nhà nó:

- Vào nhà tao rửa ráy sạch sẽ rồi hẵng về.

Tôi nghe lời nó rụt rè bước qua cái cổng mang huy hiệu ông Thị trưởng.

Hai đứa đi trên con đường trải sỏi, hai bên đầy hoa dẫn vào biệt thự. Khu vườn rộng thênh thang được chăm sóc kỹ lưỡng. Gavin kéo tôi ra sau, chỗ máy nước. Trong lúc hai đứa kỳ cọ, một bà bồi phòng mặc toàn đen mang tạp dề trắng nhìn thấy chúng tôi qua cửa sổ và có lẽ bà ta đi báo tin nên chỉ chốc sau, có một cô gái mặc áo nâu vội vã chạy ra:

- Tội chưa! Các em sao vậy?

Đó là chị Julia-Blair (từ khi mẹ chết, chị là nội tướng trong gia đình). Nhìn kỹ chúng tôi, chị đoán hiểu nguyên do, không gạn hỏi thêm. Chị đưa tôi vào phòng em trai, căn phòng tuyệt đẹp trang hoàng nào hình ảnh, gậy, vật dụng đi câu và vô số đồ chơi bằng gỗ do nó làm lấy. Chị giúp tôi cởi bộ áo quần đầy máu đưa cho bà bồi phòng – tôi thoáng thấy bà ta nhăn mặt – đem đi gói lại. Chị bắt tôi mặc bộ đồ mầu xám của Gavin tuyệt đẹp, chưa cũ mấy.

- Chị quen với mẹ em, Robert ạ! – Giọng chị dịu dàng – Hãy đến chơi với Gavin khi nào...

Chị quay sang thì không thấy Gavin, nó đã đi xuống bếp để được săn sóc con mắt sưng, chị ôn tồn tiếp:

- ... Khi nào hai đứa hết đau...

Và chị đưa tôi ra tận cửa, trả gói áo quần cho tôi, khuôn mặt hiền từ với tia nhìn âu yếm, ấm áp, chị cúi sát bên tôi, hơi đỏ mặt, chị bảo:

- Robert ơi! Em cứ giữ bộ áo quần này nhé? Gavin nó lớn rồi, chui không vô nữa đâu, em nhé?

Rồi chị đứng yên im sững trên thềm nhìn tôi thật lâu cho đến chừng bóng dáng còm nhom, nhỏ nhắn của tôi khuất dần... vào màn đêm.

Tận lúc ấy tôi mới thấm mệt. Trên đường về tay chân tôi ê ẩm, đầu óc quay cuồng. Tôi lê chân trong chán nản và mệt mỏi. Chán nản vì được thấy ngôi nhà sang trọng của Gavin, mệt mỏi vì trận đánh không đồng cân sức.

Đến cửa, ông tôi đã đợi sẵn, ông âu yếm nhìn tôi thật lâu. Thấy vẻ xanh xao, mệt mỏi của tôi, ông hỏi:

- Sao, con thắng chứ?

- Thưa ông, hình như... là con thua.

Ông không gặng lại câu nào nữa, nắm tay tôi dắt lên phòng, đỡ tôi ngồi lên ghế dựa. Tôi chậm rãi kể:

- ... Nhưng con không sợ, bắt đầu xong là con hết sợ liền.

Ông từ tốn hỏi kỹ mọi chuyện. Sau khi tôi kể xong, ông lặng lẽ vớ bộ quần áo – nguyên nhân thảm nhục của tôi – ném vào lò sưởi. Phải khá lâu sau đó, bộ quần áo đã biến tôi thành cọng cải mới chịu cháy hết cho, khói tỏa nồng nực khắp phòng.

Bấy giờ, ông mới bảo:

- Đó, ông nói có sai đâu!

______________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG BẢY
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>