Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

CHƯƠNG VI_BỨC TRANH DÒNG HỌ NGUYỄN


CHƯƠNG VI

CẢ NGƯỜI LẪN TRANH MẤT TÍCH


Đi Đà Lạt vội vàng. Về Saigon cũng vội vàng. Vừa về tới nhà, việc đầu tiên của lão Mười là kiểm soát xem Thiện Cơ có còn đó hay không, hay là đã rông đi đâu mất tích rồi.

- Có đâu? – Y đập tay vào cửa sắt gọi – Có đâu, mở cửa cái coi.

Có lên tiếng thưa:

- Dạ, để con kiếm xâu chìa khóa.

- Ở nhà hổm rầy có chi lạ không? – Y vừa bước vào nhà vừa hỏi.

Rồi không đợi nghe Có trả lời, y sồng sộc chạy xuống nhà dưới, đảo mắt ngó quanh, liếc thật nhanh lên tường cạnh tấm giường của Có.

Bức tranh vẫn còn đó, y nguyên. Thế là yên chí lớn. Có thể coi là chắc như cua gạch món ba trăm ngàn sẽ nắm trong tay. Dù chẳng nhiều nhặn gì nhưng đó cũng chẳng phải là một món tiền nhỏ nhoi mỗi lúc mỗi kiếm ra một cách dễ dàng.

Bây giờ y mới dám phóng tâm nghỉ ngơi sau hai ngày đi lại vất vả.

- Có à! – Y đặt ly nước ngọt xuống bàn, quay đầu xuống bếp gọi – Trời hãy còn sớm, mày lấy xe lại Trường Đua căng lều lên mà làm việc, may ra còn kiếm được một mớ đỡ khổ. Mấy hôm đi tiêu hết nhẵn cả tiền…

- Dạ! – Có ngoan ngoãn vâng lời.

Vừa định thay đồ mát nằm nghỉ, y sực nhớ hôm nay là chủ nhật, có những độ ngựa gay cấn mà không bao giờ y chịu bỏ lỡ trừ những khi ốm liệt giường.

Y gọi vợ lại bảo:

- Bà với thằng Tỷ ở nhà nhé. Tôi phải ghé Trường Đua một lát cho đỡ ghiền.

- Ờ, đi đâu thì đi, miễn sao đừng về hạch tiền tôi là được rồi.

*

Tối mịt hôm ấy, y lần về nhà, thất thểu như một người vừa ốm dậy. Y ngạc nhiên thấy trong nhà tối om. Thì ra cả nhà đi vắng hết, cửa đóng có khóa trái ở ngoài.

- Ông Mười đó hả? – Bà Ba bên hàng xóm hỏi vọng ra.

- Phải, tôi đây. Chi đó, bà ba?

- Bà Mười đi khỏi, chắc lại đi đậu chến. Một lát sau, cậu Tỷ cũng đi luôn. Gửi tôi chìa khóa… Chìa khóa đây, ông Mười.

- Cám ơn bà Ba.

Y mở khóa vào nhà, bật đèn lên, ngồi chưa nóng chỗ đã thấy mụ vợ bò về, phờ phạc như người mất hồn.

- Đen ơi là đen – mụ lau mồ hôi than thở – thua không còn một đồng bạc dính túi!

- Tôi cũng đâu có hơn gì bà! – Mười thở dài than – Chưa bao giờ bị ngựa đá tới tấp và đau như kỳ này. Hết cả tiền về xe, phải năn nỉ người ta cho quá giang đến đầu đường, rồi lết bộ về nhà đó.

Lát sau, y an ủi vợ, mà cũng là tự an ủi mình:

- Thôi, bà nó ơi! Cờ bạc có canh đỏ canh đen, người ta cũng có lúc lên lúc xuống. Trời sắp cho vợ chồng mình hưởng cái hoạnh tài nên bắt vợ chồng mình phải chịu một chút thử thách đó thôi… Thôi, chịu khổ cực vài hôm, rồi tha hồ mà phong lưu.

Mụ vợ thở dài thườn thượt, vào trong sân rửa mặt. Bỗng kêu thất thanh:

- Chết rồi, ông ơi!

Lão Mười cuống lên, hỏi dồn dập:

- Cái gì thế? Cái gì thế?

Mụ vợ đứng như trời trồng, mắt thất thần ngó lên bức tường trơ trọi cạnh tấm giường xiêu vẹo của Có.

- Bức tranh… bức tranh đâu mất rồi? – Mụ nói không ra hơi, thều thào như người sắp thở hắt ra.

Người chồng, mặt cắt không còn hột máu, cũng thở hắt ra luôn:

- Chết tôi rồi! Chết tôi rồi!

Một lát sau, lại hồn, cả hai người quên cả mệt nhọc, cùng nhau lục lọi khắp nhà nhưng tốn công vô ích. Bức tranh đã biến mất.

Lão Mười là người tự trấn tĩnh được trước tiên. Uống một hơi hết ly nước đá lạnh, lão trầm ngâm suy nghĩ:

- Cái điệu này – lão nói – đúng là thằng con quý tử của bà chơi vố này đây!

- Ông nói sao? Ông nghi cho thằng Tỷ hả?

- Thì còn ai trồng khoai đất này? Bức tranh ấy không có giá trị gì đối với tất cả mọi người. Và ở cái đất Saigon này chỉ có vỏn vẹn năm người biết là nó quý giá mà thôi. Năm người đó là tôi với bà, thằng Tỷ, thằng Có và thằng Cường. Hai đứa này không lấy, hay nói đúng ra chúng không thèm lấy vì cả nhà mình đi vắng mấy hôm mà bức tranh vẫn còn cho đến khi mình về. Tôi không lấy, bà không lấy, thì lòi ngay ra thằng Tỷ lấy chứ còn ai vào đó nữa.

- Tôi sợ ông nghi oan cho con – mụ Mười cố chống chế.

- Oan! Thôi được! Để tôi hỏi kỹ lại xem cho bà biết oan hay ưng nhé!

Lão bước ra cửa, nói chõ sang nhà bên cạnh:

- Bà Ba có ở nhà không, cho tôi hỏi thăm một chút coi.

Có tiếng chân bước ra cùng lúc với tiếng trả lời:

- Chi đó, ông Mười?

- Chiều nay, thằng Tỷ nhà tôi gửi chìa khóa cho bà, có nhắn gì lại cho chúng tôi không hả bà?

- Không! Không có nhắn nhe gì hết.

- Cháu nó đi chơi một mình hay có bạn bè nào tới rủ?

- Cậu ấy đi một mình.

- Bà có thấy nó mang trong tay vật gì không?

Suy nghĩ một thoáng, bà Ba tươi cười đáp:

- Có, tôi thấy cậu ấy cắp ở nách cái gì lớn bằng tấm lịch treo tường, ngoài có bao bằng giấy nhật trình.

- Thôi, đúng rồi! – Lão lẩm bẩm, đứng ngây người ra, một lát sau mới ngượng ngập cúi đầu nói với bà Ba:

- Cảm ơn bà Ba, chúng tôi làm phiền bà Ba nhiều quá.

- Dạ, không có chi.

Lão Mười quay vào nhà, ngồi phịch xuống ghế, bảo vợ:

- Bà thấy không? Đúng là thằng ông mãnh đã ăn cắp bức tranh. Không biết nó định giở trò ma bùn gì đây?

- Tôi thấy bức tranh có giá, nó túng tiền đem cầm thế lấy ít nhiều xài đỡ chứ gì – người vợ rụt rè nói.

- Có chó nó mua, có chó nó cầm – người chồng tức mình gắt – Tranh có giá là có giá với mình đây nè, chứ đằng thằng một bức tranh phong cảnh xẻ làm đôi thì còn đẹp đẽ nỗi gì! Ai cầm, ai mua thứ đó!

Suy nghĩ một lúc lâu, lão nói tiếp:

- Theo tôi nghĩ thì thằng con quý tử của bà định bắt chẹt mình đây. Nó đem gửi bức tranh ở nhà một thằng bạn nào đó thôi, mượn đỡ ít tiền xài. Thế nào ngày mai nó cũng vác cái xác của nó về đòi tiền chuộc.

Mụ vợ thở dài than:

- Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng bây giờ cả ông và tôi, túi sạch nhẵn như chùi, lấy gì mà chuộc được. Thật chán con với cái! Chỉ một mực ăn chơi rồi phá!

- Thôi, để xem chiều nay sửa xe kiếm được đồng nào, bà giữ lấy rồi liệu dụ nó mà lấy lại bức tranh, hẹn ít bữa nữa lên Đà lạt lấy tiền về, muốn bao nhiêu cũng có. Bà nhớ nó trả tranh rồi hãy đưa tiền nhé… Ủa! Mấy giờ rồi? Sao tối đã lâu ớn mà chưa thấy thằng Có về nhỉ?

- Ờ, tám rưỡi rồi, ông. Mọi ngày chỉ bẩy rưỡi là cùng nó đã về tới nhà. Hay có món khách nào tới trễ, nó phải nán lại làm rốn cho xong chứ gì!

Chưa nói dứt câu đã nghe có tiếng xe máy đậu ngay cửa.

- Chắc nó về đó!

Cả hai người ngóng cổ chờ. Có tiếng Cường hỏi vọng vào:

- Em Có có ở trong nhà không, hai bác?

- Ủa! Mời cậu Cường vào chơi – lão Mười chạy ra mở rộng cửa, mời đon đả – Em nó chưa về. Không hiểu bận công chuyện gì mà giờ này chưa thấy trở về.

- Cháu vừa ở đàng Trường Đua lại đây – Cường nói – Hồi chiều, Có không có mặt ở chỗ sửa xe. Cháu đi cắm trại ở Lái Thiêu về, có mấy quả măng định mang lại cho Có thì chỉ thấy cái lều không. Có đi đâu mất, xe Honda cũng đâu mất tiêu luôn. Thằng Sún con ông Năm ở lều bên cạnh cho biết rằng hồi chiều, lúc sâm sẩm tối, có một người lạ mặt, cao lớn, ăn mặc như lính kín, dựng chiếc xe Suzuki ở cạnh lều, vào nói chuyện gì với Có một lúc, rồi thấy mặt Có tái xanh, lấy xe ra, nhờ thằng Sún trông lều giùm trước khi đi theo người lạ mặt. Không biết là đi đâu.

Lão Mười mặt nhăn nhó, than thở:

- Thật là tai họa! Rắc rối vô cùng! Biết làm sao bây giờ đây?

Rồi lão năn nỉ:

- Thôi, trăm sự nhờ cậu Cường. Cậu nhủ lòng thương kiếm nó cho vợ chồng tôi.

- Hai bác cứ yên tâm – Cường nói – Ba cháu quen lớn với mấy ông trong Bộ Chỉ huy Cảnh sát. Để cháu về thưa với ba cháu điện thoại nhờ mấy ổng ra lệnh cho các Quận kiếm giùm thế nào cũng ra.

- Thôi, cậu Cường – lão Mười vội lên tiếng cản – Đừng phiền đến cơ quan Cảnh sát vội. Xưa nay, tôi vốn có cái tật là rất ngại có chuyện, bất cứ chuyện gì, với mấy ông Cảnh sát.

- Cháu nghĩ nhiều khi tránh cũng không được, bác ạ. Là vì có thể một Quận, một Ty, hay một Chi cuộc nào đó đã bắt giữ Có vì bất cứ một lý do nào… Nếu không can thiệp kịp thời, cháu e…

Càng nghe, vợ chồng lão Mười càng cuống lên.

- Vâng – mụ vợ nói – thôi trăm sự nhờ cậu Cường đó. Cậu cố giúp chúng tôi phen này được… tai qua nạn khỏi…

*

Chiều hôm ấy, Có vừa làm xong mấy mối, kiếm được mấy trăm bạc, đang mải o bế mấy món đồ phụ tùng mà khách hàng có cảm tình mang cho, thì Hải đậu xịch chiếc xe Suzuki đen ở trước lều.

Hải, một nhân viên Cảnh sát đang nghỉ phép nên bận thường phục, cũng là một khách hàng quen của Có. Y rất mến thương Có vì cậu bé này có đủ những đức tính của một người thợ giỏi : rành nghề, thông minh và thực thà, nhất là thực thà.

- Có ơi – y nói choang choang – có rỗi coi giùm anh cái xe!

- Dạ, nó sao đó anh? – Có hỏi.

- Nó mới dốc chứng, chạy nhanh thì không sao, mà hễ cứ đến chỗ đông, khẽ thắng cho chạy chậm lại một chút là y như rằng ông ấy tắt máy. Bực mình hết sức!

Y bước vào lều, nói ba điều bốn chuyện với Có lúc ấy còn bận loay hoay xếp lại mấy món đồ nghề cho có ngăn nắp. Cả hai vô ý quay lưng ra ngoài.

Hải chợt giật mình kêu:

- Chết cha! Nó thổi mất xe rồi, Có ơi! Hừ, láo thật! Quân này láo thật.

Có lật đật đẩy chiếc Honda ra, còn trông thấy hút chiếc Suzuki đen phóng hết tốc lực về phía Bẩy Hiền.

- Sún ơi! – Có gọi thằng nhỏ ở lều bên cạnh – Trông lều giùm anh một lát nhé.

Rồi quay lại giục Hải:

- Anh lên đây em chở. Xe ấy chạy không lại xe em đâu, nhất là nó có tật như anh vừa kể.

Xe phóng vun vút, nhưng vì đường chật người đông phải lách tránh mất thì giờ nên đến Trường Nữ Quân Nhân thì mất hút chiếc Suzuki. May được một khúc đường vắng, xe lao nhanh như gió. Gần đến ngã tư Bẩy Hiền đã thấy dạng một tên du đãng cao kều đang lạng chiếc xe đen ở đàng trước.

- Quân này to gan thật! – Hải hăm he – Chưa biết chủ xế là ai mà nó dám thổi! Quả là điếc không sợ súng!

Khoảng cách mỗi lúc một thâu hẹp. Hải đắc chí:

- Phen này ăn đòn rồi, con ơi! Phải cho quân này một trận thật mê tơi, rồi tống cho nằm ấp mới đáng kiếp! Ai đời xểnh ra một chút là ăn cắp! Loạn quá!

Tên quái xế dường như chưa biết nguy cơ đã gần kề. Y chắc mẩm nuốt ngon miếng mồi vì trời nhá nhem tối rất khó phân biệt ngay gian và y đã về gần tới sào huyệt. Bỗng một chiếc xe hơi chạy ngược chiều lao tới. Y vội lách tránh. Đường chỗ này quá đông. Xe khựng lại, rồi tắt máy. Y cuống lên đạp, máy chưa chịu nổ thì một tiếng còi cảnh sát ré lên cướp tinh thần. Y hốt hoảng quay lại, nhận ra xe Có đang lao tới. Thấy rõ cả Hải ngồi sau lưng ngó lom lom trông dữ như một hung thần.

- Chết mẹ rồi!

Y chửi thề. Tuy tiếc đứt ruột, tên cao kều đành phải quăng xe lại, co giò phóng mình vào một con hẻm chạy tháo thân.

Trèo lên xe, chàng cảnh sát bảo bạn:

- Anh nhận ra thằng này rồi. Thằng Chi Cao trong băng thằng Tuệ Sếu ở bẩy Hiền đây mà. Thằng nhãi cũng khôn hồn đấy! Không thì phen này ốm đòn!

Chợt có tiếng gọi:

- Có! Có! Đi đâu đấy?

Có ngửng lên nhìn, mừng rỡ reo lên:

- A! Anh Cường! Anh đi cắm trại đã về!

Hải vỗ vai Có, bảo:

- Thôi, Có về sau với bạn nhé. Tối rồi, anh phải về nhà gấp. Bữa nào rảnh anh sẽ ghé.

Có lễ phép chào:

- Dạ, anh lại nhà.

Sau khi nghe Có kể chuyện đuổi theo tên ăn cắp xe, Cường cười bảo:

- Thằng Chi Cao cùng một băng với thằng Tuệ Sếu và thằng Tỷ đó. Anh vừa trông thấy thằng Tỷ ôm một vật gì to bằng tấm lịch treo tường, ngoài bọc giấy báo, bước vào trong xóm thằng Tuệ ở ngã tư Bẩy Hiền.

- Không khéo lại là bức tranh của em cũng chưa biết chừng.

- Có thể! Nhưng dù có vậy cũng không sao. À, Có này, đây cũng là một dịp tốt để ta đánh một đòn quyết liệt cho ông bà Mười tối tăm mặt mũi… Bây giờ, em đừng về nhà nữa. lại anh ngủ đỡ một đêm đi. Cơm tối xong, anh sẽ tạt qua nhà em, hù cho ông bà Mười mấy câu. Rồi sáng mai, anh dẫn em về, thế nào ông bà ấy cũng phải lo đưa trả em lên Đà Lạt gấp.

*

Chín giờ sáng hôm sau. Vợ chồng Mười Cá Ngựa đang ngồi phờ phạc trong nhà, bỗng nghe thấy tiếng máy xe quen thuộc đậu trước nhà, ngó ra thấy Cường và Có thì mừng như bắt được vàng.

- A! Cậu Cường tới! A! Thằng Có về!

Cường vào nhà, nói tía lia:

- Y như rằng là Có bị người ta tố cáo mua của gian để thay đồ cho khách. Thư nặc danh, tố cáo vu vơ chẳng có bằng chứng gì, nhưng nếu không can thiệp kịp thời cũng dám ăn đòn lắm. Tệ một cái là người ta hỏi nó tên chi, nó cứ một mực khai tên là Có. Không biết họ, không rõ ngày sanh, cũng không rành được tên cha mẹ nữa. Thằng nhỏ cù lần hết sức. Họ bực mình, đã suýt nổi sùng. May sao, ba cháu điện thoại hỏi ra nơi giữ Có nên cháu tới vừa đúng lúc. Cháu khai đại cho em : Tên là Nguyễn Thiện Cơ, 14 tuổi. Con ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Phạm thị Kim, cả hai đều quá cố. Cháu gọi ông Nguyễn Thiện Sỹ, kỹ nghệ gia ở Đà lạt bằng chú ruột. Hiện tạm trú ở nhà bác đây. Quả tình mới 14 tuổi, chưa đến tuổi khai lược giải cá nhân. Có giấy khai sanh làm bằng chứng. Nếu không tin, bác sẽ thân hành mang khai sanh tới xuất trình…

Mười Cá Ngựa càng nghe càng biến sắc. Bụng bảo dạ : Thằng ranh con này sao cứ y như là ma xó, cái gì cũng biết, mà lại biết thật rành mới chết chứ! Thôi, phải rồi, đúng nó là đầu dây mối nhợ tất cả chuyện này đây. Nếu không lo mau mau giải quyết cho êm đẹp, nó dám nổi sùng dẫn lão Sỹ về Saigon trình khai sanh cho Cảnh sát rồi nhận cháu thì mình chỉ còn có nước bơ mỏ, mất mẹ nó cả chì lẫn chài!

Dọn một bộ mặt thật tươi, y đon đả cảm ơn và bóng gió hứa hẹn:

- Cảm ơn cậu Cường rất nhiều, cậu giúp đỡ chúng tôi tận tình. Nhất định là không đời nào chúng tôi dám quên ơn… Cậu bận tâm đến thằng Có, chúng tôi cũng bận tâm không kém. Thế nào chúng tôi cũng phải lo giải quyết cho dứt khoát chứ không thể để lằng nhằng như thế này mãi được. Vừa yên thân cho thằng Có… Vừa yên cả phận chúng tôi…

*

Cường đi khỏi được một tiếng đồng hồ thì thằng Tỷ ở đâu dẫn xác về, nó cười nhăn nhở.

- Thằng quỷ kia – bà Mười hét – mày cất bức tranh đâu?

- Tranh nào hả má? Con đâu có biết. – y điềm nhiên trả lời.

- Thôi đừng có làm bộ ngây thơ, mày không biết thì còn ai vào đây biết nữa. Khôn hồn đưa ra trả ba mày, kẻo ông ấy nổi điên đánh cho gẫy gối tối mặt, không ai can nổi đâu.

Mười Khoái từ nãy giờ ngồi chẳng nói chẳng rằng, lừ lừ đứng dậy, đi tới trước mặt thằng Tỷ, nhìn nó bằng đôi mắt thật nghiêm khắc:

- Tỷ, tao hỏi mày một câu, phải trả lời cho đúng không thì chết đòn. Bức tranh của thằng Có mày có lấy không?

- Thưa ba, có – Thằng Tỷ run giọng trả lời.

- Mày để đâu?

- Con gửi ở nhà thằng bạn.

- Nhà đứa nào?

- Nhà thằng Tuệ ở ngã tư Bẩy Hiền.

- Muốn sống đi lấy ngay về đây cho tao.

Tuy sợ rúm người, nhưng thằng Tỷ vẫn chưa chịu đi. Cha nó quát:

- Đi lấy ngay đi! Sao còn đứng xớ rớ đó?

Nó rụt rè năn nỉ:

- Ba má cho con tiền…

- Tiền gì? – Mười Khoái gay gắt hỏi – Bộ tiền chuộc hả?

Thằng Tỷ đã dạn dĩ hơn, phân trần:

- Thưa ba, không phải tiền chuộc. Nhưng con xin ba má cho con ít chục ngàn…

- Ít chục ngàn? Để làm gì? – cha nó hỏi gắt.

- Dạ, để xài… để xài cho bằng người ta.

Mười Khoái cười gằn, rồi thở dài, mắng:

- Mới ba tuổi ranh, đi học sao không lo học cho bằng người ta? Lại bầy đặt theo băng này băng nọ, tập tành hút xách, bài bạc, toàn những trò chơi mất dậy. Nhà nghèo, bản thân chưa kiếm ra một đồng bạc về giúp đỡ gia đình, đã tiêu xài vung vít cho bằng những đứa con nhà giàu “phá gia chi tử”. Cái điệu này chả mấy chốc đi vào con đường giật dây chuyền hay ăn cướp xe… Rồi tù rạc lúc nào không biết…

Thằng Tỷ đứng chịu trận, không dám cãi nửa lời. Bà Mười thương con, dỗ dành:

- Ba dậy thì phải nghe lời mà sửa đổi. Từ rày không được chơi bời lêu lổng nữa nghe con. Thôi, cho mấy trăm cầm lấy mà ăn quà. Ra lấy xe lại ngay nhà thằng Tuệ đem bức tranh về đây. Ít bữa nữa, ba mày lên Đà Lạt có tiền, sẽ đâu có đó.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

CHƯƠNG V_BỨC TRANH DÒNG HỌ NGUYỄN


CHƯƠNG V

BỨC TRANH


Hơn bẩy giờ sáng, ông Năm Cầm đi đâu về, cười hề hề bảo vợ đang đứng chờ ở cửa:

- Anh chị Mười lóng rày sang dữ. Bây giờ còn bầy đặt đi Đà Lạt nghỉ mát nữa cơ đấy. Tôi vừa gặp hai vợ chồng với thằng con diện quần áo lạnh mới toanh bước lên xe đò đi Đà Lạt…

- Vậy hả? – Người vợ nói rồi quay sang nhà bên cạnh, hỏi chõ vào trong – Thằng Có có ở trong nhà không đó? Ba má và anh hai mày đi Đà Lạt rồi hả?

Có mở cửa ra thưa:

- Dạ, ba má và anh hai cháu mới đi hồi sáng sớm, cháu không biết đi đâu.

- Họ dắt nhau đi Đà Lạt nghỉ mát đấy – vợ Năm Cầm đáp – Sướng ghê ta! Bác Năm cháu vừa trông thấy họ ở bến xe. Sao cháu không được đi? Phải ở nhà trông nhà hả? Tội nghiệp thằng nhỏ thế thì thôi! Làm việc quần quật suốt ngày, quanh năm chí tối mà chẳng được đi chơi lấy một phút. Chả bù với thằng Tỷ, rong chơi tối ngày!...

Có ậm ừ vâng dạ mấy tiếng xã giao rồi mặc vội quần áo, lấy xe ra, lễ phép nói với vợ chồng lão Năm Cầm vẫn còn đứng ba hoa trước cửa:

- Hai bác cho cháu gửi nhà một lát, cháu ghé Trường Đua một chút xíu cháu về ngay.

- Ờ, ờ, cứ khóa cửa lại cho chắc ăn. Rồi để bác trông chừng cho, không đứa nào dám phá cửa vào dọn đồ đi mất đâu mà sợ.

Có lên xe phóng vội đến nhà Cường báo động:

- Anh Cường ơi! Sáng sớm hôm nay, họ kéo nhau lên Đà Lạt hết cả rồi. Anh tính sao? Em sợ họ phá vỡ kế hoạch của mình quá!

Cường bình tĩnh trấn an bạn:

- Yên chí đi! Không có chi phải lo ngại hết. Để mặc anh đối phó cho.

Nói xong, ngồi vào bàn hí hoáy thảo một bức điện:

Nguyenthiencan
1782 Phandinhphung Dalat
Mười và vợ con lên tới chiều nay (.) Đề phòng mạo nhận (.) Nhớ ghi số và ngày khai sanh (.)
BTTB (1)
Cường (./.)

Thảo xong, đưa cho Có và dặn:

- Có lấy xe phóng lẹ tới Bưu Điện Trung ương, bên hông nhà thờ Đức Bà, đánh bức điện tín này cho anh Căn đi.

Xong đâu đấy, cứ yên tâm về nhà chờ anh. Sáng nay, anh được nghỉ hai giờ đầu, nhưng bận chút việc, chừng tám giờ rưỡi mới lại Có được. Tuyệt đối không có gì đáng lo ngại đâu. Rồi anh sẽ phân tách cho Có hiểu từng chi tiết…

*

Cường tới đúng tám giờ rưỡi, không sai một phút. Bao nhiêu lo âu tan biến, Có nhẩy tót ra đón, dắt xe vào trong nhà.

- Sao, đầu đuôi câu chuyện ra sao? – Cường hỏi trước khi ngồi xuống ghế.

- Từ bữa anh bói Kiều và bắt đầu để báo lại, rồi mỗi ngày mỗi để báo lại cho em đều đều, ông bà Mười bèn tập được thói quen xem báo. Nhất là ông Mười, ông đọc kỹ lắm, không sót chỗ nào. Thành thử khi anh đăng báo “Nhắn tin tìm cháu”, ổng thấy ngay và chỉ cho bả đọc đi đọc lại.

Ban ngày, ổng bả bàn tán những gì em đâu có biết vì còn bận suốt ngày đi làm như anh đã rõ. Ban đêm, đêm hôm kia, ổng bả bàn soạn lâu lắm, em nghe được hết. Có cả anh Tỷ nữa.

Số là từ ngày cái lều sửa xe của em đông khách, kiếm được bộn tiền, và nhất là từ ngày em được quen anh, – ổng bả có vẻ nể anh lắm, – ổng bả đối xử với em có nương tay ít nhiều nên chín mười giờ tối em đã được nằm một chỗ nghỉ ngơi cho lại sức.

Ổng bả yên trí em đang sức ăn sức ngủ, đặt mình xuống là ngáy pho pho nên bàn chuyện riêng với nhau chỉ dè dặt lúc ban đầu. Đến giai đoạn gay cấn, họ thảo luận hăng say quên cả giữ gìn nên phát thanh khá lớn, em nằm nhà trong nghe rõ mồn một mặc dầu em không cố ý nghe lỏm.
. . . . . . . . . . . . . . . . .

- Theo tôi nghĩ – lão Mười nói – đầu têu vụ này không ai khác hơn là thằng Cường.

- Ông nói thế nghĩa là sao? – Mụ vợ hỏi.

- Nghĩa là đầu dây mối nhợ là do thằng Cường chứ còn ai vào đây. Nó quen tụi ở Đà Lạt, tụi này nhờ nó điều tra, và nó điều tra ra thằng Có nhà này chính là thằng Nguyễn Thiện Cơ. Nó mới bầy đặt chuyện bói Kiều, đoán Kiều để xúi dục vợ chồng mình buông tha cho thằng Có. Rồi lại bầy trò mỗi ngày để lại mấy tờ báo. Tức là nó sửa soạn để cho cái tin đăng báo tìm người nhà đập vào mắt mình.

Người vợ vặn lý sự liền:

- Ông nói vậy khó nghe quá! Tôi hỏi ông : cậu ấy bầy đặt mấy chuyện đó với mục đích gì? Xin mình buông tha, mình không buông tha thì làm gì được mình nhỉ? Mách mình bản nhắn tin để làm gì? Không lẽ để cho mình lượm được một mớ tiền? Liệu ông có chia cho cậu ấy một đồng xu teng nào không?

- Bà luận vậy cũng có lý – lão Mười công nhận – Nhưng sao tôi cứ nghi nghi. Nhất là cái bữa bói Kiều. Nào là “mở cửa cho ra”, nào là “tình nặng, ơn sâu”, cái gì nó cũng cố nói vơ vào…

- Ông cứ nghĩ bậy cho người ta hoài – người vợ cự nự liền – Thế tôi hỏi ông, kỳ cá ngựa tuần ấy con Phi Hồng có giật giải không nào? Trúng phong phóc vậy mà ông còn nói kia nói nọ.

- Ối chào! Chẳng qua là chó ngáp phải ruồi – lão Mười vẫn cố cãi – Bây giờ đến lượt tôi hỏi bà : thằng Cường khôn lanh như vậy, bộ nó mù tịt không biết gì về vụ thằng Có nhà ta sao?

- Ông sao hay có tật thì giật mình! Bàn dân thiên hạ biết bao nhiêu người thông minh sáng láng, dễ thường họ đều bắt buộc phải tỏ tường chuyện bí mật của những người khác hay sao?

- Nói tóm lại, theo như ý bà thì thằng Cường không hay biết gì ráo phải không?

- Tôi không biết – người vợ cãi và lý luận – Tôi chỉ thấy có hai điều : Một là cậu ấy không biết, tức là cậu ấy vô tình mang một mối lợi lớn lại cho mình. Hai là cậu ấy có biết, nhưng cậu ấy không xui thằng Có bỏ nhà đi, tức là cậu ấy cố ý tạo điều kiện cho mình kiếm một mớ đỡ khổ. Đàng nào cậu ấy cũng là người tốt, không có làm hại gì cho mình nếu không nói là giúp ích cho mình rất nhiều.

- Bà lý sự như vậy cũng được đi. Nhưng…

Lão Mười bỗng hạ thấp giọng, Có lắng tai mới nghe rõ:

- Nhưng tôi nói thật cho bà biết, mình không thể thấp cơ thua trí một thằng bé con được. Dù sao thằng Có bây giờ cũng là một cây tiền cây bạc của mình, mỗi tháng thâu vô được năm sáu chục ngàn chứ phải ít ỏi gì cho cam. Dại gì buông nó ra để đổi lấy một trăm ngàn đồng đền ơn đáp nghĩa. Chi bằng ta cứ… thằng Tỷ… được cả đơn lẫn kép… tha hồ…
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

- Em chỉ nghe được đến đó mà thôi – Có kể tiếp – Đoạn cuối nói nhỏ quá, có cả tiếng bàn cãi của anh Tỷ, em nghe không rõ nên không tài nào đoán ra họ lập mưu mẹo gì. Mãi sáng sớm hôm nay nghe ông hàng xóm cho biết tất cả ba người kéo nhau đi Đà Lạt, em mới ngờ rằng họ định đánh tráo người, đem con ruột của họ thế vào chỗ của em để vừa được tiền đền ơn, vừa ném được một con chuột chuyên phá phách vào trong cái chĩnh gạo nếp thật đầy.

- Chính anh cũng liệu như vậy nên vừa rồi mới bảo em đi đánh dây thép dặn anh Căn đề phòng gian lận đó. Lão Mười tham lam quá. Làm sao cấy nổi thằng Tỷ vào trong gia đình ấy được. Cái bản mặt cô hồn và cái tiếng nói khào khào như vịt đực của thằng Tỷ trộn lẫn thế nào được vào những khuôn mặt hiền lành và giọng nói ấm áp một cách đặc biệt của gia tộc em!

Tươi hẳn nét mặt, Cường hân hoan nói tiếp:

- Nhưng xét cho cùng, họ đi Đà Lạt sáng nay cũng có nhiều cái hay cho chúng ta…

- Lại có chuyện ngược đời đó nữa sao anh? – Có ngạc nhiên hỏi lại.

- Có chứ sao không? Này nhé, ông Sỹ, chú em, thú thật không kiếm đâu ra được một bản khai sanh của em. Muốn nhờ Tòa Tỉnh Kiến Hòa lục giùm cũng không phải chuyện dễ vì không nhớ số và ngày khai. Nay lão Mười lù lù dẫn xác lên Đà Lạt, nhất định phải xuất trình một bản khai để làm bằng chứng. Anh đã dặn trong điện tín là phải ghi nhớ số và ngày khai. Biết rõ số và ngày khai rồi, sau này muốn xin bao nhiêu bản trích lục mà không được. Mình có khai sanh rồi thì bản khai sanh lão Mười nắm trong tay bỗng trở nên vô dụng. Như vậy khác nào họ có con dao sắc, bỗng dưng đưa cho ta nắm đàng chuôi. Đó là một điều lợi thấy rõ.

- Còn điều lợi nào nữa không anh? – Có nôn nóng hỏi.

- Ờ, còn một điều lợi thứ hai cũng quan trọng không kém. Trong thư trước, anh Căn báo cho anh biết là em hiện đang giữ một bức tranh làm chứng tích gia đình. Chuyện này, khi anh ở Đà lạt, chú em quên không nhắc đến. Em cũng công nhận là có, nhưng chúng ta không có một lúc nào thật vắng vẻ, thật tự do để mang bức tranh ấy ra mà xem xét coi có cái gì lạ không. Nay họ đi vắng, tức là họ dành cho chúng ta một thời cơ thật thuận tiện để làm công việc ấy.

- Anh nhắc bây giờ em mới nhớ – Có reo lên – Để em vào lấy anh coi.

Đó là một bức tranh hình chữ nhật, tranh sơn dầu, một bề 30 phân, một bề 40 phân, dường như do một bức tranh khổ 60x40 cắt đôi ra.

Đề tài trình bầy, không có gì đặc sắc lắm, thường là đàng khác. Bối cảnh là một ngôi từ đường cổ kính giữa một vườn hoa rộng mông mênh. Bình diện gần là một hàng rào ngăn cách vườn hoa với một mảnh rộng trồng các thứ rau, có một con rạch nhỏ chạy ngang suốt từ bên này sang bên kia bức tranh.

Có hai tay trịnh trọng nâng bức tranh đưa cho Cường và nói:

- Cậu mợ em trước khi chết bảo em rằng ba em căn dặn phải giữ cho kỹ bức tranh này để làm dấu tích hầu sau này anh em ruột thịt nhận được ra nhau. Trong những ngày chạy loạn, em phải kè kè mang nó đi theo. Ở đây, mới đầu ông Mười mắng không cho treo, sau thấy em kiếm ra tiền, có lợi cho ổng nhiều nên ổng mặc kệ cho em máng nó ở đầu giường.

Cường ngắm nghía mãi, không tìm ra dụng ý của những nét vẽ.

- Có bao giờ em tháo tranh này ra khỏi khung không? – Cường hỏi.

- Dạo chạy loạn ở Huế – Có đáp – thấy nó cồng kềnh quá, cậu em định tháo bỏ cái khung ra, chỉ cần giữ lấy bức tranh không cuộn nó lại cho gọn, nhưng không có thì giờ mà tháo nữa. Thét rồi quen đi. Về đến Saigon, yên rồi, cứ để vậy treo cho tiện. Không ai có ý tháo ra làm gì nữa.

- Thế bây giờ, ta thử tháo ra xem có gì lạ không nhé? – Cường đề nghị.

- Dạ, tùy anh.

Tấm ván mỏng ép sau bức tranh vừa được mở ra, Cường đã vui mừng reo lên:

- Có thế chứ! Giá trị bức tranh là ở đây này. Ha ha ha…

Có ngạc nhiên chạy lại nhìn, thấy Cường đã nhẹ nhàng vuốt mép bức tranh phía tay mặt. Thì ra bức tranh chỉ có ba cạnh phẳng phiu, còn một cạnh thì khúc khuỷu, chỗ nhô ra chỗ thụt vào, phải gấp lại theo một đường thẳng mới lồng vào khung được. Chỗ gấp ấy đã thành nếp, nhưng vì gấp ở mặt sau nên coi tranh ở mặt trước không ai để ý.

Nhìn mặt sau bức tranh, thấy mé bên trái có hai ngón tay mầu đỏ in rõ từng vân. Dưới dấu tay, có ghi ba chữ : Nguyễn Thiện Cơ.

Mé bên phải có bốn hàng chữ:

Long vỹ xà đ
Can qua xứ xứ
MÃ ĐẦU DƯƠNG
THÂN DẬU NIÊN

Có kinh ngạc kêu lên:

- Trời ơi! Ai ngờ lại còn những cái kỳ lạ này nữa, thế mà mấy năm nay chả biết gì cả. Nhưng ý nghĩa ra sao, em không hiểu, anh giảng cho em nghe đi.

- Giản dị quá mà em – Cường nói – Này nhé, ba em có một bức tranh vẽ một cảnh quen thuộc ở quê nhà. Ông có hai đứa con trai nên lăn tay và đề tên mỗi đứa ở một bên bức tranh. Giữa bức tranh, ông viết một bài thơ cổ. Đoạn ông cắt bức tranh ra làm đôi bằng một đường gẫy để sau này khi ráp hai nửa lại, hễ thấy các đường răng cưa ăn khớp vào nhau là đúng.

Vì tranh bị cắt đôi nên bài thơ cũng bị cắt đôi. Do đó em thấy những chữ bị cụt và những câu không có vần. Thật ra thì bài này có vần có luật đàng hoàng…

Vẫn còn thắc mắc, Có hỏi:

- Nói vậy, đó là một bài thơ cổ, tức là một bài thơ đã có sẵn từ xưa. Vậy chắc anh thuộc bài thơ ấy?

- Thuộc chứ – Cường đáp – Đúng ra, đó không phải là một bài thơ thường, mà là bốn câu Sấm của Cụ Trạng Trình. Bốn câu Sấm này quá phổ biến nên nhiều người thuộc lắm.

- Thế ý nghĩa của nó ra làm sao anh? – Có hỏi.

- Trạng Trình thấu rõ máy trời, biết trước những việc xẩy ra mấy trăm năm về sau nhưng không dám tiết lộ thiên cơ. Bởi vậy Cụ phải gói ghém những điều tiên tri trong những câu thơ bí ẩn gọi là Sấm. Chỉ khi nào việc xẩy ra rồi, người ta mới thấy là Sấm ứng nghiệm. Không mấy ai đoán được đúng ý nghĩa của nó trước khi biến cố xẩy ra…

Có thắc mắc hỏi:

- Đã khó khăn bí hiểm như thế, chả biết ba em còn viết vào bức tranh làm gì? Ai mà hiểu nổi?

Cường giải thích:

- Ba em chỉ mượn hình thức mấy câu sấm để che mắt những kẻ tò mò. Nó không có ý nghĩa gì về thời thế như những câu sấm đích thực. Trái lại, nó mang những nghĩa bóng, những nghĩa ẩn mà người dưng không thể biết được, nhưng người thân thuộc lại có thể đoán ra dễ dàng.

Anh tin rằng khi ráp bức tranh của em vào bức tranh của anh Căn, chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa thực sự của toàn thể bức tranh cũng như của những câu sấm trá hình vậy.

Cường bảo Có trong khi y tần ngần lật đi lật lại tờ tranh và khe khẽ đọc mấy đoạn thơ cụt ngủn:

- Thôi ráp tranh vào khung đi, treo trả vào chỗ cũ. Nhớ đừng để ai chú ý đến nó nghe.

Đến giờ đi học, Cường đẩy xe ra, sắp nhẩy lên yên bỗng sực nhớ ra một việc vội chạy vào bảo Có:

- Khoan, đừng lắp tranh vào vội. Trưa nay, họ chưa về kịp đâu. Để tan học, anh về nhà lấy máy hình lại đây chụp ít kiểu mặt trước, mặt sau phòng khi bức tranh vì một lý do nào đó bị thất lạc…

---------------
(1) BTTB : bắt tay trái bạn (lối chào thân mật giữa các Hướng Đạo Sinh.)

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VI

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

CHƯƠNG IV_BỨC TRANH DÒNG HỌ NGUYỄN


CHƯƠNG IV

NGUYỄN THIỆN CƠ


Trời Đà Lạt về chiều lành lạnh.

Bước xuống bến xe, thả bộ trên những con đường tươi mát, du khách khoan khoái cảm thấy chỉ trong khoảng khắc bỗng rũ sạch hết cát bụi của Saigon oi bức, luôn cả nỗi mệt nhọc của một chuyến di chuyển dài trên chiếc xe đò chật chội.

Trong đám du khách buổi chiều đẹp trời hôm ấy, có ba người vui tươi nhất. Đó là một cặp vợ chồng đứng tuổi cùng một thiếu niên 16, 17 tuổi, con trai họ. Tất cả súng sính trong những bộ đồ lạnh mới sắm.

Người chồng, ông Triệu văn Khoái, một tay tuyệt phích đam mê có hạng đến độ người ta đặt tên cho là Mười cá ngựa. Người vợ, dĩ nhiên, không ai khác hơn là bà Mười đậu chến. Duy có người con trai, Triệu văn Tỷ, chúng ta chưa gặp lần nào vì y ít khi có mặt ở nhà. Trong tuổi học trò, y chỉ cắp sách đến trường cho có lệ. y hãnh diện học tập ở cái mà y bắt chước người ta mà kêu là “trường đời”. Và thời gian học tập của y thường là trong giờ giới nghiêm. Kết quả thâu lượm được chỉ có thể đem khoe với nhau trong đồng bọn vì toàn là những điều cấm kỵ không thể để lọt vào tai mắt những người có trách nhiệm về an ninh trong đô thành.

Gia đình ba người ấy hớn hở, mỗi người xây đắp một ngôi lầu mộng trong đầu. Họ càng phấn khởi khi ở trong quán giải khát, Mười Khoái đã khéo léo gợi chuyện và dò hỏi dân địa phương về gia thế của ông chủ hãng đồ hộp Kiến Bình.

Chà chà, y tự nhủ, mình vồ trúng một con mòng mập ú. Mình phỏng đoán chả sai một tí nào, lão ta quả là một kỹ nghệ gia có máu mặt của cái thị xã đẹp đẽ sang trọng này. Vậy thì moi ra chừng một triệu đâu có phải là một việc không thực hiện được. Vợ chồng mình mặc sức tung hoành trong cuộc đỏ đen. Còn thằng nhỏ, một khi đã lọt được vào trong cái gia đình bề thế này thì có khác chi chuột sa chĩnh gạo, tha hồ mà ăn chơi cho thỏa thích…

Họ bước vào văn phòng hãng Kiến Bình đúng lúc ông chủ vừa tiễn xong mấy ông khách tỉnh xa tới đặt hàng.

- Thưa, chúng tôi muốn được gặp ông Nguyễn Thiện Sỹ - Khoái lễ phép hỏi.

- Dạ, chính tôi đây – ông Sỹ vui vẻ đáp – Xin mời quý vị vào.

Tất cả an tọa ở phòng khách. Ông Sỹ tủm tỉm cười nhìn ba người khách lạ có những cặp mắt láo liên, xoi mói.

Ông ân cần mời khách dùng trà và mở lời:

- Chắc quý vị ở xa tới đặt hàng?

- Thưa không – Khoái vội đáp – chúng tôi tới đây vì một lời rao trên báo. Nói cho đúng, vì lời “Nhắn tin tìm người nhà” của ông chủ.

- Ạ! – Ông Sỹ chỉ ạ lên một tiếng và ngồi yên chờ đợi.

Ba người khách đều lấy làm lạ và cụt hứng vì không thấy ông chủ hãng Kiến Bình ngạc nhiên và mừng rỡ chút nào. Bất giác, Khoái đâm ra lúng túng, một lúc sau mới ngượng ngập vào đề:

- Trong lời rao của ông chủ, tôi thấy có một vài điều cần được minh xác trước. Ông chủ hứa đền ơn 100.000đ cho ai chỉ dẫn hay đưa về người cháu của ông chủ mất tích đã bốn năm nay. Lại cần có bằng chứng xác đáng nữa. Vậy điều thứ nhất, xin ông chủ cho biết thế nào là bằng chứng xác đáng, hay cái chi được gọi là bằng chứng xác đáng.

- Thưa ông – ông Sỹ từ tốn trả lời – bằng chứng xác đáng là những giấy tờ liên quan đếncăn cước của cháu tôi như chứng thư hộ tịch hay chứng tích gia đình.

- Vâng, tôi hiểu. Còn điểm thứ hai, điểm này hơi khó nói vì dính dáng đến chuyện tiền nong.

- Không sao, xin ông cứ tự nhiên – ông Sỹ cười nói – Tài thượng phân minh là một điều rất tốt.

- Dạ, vậy tôi xin thành thật trình bầy. Ông chủ mới hứa đền ơn cho người chỉ dẫn mà không dự liệu đến trường hợp phải đền bồi phần nào cho người có công nuôi dưỡng cháu ông chủ trong mấy năm ròng. Nếu trường hợp này đã thực sự xẩy ra thì ông chủ tính sao?

- Ông nói có lý. Nếu có vị ân nhân nào đã nuôi nấng cháu tôi mấy năm nay, dậy dỗ cháu và cho cháu ăn học đàng hoàng thì tôi mang ơn ấy rất nặng và quả tình không biết lấy chi báo đáp cho vừa.

Nói một cách khác, ơn nghĩa là chuyện tình cảm, nó vô giá nên không thể đo lường bằng tiền bạc được.

- Thế nhưng giả dụ có người muốn yêu cầu ông chủ đánh giá chuyện ấy bằng tiền bạc trước khi cho cháu về với ông chủ thì ông chủ tính sao?

- Trong trường hợp đó – ông Sỹ đáp – tôi sẽ xin vị ấy tự ý định giá trước. Tôi tự xét mình kham được đến đâu sẽ thưa chuyện đến đó.

Khoái thấy đã đến lúc ra một đòn quyết liệt:

- Vâng – y nói – chúng tôi xin lãnh ý. Và chúng tôi xin tự giới thiệu. Vợ chồng tôi chính là những người có cơ duyên gặp cháu trong ngày chạy loạn ở Cố Đô, cái sống với cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Về Saigon, cái ăn cái uống tốn kém chẳng nói làm gì. Chỉ tội một nỗi vì bận bịu có cháu nhỏ bên mình, vướng tay bận chân nên mấy năm nay chúng tôi buôn bán không được hanh thông như trước. Từ chỗ túng thiếu đi đến chỗ nợ nần thật quả không có mấy hồi. Bởi thế chúng tôi hiện cần phải có một số tiền một triệu đồng mới đủ để trang trải. Thưa ông chủ, có được như vậy chúng tôi mới dám đưa cháu về hầu ông bà chủ được.

Ông chủ thở dài đáp:

- À, thì ra là thế! Nhưng trước khi bàn kỹ điểm thứ hai này, tôi xin mạn phép trở lại điểm thứ nhất của ông trước đã. Ông có thể cho xem qua các bằng chứng được không ạ?

- Được chứ – Khoái vui vẻ đáp trong khi mở cặp lấy một tờ giấy ra đưa cho ông Sỹ.

Đó là bản trích lục khai sanh của Nguyễn Thiện Cơ.

Ông Sỹ chăm chú đọc từ đầu đến cuối, mỗi giòng mỗi gật đầu. Chủ ý của ông là nhớ cho kỹ số hiệu và ngày đăng ký khai sanh.

Xem xong, ông thong thả gập đôi tờ giấy lại, đưa trả cho Khoái và nói:

- Thưa ông, bản khai sanh này đúng rồi. Xin ông cho coi nốt chút chứng tích gia đình.

- Nghĩa là… – Khoái bối rối hỏi lại – nghĩa là…, xin lỗi, ông chủ nói sao, tôi chưa được hiểu?

- Thưa ông, chứng tích gia đình là bức tranh anh tôi giao cho cháu giữ làm dấu tích đề phòng sau này anh em chúng nó dễ nhận ra nhau.

- À, phải – Khoái trả lời, mắt sáng lên – Tôi nhớ ra rồi, bức tranh vẽ phong cảnh nhà quê mà tôi thấy cháu khư khư đeo ở sau lưng cùng với bọc quần áo trong những ngày chạy loạn. Xong rồi! Bức tranh ấy, tôi có. Tôi vẫn cho treo ở trong phòng ngủ của cháu. Tôi sẽ cho mang lên đây giao cho ông chủ khi cần.

- Vâng – ông Sỹ tiếp lời – điểm thứ nhất thế là tạm coi như đã giải quyết. Giờ ta qua điểm thứ hai… Chả nói giấu gì ông, ba má thằng Cơ qua đời từ lâu, để lại hai thằng con trai nhưng không có một chút di sản nào cho chúng nó cả. Hiện tôi đang nuôi anh thằng Cơ là thằng Căn ở đây. Phần gia tài của riêng tôi cũng chả được bao lăm, chạy vạy lắm mới mở được cái hãng nhỏ bé này làm kế sinh nhai. Nay ông đòi những một triệu đồng thì thật quả không làm sao chạy được. Xin ông thông cảm và thể tình nghĩ lại giùm cho.

- Khó lắm, thưa ông chủ – Khoái giở giọng cứng rắn – Chúng tôi nông cạn chỉ biết nghĩ sao thì thưa đúng y như vậy mà thôi. Còn chấp thuận hay không, cái đó hoàn toàn tùy ở như lượng của ông chú… Nhưng theo chúng tôi thiển nghĩ, số tiền đó có to là to đối với chúng tôi, chứ đối với ông chủ thì, xin lỗi, ăn nhằm gì…

Ông Sỹ cười lạt, điềm nhiên đáp:

- Tôi nói thế này khí không phải, xin ông bà Mười đừng buồn…

Vợ chồng con cái lão Khoái giật mình đánh thót một cái, tự hỏi : Lạ quá! Mình chưa giới thiệu họ tên, sao lão ta đã biết tỏ tường như vậy kìa?

- Cháu tôi nó cũng đã lớn – ông Sỹ ung dung nói tiếp – khi ông đọc bài “Nhắn tin” của tôi, có thể nó cũng đã thấy bài ấy rồi. Trước sau, nó vẫn biết nó là ai vì khi bắt đầu xa nhà, nó đã lên sáu và đã đi học nên bắt buộc phải thuộc tất cả những gì cần thiết ghi trong giấy khai sanh của nó. Sở dĩ nó không nỡ tự động lên đây kiếm tôi, có lẽ vì nó muốn lưu lại một chút tình với ông bà cho có thủy có chung. Nói xin lỗi, nếu cháu nóng lòng gặp lại những người ruột thịt mà cứ tự ý lên đây dù không được ông thuận tình, thiết tưởng ông cũng khó có lý do vững chắc để gây rối cho chúng tôi được. Là vì nếu ông có một bản khai sanh của cháu, – tôi xin nhấn mạnh : ông có một bản trong khi chúng tôi có nhiều bản – thì mảnh giấy đó không đủ để chứng minh bất cứ liên hệ huyết thống nào giữa ông bà và cháu Cơ nhà tôi.

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Cháu nó sở dĩ muốn lưu lại một chút tình với ông bà là cốt để cho chúng tôi có dịp đền ơn ông bà đã nuôi dưỡng mấy năm nay. Nói ông bà bỏ lỗi, dù trong thời gian ấy ông bà có đối xử với cháu nó thế nào đi chăng nữa, chúng tôi vẫn có bổn phận phải coi nghĩa cử của ông bà thâu nhận cháu trong thời gian qua là cái ơn trọng mà chúng tôi cần phải báo đáp.

Chúng tôi vừa thương cháu mồ côi mồ cút, vừa nể lòng ông bà không quản ngại đường xá xa xôi mà lên đây nên chúng tôi xin cố gắng chu biện đủ 300.000đ. đưa hầu ông bà. Quả tình, sức chúng tôi chỉ cố được đến mức đó, xin ông bà lượng tình hiểu cho.

Mười Khoái suy nghĩ thật nhanh : Lão ta có lý, mình giữ được một bản khai sanh thật chả đi đến đâu. Nếu không giải quyết gấp rút, thằng nhãi con sốt ruột rông mất thì vợ chồng mình chỉ còn có nước hút gió chứ kiện cáo gì ai bây giờ? Con dao, họ đã nắm đàng chuôi mất rồi!

Và y cương quyết đánh một ván bài thật liều, ván bài y đã cùng với vợ con xếp sẵn từ lúc ở nhà.

- Vâng – y nói – ông chủ đã dậy chí tình như vậy, chúng tôi chẳng lẽ không tuân. Thôi thì một triệu là đâu, mà ba trăm ngàn là đâu! Chúng ta lấy tình nghĩa đối xử với nhau làm trọng, há câu nệ đồng tiền nhiều ít hay sao? Được, được, ông chủ đưa ba trăm ngàn thôi cũng được. Hà hà…

Rồi y đứng dậy, vỗ vai thằng con trai lúc đó đã dọn sẵn một bộ mặt ngây thơ.

- Thưa ông chủ – y trịnh trọng nói – để tỏ lòng tin cậy nơi ông chủ tôi xin dành quyền ưu tiên cho tình huyết mạch. Đó mới là cái chính, còn tiền nong chỉ là cái phụ… Đây, cháu ruột của ông chủ đây, cháu Nguyễn Thiện Cơ đây!

Y đẩy thằng con trai:

- Lại mừng chú con đi, con!

Như cái máy, thằng tỷ tiến tới, khoanh tay cúi đầu ấp úng:

- Thưa chú…

- Khoan đã – bà Sỹ đứng sau tấm bình phong vội bước ra can thiệp – Tôi sợ cậu này…

Ông Sỹ mỉm cười, đưa mắt ngăn lại:

- Bà gọi thằng Căn ra đây cho tôi.

- Thưa chú, con đây.

Thằng Căn vừa chạy ra vừa nói, khiến cả ba người khách choáng hồn tưởng đâu như thằng Có vừa ở Saigon bay tới.

Thôi thế là bao nhiêu hy vọng tan tành, họ đắng cay tự nhủ. Trời ơi! Sao hai đứa lại giống nhau được đến thế nhỉ?

Ông Sỹ khoan thai nói, gỡ thẹn cho khách:

- Ý hẳn ông bà định thử chúng tôi một chút chứ gì? Thưa, không thể lẫn được đâu, ông bà ạ.

Và ông mau mắn giới thiệu:

- Đây là cháu Nguyễn Thiện Căn, anh ruột của cháu Nguyễn Thiện Cơ. Hai anh em nó giống nhau như đúc. Người ta thường kêu là “trộn cũng không lẫn”. Chẳng những giống ở hình dáng, ở khuôn mặt, tiếng nói của chúng cũng giống nhau nữa. Thành thử, nếu vạn nhất, thất lạc hết những chứng tích gia đình, chúng vẫn có thể nhận ra nhau một cách dễ dàng được. Tuy nhiên, nói thì nói vậy, chứ có đầy đủ những chứng tích bao giờ chả hơn, có phải không, ông Mười?

Ngượng chín người, Mười Khoái vội kiếm lời chống chế:

- Dạ, có chứng tích bao giờ cũng vẫn hơn chứ ạ. Biết đâu sau này nó lại còn được dùng vào những việc khác, hữu ích hơn.

Nói cho ngay, khi vừa tới đây, nghe tiếng nói câu cười của ông chủ, tôi đã nhận thấy ngay là không khác thằng cháu Thiện Cơ một chút nào. Bèn nẩy ra ý định thử xem ông chủ có thể vì nôn nả gặp cháu mà lầm lạc trong việc nghe tiếng gọi của tình máu mủ hay chăng.

Ngưng một giây, y nói tiếp:

- Nhưng tôi cũng xin thưa ngay để ông chủ được yên tâm. Cháu Thiện Cơ hiện ở nhà tôi và bức tranh hiện vẫn trưng trong phòng ngủ của cháu.

Rồi y vội vã kết thúc:

- Thôi, bây giờ câu chuyện coi như đã ngã ngũ. Chúng tôi xin phép ông chủ ra về. Mai mốt chúng tôi xin đưa cháu Thiện Cơ lên đây cho ông bà cùng với bức tranh.

Ông Sỹ cũng niềm nở không kém:

- Vâng, về phần chúng tôi, cũng phải thu xếp ngay cho đủ số ba trăm ngàn như đã hứa với ông bà. Chúng tôi không để ông bà thiệt thòi đâu mà ngại…

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG V

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

CHƯƠNG III_BỨC TRANH DÒNG HỌ NGUYỄN


CHƯƠNG III

 LIỆU BÀI MỞ CỬA


Trưa Saigon nắng như đổ lửa. Mỗi lều sửa xe là một ốc đảo mát rượi rải rác bên hông Trường Đua nóng bỏng. Vắng khách, thợ nằm dài trong lều nghỉ mệt. Riêng chú Có Honda đang lúi húi giải bài toán trên một chiếc thùng ván cũ. Rõ ra phong thái của một cậu học trò nghèo ham học hơn là một chú thợ cam phận suốt đời xa lạ với sách vở. Bao nhiêu tâm trí để cả vào mấy cái hình vẽ và mấy con số đến nỗi một chiếc xe từ đâu tới đậu sát chiếc lều mà không hay.

- Chà! Chú bé học chi mà chăm chỉ thế?

Giật mình, Có quay đầu lại, đứng phắt dậy, chạy a tới, reo vui:

- Ồ, anh Cường! Anh mới đi cắm trại về? Mấy hôm anh đi vắng, em nhớ anh ghê! Quà em đâu?

Cường dựng xe, bước vào lề, hai tay ôm vai Có, mắt nhìn trong mắt, tươi cười nói:

- Anh vừa về tối qua. Sáng nay đi học. Trưa cơm xong lại với em ngay đó. Quà đây, thích không?

Cường móc túi lấy ra chục mận, quả nào quả nấy vàng rực và mọng bóng, trông thực ngon mắt.

- Cảm ơn anh – Có cảm động nói – cảm ơn anh lúc nào cũng nghĩ đến em. Mận Đà Lạt dòn và ngọt lắm phải không anh?

- Ờ, Có ngồi xuống đi, vừa ăn vừa nói chuyện.

- Dạ, anh đi Đà Lạt có chuyện gì vui không?

- Có chứ, nhiều chuyện vui lắm, để dần dần anh kể cho Có nghe.

Cắn miếng mận dòn tan, cơm dầy và ngọt lịm, hạt nhỏ xíu, Có khen ngon luôn miệng.

Cường chăm chú ngó người bạn nhỏ, sửa soạn thử lại bài toán mà cậu chắc là đúng hoàn toàn vì càng ngắm kỹ càng thấy khuôn mặt của Có, từ vầng trán đến cặp mắt, nét nào cũng y hệt Thiện Căn như được đúc cùng một khuôn.

- Có à – Cường ôn tồn hỏi – Có có nhận thấy anh có rất nhiều thiện cảm với Có không?

- Thưa anh, có chứ. Em có thể nói bây giờ ở trên đời này chỉ có anh là người duy nhất thương em mà thôi.

- Còn ba má em nữa chứ?

Có thở dài:

- Anh đã có nhiều dịp mắt thấy tai nghe những cử chỉ và lời ăn tiếng nói của những người mà em phải gọi bằng ba má, chắc anh thừa rõ ông bà ấy không phải là ba má ruột của em rồi.

- Chính vì thế mà từ trước đến nay, anh không muốn gợi chuyện gia đình ra hỏi em sợ em buồn. Nhưng bây giờ…

- Bây giờ sao anh? – Có trố mắt hỏi vồn vã.

- Bây giờ anh cần biết nhiều điều về em, càng rõ càng tốt.

- Chi vậy anh?

- Rồi sẽ rõ. Giờ hãy biết là chuyện đó có lợi cho em. Hoàn toàn có lợi không những trong lúc này mà còn cho tương lai của em nữa. vậy em có thể hứa trả lời thành thực tất cả những điều anh cần biết không?

- Em hứa – Có trả lời rắn rỏi và tin tưởng.

- Tốt lắm – Cường vỗ vai khen bạn – vậy Có có phải là tên thật của em không?

- Thưa không.

- Vậy tên thật của em là gì?

- Tên thật em là Cơ, Nguyễn Thiện Cơ, năm nay 14 tuổi.

- Nơi sanh, em có nhớ không?

- Dạ có, em sanh ở Kiến Hòa.

- Tên ba má?

- Ba em là Nguyễn Thiện Căn, má em là Phạm thị Kim.

Mặt Cường mỗi lúc mỗi tươi thêm. Đáp số bài toán hoàn toàn trúng.

- Em có giữ được một bản khai sanh của em chứ?

- Thưa anh, không. Em thuộc nằm lòng tên, họ, ngày sanh, nơi sanh, và họ tên cha mẹ vì từ năm lên sáu đi học, năm nào cũng phải khai đầy đủ ở nhà trường. Còn khai sanh thì em không được giữ bản nào.

- Tại sao em không ở cùng ba má?

- Em cũng không biết tại sao nữa. Em chỉ nhớ mang máng ngày em còn thật nhỏ, ba má em cưng em lắm. Rồi má em mất lúc em lên năm, ba em buồn… Rồi em lên sáu, ba em giao em cho cậu mợ em mang lên Saigon cho ăn học.

- Cậu mợ em tên chi? – Cường ngắt lời hỏi.

- Cậu em tên là Phạm văn Khánh, em vẫn gọi là cậu ba. Còn mợ, em không biết tên, chỉ biết gọi là mợ ba thôi.

- Hiện giờ cậu mợ em đâu?

- Anh để em kể từ từ cho có đầu có đuôi – Có vừa trả lời vừa cau mày suy nghĩ – Em ở Saigon với cậu mợ được chừng hai năm. Cậu mợ cũng thương nhưng có bao giờ bằng ba má được. Cậu mợ cho em theo chương trình Pháp. Em học ngoại ngữ ấy cũng thấy hay hay nên bây giờ hãy còn nhớ được lõm bõm. Cậu mợ em buôn bán thua lỗ sao đó, phải bỏ Saigon ra mãi Huế làm ăn. Ở đó, em học chương trình Việt đến lớp nhì, bây giờ kêu là lớp bốn đó anh.

- Sao không học tiếp?

- Học sao được mà học. Tết Mậu Thân, loạn lạc quá trời. Cả thành phố Huế phải bỏ hết nhà cửa, xe cộ, của cải, chỉ cốt chạy lấy cái mạng sống. Cậu mợ em bị thương nặng trong cuộc chạy loạn ấy. Máu ra nhiều, kiệt sức, chết dọc đường, giao em cho vợ chồng người em bà con của mợ em…

- Tên chi? Có phải là hai người đang nuôi em không?

- Không phải. Em không biết tên, chỉ thấy kêu là ông Hai, bà Hai. Vợ chồng ông bà này sau cũng bị nạn chết sau khi chưa ra khỏi thành phố Huế. Trong khi hấp hối, ông bà ấy giao em cho ông bà Mười là người đang nuôi em hiện tại. Em không được biết tên thật, chỉ thấy ông bà Hai gọi là dì Mười, dượng Mười. Vào trong này, hàng xóm gọi ổng là ông Mười Cá Ngựa, còn bả là bà Mười Đậu Chến…

- Sau vụ Mậu Thân, sao ba em không kiếm em?

Có rưng rưng nước mắt:

- Trước Tết Mậu Thân ít ngày, em nghe cậu mợ em bàn chuyện với nhau là thế nào ba em cũng mang tiền ra Huế giúp đỡ cậu mợ em và tiện dịp rước em vào Nam, về Kiến Hòa. Sau nhận được dây thép báo tin không vào kịp trước Tết vì không mua được vé máy bay. Ba em hẹn ra riêng… Em sợ ba em mất rồi, chứ nếu ba em còn sống, chắc không khi nào để em bơ vơ mãi thế này.

Cường mủi lòng nhìn hai giọt nước mắt của chú bé lăn dài trên má. Một lúc sau hỏi tiếp:

- Em có nhớ họ hàng về bên nội em không?

- Có, em có một ông chú ruột tên là Nguyễn Thiện Sỹ. Em vẫn gọi là chú ba. Thím, em không biết tên, chỉ gọi là thím ba mà thôi.

Ngửng mặt nhìn cụm mây trắng bay lãng đãng trên nền trời Phú Thọ, Có thả hồn về quá khứ để cố nhớ lại trong trí những hình ảnh đẹp tuyệt vời đã qua.

- Em cũng có một người anh ruột, hơn em hai tuổi, tên là Nguyễn Thiện Căn. Ai cũng bảo em với anh Căn giống nhau như hai giọt nước. Chú thím em cũng có một đứa con trai kém em hai tuổi, trông mũm mĩm thật dễ thương. Nó tên là… xem nào… tên là Chính, Nguyễn Thiện Chính. Ngày em theo cậu mợ lên Saigon, nó mới có lên ba.

Mặt Có tươi tỉnh lại khi nhớ đến đứa em con nhà chú đang bập bẹ tập nói, gọi anh ngọng líu ngọng lô ngày chia tay ở Kiến Hòa : ăn Cơ ơi, ăn Cơ!

Cường cũng vui lây, thân mật vỗ vai Có:

- Đúng rồi! Anh vừa thử lại bài toán đố, anh thấy đáp số của anh trúng phóc.

Em đúng là em của anh Nguyễn Thiện Căn, cháu của ông Nguyễn Thiện Sỹ hiện đang sinh sống ở Đà Lạt. Chú em đăng báo tìm em mấy tháng ròng không thấy, đã thất vọng. Ai ngờ tình cờ ngày nọ nghe giọng nói của em, anh ngờ ngợ như là một giọng rất quen. Vì anh là bạn thân của anh Căn nên bao giờ lên Đà Lạt anh cũng lại ở nhà Căn. Lần này, lên Đà Lạt, gặp Căn, anh nhận thấy ngay cả gương mặt lẫn giọng nói của nó giống em in hệt. Hỏi ra mới rõ Căn lạc mất đứa em ruột tên Cơ.

- Trời ơi! – Có ôm chầm vào ngực Cường, kêu lên – Em sung sướng quá! Nếu quả thật em còn gặp được gia đình, em còn có tình thương huyết nhục thì em sung sướng quá đi thôi. Anh Cường, có thật như anh vừa nói không, anh? Anh không đùa em chứ?

Cường vỗ vỗ vào lưng Có, an ủi:

- Thực chứ sao không? Nhưng chuyện họ hàng nhìn nhau sẽ không dễ dàng như em tưởng đâu. Chú thím em chắc chắn là không quá giàu, nhưng ông bà Mười lại có thể quá tham lam. Hiện giờ em là cái máy in giấy bạc cho ổng bả mỗi tháng năm sáu chục ngàn. Họ đâu có dại buông em ra nếu không được bồi thường thật xứng đáng!

- Vậy phải làm sao, anh? – Có lo lắng hỏi.

- Cứ bình tĩnh và nghe anh nói. Có một điều em phải luôn luôn ghi nhớ là : Phải làm bộ vô tâm, quên hết dĩ vãng, chỉ biết mình là thằng Có, con ông bà Mười mà thôi. Dù có thấy báo in tên Nguyễn Thiện Cơ cũng cứ phớt tỉnh đi coi như là chuyện của thiên hạ không dính líu chi đến mình hết. Ngoài ra, mọi sự cứ để mặc anh tùy cơ ứng biến…

Phải nhớ cho kỹ những điều anh dặn, và tin ở anh, thế nào cũng sẽ có kết quả tốt. Nhớ kỹ chưa nào?

- Dạ, nhớ.

- Có tin ở anh không?

- Dạ, tin. Em không tin anh thì còn biết tin ai bây giờ nữa.

- Tốt! Chiều nay anh sẽ kiếm cớ đến nhà làm thân với ông bà Mười.

- Chi vậy, anh?

- Khoan đừng hỏi vội. Rồi em khắc biết.

*

- Cha! Cậu Cường tử tế quá – bà Mười hớn hở khen và kéo ghế mời Cường ngồi – Đi cắm trại mãi tận Đà Lạt mà cũng nhớ mua quà cho chúng tôi nữa đó. Cậu Cường chu đáo quá!

- Thưa hai bác – Cường lễ phép nói – cháu cắm trại ở trong rừng, xa thành phố nên chẳng mua được gì cả. Mãi đến lúc về mới tạt qua chợ được ít phút trước khi lên xe, thành thử chỉ có chút quà mọn biếu hai bác dùng lấy thảo.

- Cám ơn cậu – ông Mười nói – À mà cậu Cường này, cậu bận học đâu có dư mấy thì giờ, sao cậu chịu khó dậy thằng Có nhà tôi học thêm vậy?

- Thưa bác, một là vì cháu có thiện cảm với Có, hai là vì cháu muốn theo đúng phương châm của Hướng đạo sinh là : Mỗi ngày làm một việc thiện. Dậy cho Có hiểu biết thêm cũng là một việc thiện đó bác.

- Nhưng làm việc thiện như cậu có được lợi cái gì đâu mà làm hoài vậy?

- Có chứ bác. Lợi ở chỗ đồng bào ruột thịt của mình được giúp ích. Lợi cả ở chỗ chính mình tự bằng lòng mình, tự quý trọng mình.

- Cái đó tôi thấy nó bông lông quá, cậu Cường à – ông Mười cười đáp – Đã gọi là lợi thì nó phải thực tế mới được.

Bà Mười để lọ mứt mận lên trên mặt tủ chén, chợt thấy quyển truyện Kiều trên tập báo của Cường.

- Ủa – bà Mười hỏi – cậu Cường đi học hay đi chơi mà mang cả truyện Kiều đi làm chi vậy?

- Thưa bác, chương trình học năm nay của cháu không có truyện Kiều, nhưng cháu mang sách lại nhà một anh bạn cho anh ấy bói chơi một quẻ và đoán giùm cho anh ấy.

- Ủa, cậu biết bói Kiều hả? – Bà Mười sốt sắng hỏi – Cậu bói giùm tôi một quẻ đi.

- Dạ, cháu đoán cũng gọi là tàm tạm được. Bác bói đi, cháu đoán cho.

- Muốn bói, phải làm sao đây, cậu?

- Bác muốn cầu chi cũng được. Cầu chi thì khấn nấy. Chỉ cần để sách lên trán, thành tâm và khấn vái cụ Tiên Điền Nguyễn Du, rồi mở rộng sách ra, chỉ một ngón tay vào bất cứ đoạn nào, trang nào trong sách, khắc thấy ứng nghiệm.

Ông Mười cao hứng nói chen vô:

- Sao tôi thấy bói Kiều người ta khấn vái lu bù, nào Kim Trọng, Thúc Sinh, Tú Bà, mã Giám Sinh, lung tung cả lên cơ mà… Rồi lại phải theo lệ : trai tay trái, gái tay mặt, chứ đâu có phép chỉ lộn xộn như cậu vừa nói.

- Đó là phép bói Kiều xưa đó bác. Ngày xưa, người ta khấn vái kêu cầu tất cả các nhân vật trong truyện, kể cả những vai đáng chê, đáng khinh hay đáng ghét. Bây giờ cho vậy là không được nên người ta chỉ vái cụ Nguyễn Du là tác giả truyện Kiều tức là đấng tạo hóa tác sinh ra tất cả các nhân vật trong truyện. Lệ “nam tả nữ hữu” cũng xưa nữa nên phải sửa đổi. Bói cách xưa, phải đoán cả một trang, ý nghĩa bị mài loãng ra, mất hay. Hơn nữa, không gì vô lý bằng phải phân biệt hẳn một số trang dành riêng cho phái nam và một số trang khác dành riêng cho phái nữ.

Cường nói năng lưu loát, dõng dạc như người lớn nên vợ chồng ông Mười phục lắm.

Bà Mười cười nói:

- Thôi, được rồi, để tôi bói một quẻ xem sao nghe…

Nhắm mắt, lâm râm khấn khứa, rồi mở rộng cuốn sách đưa cho Cường, tay chỉ vào một khoảng giữa trang.

Cường đỡ lấy quyển truyện, tủm tỉm cười, ngâm:

“Liệu bài mở cửa cho ra,
“Ấy là tình nặng, ấy là ơn sâu.

- Quẻ này Thánh dậy quá rõ ràng, thưa bác – Cường giải thích – Chắc là bác xin cụ Nguyễn Du chỉ điểm cho có nên đi thử thời vận hay không. Cụ dậy là không nên. Cụ phá đề bằng chữ “Liệu” ở đầu câu trên, khiến cho người ta tưởng như nghe thấy tiếng răn đe “Liệu hồn!”. Chữ thứ hai là chữ “Bài” rõ ràng chỉ sự đánh bạc. Tiếp theo đến những chữ “Mở cửa”, những chữ “Cho ra” toàn chỉ sự thua thiệt, sự mất tiền. Mà đã thua là thua đậm vì câu dưới có những chữ nặng (tình nặng, chữ sâu (ơn sâu)…

Cường tiếp tục ba hoa, nhưng mắt vẫn chăm chăm theo dõi nét mặt biến đổi của vợ chồng ông bà Mười:

- Nói tóm lại, nếu chỉ bàn nông cạn đến một lời cầu xin tầm thường như đi đánh bài, đánh bạc, thì đây là một quẻ xấu, rất xấu là đàng khác. Nhưng nếu bàn rộng ra như muốn xin vị Thánh Thơ của nước Việt chỉ điểm cho một đường ngay, nẻo chánh mà noi theo trên đường đời, thì đây lại là một quẻ rất tốt. Thánh dậy : nếu có nắm trong tay vận mạng, hay sinh mạng, hay sự tự do của một người nào, thì nên tìm cách mở đường cho người ấy được thoát ly. Thế nào cũng được báo đáp, báo đáp một cách rộng rãi là đàng khác. Chẳng những người ta trả ơn một lần mà thôi đâu, cái ơn ấy còn mãi mãi. Cứ xem những chữ “tình nặng”, “ơn sâu” thì đủ rõ…

Nói nôm na, cụ Nguyễn Du khuyên nên làm điều lành, chẳng những để được phúc đức lại về sau mà còn được báo đáp ngay bằng tiền bạc rất nhiều…

- Ờ, ờ – bà Mười khen – cậu Cường đoán hay đấy. Tôi sắp đi đậu chến, vái xin được bạc, gặp phải quẻ này thà ngồi nhà sướng hơn. Này ông, ông cũng bói một quẻ xem sao…

Ở đời, bói toán cũng là một cái bệnh hay lây. Dù không tin cách mấy, thấy người ta bói hay, cũng muốn bói chơi một quẻ. Nhất là không tốn tiền.

- Ừ, bói thì bói, sợ gì? – Ông Mười đáp.

Cũng lâm râm khấn vái như ai, rồi mở sách đưa Cường:

- Đây, cậu đoán thử có hay không?

Cường gật gù, cất giọng ngâm nga:

“Đùng đùng gió giật mây vần
“Một xe trong cõi hồng trần như bay.

- Quẻ này – Cường nói sau một phút suy nghĩ – quẻ này cũng khá đây. Nếu bác muốn coi kỳ đua ngựa này nên cá vào con nào, thì có mấy con Phong Vân (gió, mây), Hồng Phi hay Phi Hồng (hồng, bay). Cháu không đi trường đua bao giờ nên không thuộc tên ngựa, nhưng đại khái là như vậy. Hoặc giả có thể cá vào các ngựa trong chuồng ông Trần Hồng, hay ông Trần Phi, nếu có những chủ ngựa tên ấy.

Ngưng một lúc, Cường nói tiếp:

- Đó mới là bàn chuyện tầm thường như đánh cá ngựa. Nhưng nếu luận về việc hệ trọng để biết đường ngay nẻo chánh mà theo thì Thánh dậy, theo quẻ này, bác có liên quan đến một biến cố quân sự : có tiếng súng nổ (đùng đùng), ba bề bốn bên náo loạn (gió giục, mây vần) và bác thoát nạn nhờ một chuyến máy bay (một xe trong cõi… như bay). Có đúng không ạ?

- Đúng! Cách đây mấy năm, dạo Tết Mậu Thân, chạy loạn suýt chết mấy lần.

- Vậy thì Thánh dậy : Thời gian qua rất mau như bóng câu qua cửa sổ, như một chiếc xe bay vút trong cõi hồng trần. Có việc thiện, việc nghĩa nào nên làm thì phải làm ngay đi. Trời như thúc dục ta làm điều phải và hay đùng đùng nổi giận nếu ta trái ý.

- Cậu Cường tán truyện Kiều cũng hay ra trò đấy – ông Mười vừa cười vừa đánh trống lảng – Thôi hãy cứ biết vậy. Để xem chuyến cá ngựa này có đúng như lời đoán của “ông thầy” không đã nhé!

Cường đứng dậy, lễ phép kiếu từ.

- Kìa – ông Mười nói – cậu còn quên mấy tờ báo.

- Dạ thôi, cháu để cho Có đọc – Cường trả lời rồi quay lại bảo Có – Có này, xem chuyện nào hay, đọc cho hai bác nghe nhé.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>