Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

CHƯƠNG III_BỨC MẬT THƯ


CHƯƠNG III

BỨC MẬT THƯ THẤT LẠC


Bất giác, tôi nhắm mắt lại. Nỗi kinh sợ khiến toàn thân lạnh giá. Đến khi mở mắt ra, con voi đồ sộ, lù lù như một cái gò đất vẫn lù lù tiến đến. Ông bụng bự ngồi vắt vẻo trên lưng.

A! Nhìn kỹ lại thì con bồ tượng cũng không to lớn quá sức như tôi tưởng. Trông nó lại có vẻ nho nhỏ xinh xinh là đằng khác. Nhưng đôi tai to lắm cứ quạt phành phạch. Nó lừng lững tiến lại phía chúng tôi. Bốn chân nặng nề cử động thoăn thoắt, khối thân mình trùng trục lắc qua lắc lại rất nhịp nhàng.

Trí mải lúi húi gỡ cho chú nhỏ ra khỏi chiếc túi vải nên chưa biết gì. Chú nhỏ kia cũng vậy. Cái túi đen sì còn chụp kín đầu, làm sao chú biết được là cả một núi thịt ghê gớm kia đang sầm sầm lao tới.

Ngay lúc đó, con voi uốn cong chiếc vòi như một con trăn gió uốn khúc, và ré lên. Lần đầu tiên tôi được nghe voi ré. Đúng thế! Không thể gọi là voi gầm được! Vì tiếng kêu của nó có một âm thanh kỳ lạ lắm. Không phải là tiếng gầm như của hổ hay sư tử mà là một tràng “két, két, két…” như bánh xe cam-nhông hạng nặng siết trên mặt xa lộ khi bị thắng gấp. Tiếng voi ré đinh tai nhức óc. Trí giật thót mình nhẩy nhổm lên như người vô ý ngồi phải một cụm xương rồng. Anh xoay người lại, đưa mắt nhìn. Đứng chết trân như trời trồng, miệng Trí há hốc, tròn như chữ O, không nói lên được một tiếng nào ngay cả một tiếng kêu thảng thốt.

Tưởng chú bé chắc cũng phải sợ hãi lắm. Trái hẳn thế. Không những thản nhiên chẳng tỏ vẻ gì kinh khiếp, nó lại còn tung chân chạy bay về phía con voi và người quản tượng. Vừa chạy vừa gọi ầm lên. Âm thanh chú bé tỏ lộ sự vui mừng vô tả:

- Chum Bô! Chum Bô! Chum Bô!

Con voi… không trả lời (vì nó không biết nói, dĩ nhiên) nhưng người cưỡi voi reo lên mừng rỡ:

- Khiết! Khiết! Yên trí! Yên trí! Tôi đến đây rồi! Tôi đến đây! Tôi đây, Khiết! Tôi đã thấy rõ rồi! Thấy rõ rồi! Trèo lên! Trèo lên!Anh em mình phải đuổi gấp, bắt thằng gian phi nầy lại mới được. Lên đây! Khiết!

Trong khi người quản tượng nói liên thanh như vậy con voi xinh xinh vẫn phóng nước đại. Khi người và vật sáp tới chỗ chú bé tên Khiết tay quản tượng nhẹ nghiêng người với tay bắt lấy cổ tay chú nhỏ. Rồi một đằng kéo tay, một đằng co chân nhẩy bay lên lưng voi, gọn ghẽ nhẹ nhàng như một mục trình diễn ngoạn mục trong đám hát xiệc vậy. Tiếng chú nhỏ run lên vì cơn hãi sợ bị bắt cóc hụt hồi nãy.

- Có phải thằng Đồ-Tể mới chụp bắt hụt tôi vừa rồi đó phải không? Hả? Hả Bình-Be?

- Không biết nữa! Không biết có phải thằng Đồ-Tể không đấy! Có lẽ không phải… Thằng này trông nhỏ con hơn nhiều. Thôi được, chạy đuổi nó cái đã! Tóm cổ được là biết ngay đó mà! Chum-Bô, Chum-Bô! Lẹ lên, lẹ lên. Chum-Bô!

Con bồ tượng tăng tốc lực chạy như gió cuốn. Mặt đất rung lên như trong một cơn địa chấn dưới 4 chân cột đình của nó. Trong khi tôi vẫn ngớ người đứng sững, Trí đã tỉnh táo nói ngay:

- Chạy theo ngay, Chiêm! Thế nào họ cũng cần đến sự giúp sức của chúng mình đấy! Mau lên! Chạy theo!

Quái thật! Sao nhiều người cứ bảo giống voi nặng nề chậm chạp lắm. Thì ra điều nhận xét ấy trật lất. Tôi thầm mong người nào đã nói “giống voi nặng nề chậm chạp” có mặt tại đây, cùng với anh em tôi lao người đuổi con bồ tượng có cái tên là Chum-Bô kia thử coi.

Nó băng qua cánh đồng cỏ trong chớp mắt, tới bìa rừng um tùm lau sậy, vẫn lao vun vút, rẽ cỏ, vạch cây phăng phăng như một chiếc chiến xa hạng nặng của quân đội vậy. A, vậy mà không hiểu làm cách nào Bình-Be và chú nhỏ tên Khiết lại cứ ngồi vững được trên lưng nó chứ, tài thật.

Trí và tôi chạy hết tốc lực đuổi theo. Phía trước con voi, văng vẳng vẫn có tiếng chó sủa. Hai anh em cứ hướng theo phía đó mà chạy như tên bắn.

Khi băng qua cánh rừng lau sậy, tên gian phi đã mất hút. Chú voi Chum-Bô đứng lại lù lù như cái đồi nhỏ. Ông bụng bự tên Bình-Be và chú nhỏ Khiết đã nhảy xuống đứng trên mặt đất. Con chó nhỏ của Khiết vẫn tiếp tục sủa inh ỏi. bốn cẳng chân nhỏ xíu vẫn chạy thoăn thoắt đuổi theo... một đám bụi mù. Đám bụi do một chiếc xe mở máy vội vã, lao nhanh để rồi biến mất hút phía xa xa.

Thở chẳng ra hơi, tôi buông người ngồi phịch xuống bãi cỏ. Rồi đến lượt Trí. Thái dương giựt liên hồi, ý nghĩ trong đầu tôi quay cuồng như chong chóng… Tôi thường nghe người lớn hay kể chuyện về những cơn ác mộng. Và tôi cho rằng có lẽ hai anh em, giây phút vừa qua, đã sống trong một giấc mộng “ác” nhất.

Giờ đây thì hai anh em được biết rõ chú nhỏ Khiết không phải bị bắt cóc, và ông Bình-Be kia không phải là trộm cướp mà cũng chẳng khùng điên gì hết. Quả có thế! Nét mặt ông ta trông hiền lành hết sức. Nhưng... sao còn nhiều vấn đề khó hiểu quá? Thử xem lại coi nào! Này nhé:

- Bình-Be là người như thế nào? Chính thật ông ta là ai? Chú nhỏ tên Khiết là con ông ta hay là gì chứ? Và… và, tại sao hai người, một già một trẻ, ở đâu khi không lại nhè cái nhà ông Mai-Điên này mà đến ở? Kỳ quái hơn… là sao lại ở chung với một con voi xinh xinh thế chứ? Chưa hết! Còn hai cái ông gì... à Sáu Bang và Tư Dậu cũng ở chung luôn nữa! Vậy là sao nhỉ? Rồi... rồi lại còn cái tên gian phi mặc quần áo đen kia. Hắn là ai? Và hắn muốn bắt chú nhỏ Khiết để làm gì chứ? Ừ mà không hiểu tại sao Khiết lại kinh sợ gã áo đen có cái tên kỳ quái Đồ Tể kia chứ? Thật là quái lạ vô cùng! Chưa, chưa hết! Còn cái này mới đáng rợn người hơn nữa đây: Cái tiếng la thất thanh của một “người” nào đó : “Cắt cổ nó! Hãy cắt cổ nó!” Trời ơi! Cắt cổ ai? Mà tại sao lại cắt cổ người ta chứ?

Ấy đó, đầu óc tôi, mà chắc cả Trí cũng thế, cứ loạn lên vì những cái “tại sao, tại sao” và “ai, ai” như thế. Thật chẳng biết đằng trời nào mà mò.

Tôi buột miệng:

- Kỳ ghê! Chúng mình biết làm sao bây giờ đây, anh Trí?

Sếp tôi nói khẽ và nhanh:

- Đừng nóng, Chiêm! Chờ đấy! Để xem họ làm ăn ra sao. Để ý nhận xét kỹ nghe!

Theo lời Trí, tôi đưa mắt nhìn Khiết. Chú nhỏ gọi là nhỏ nhưng thực ra thì cũng không nhỏ lắm. Ít tuổi hơn tôi, nhưng không nhiều lắm. Có một điểm đặc biệt khiến chú khác hẳn các bạn đồng trang lứa là mái tóc nâu. Một màu nâu rất đẹp, mịn óng như tơ. Nét mặt Khiết dễ thương cũng như ông Bình-Be. Ông mập thật là mập, tròn như hòn bi. Chắc ông ta phải là một người thích bông đùa và pha trò cho thiên hạ cười vui lắm. Nhưng lúc này coi bộ ông không có vẻ gì là thích cười đùa vui vẻ cả. Ông ta nói cái gì đó với chú nhỏ Khiết. Có lẽ là một điều gì quan trọng lắm nên sắc diện ông lộ rõ vẻ ưu tư. Mấy phút sau, cả hai người, một già một trẻ, quay lại ngó Trí và tôi. Ông Bình-Be cất tiếng, đồng thời bước lại gần:

- Cám ơn các cháu quá. Không có các cháu, chắc chắn tên gian phi kia đã bắt được Khiết đem đi rồi. Rất tiếc là bác lại không hiện diện tại chỗ lúc đó. May quá là may. Nhờ các cháu đấy. Cám ơn hai anh em nhiều lắm nghe!

Nhỏ Khiết cũng tiến đến, rụt rè:

- Cám ơn… nhé!

Trí lên mặt quan trọng khiến tôi suýt phì cười nếu không cố ghìm lại kịp:

- Có gì, có gì đâu! Bổn phận của chúng tôi mà!

Tôi nhanh miệng phụ họa theo:

- Bổn… à … bổn phận của chúng tôi mà!

Chợt ông Bình-Be giương mắt nhìn hai đứa tôi chăm chú, mặt hơi lộ nét ngạc nhiên:

- À… mà… không hiểu hai cháu tình cờ sao lại có mặt đúng lúc thế chứ?

Ông Bình-Be chỉ hỏi tại sao Trí và tôi lại có mặt tại đó mà không hề đá động đến lý do cách trang phục kỳ quái của hai đứa, nhưng ánh mắt của ông nhìn nhanh hai bộ quần áo “tây di” chúng tôi đang mặc trên người cũng đã là một câu hỏi rõ rệt lắm rồi.

“Sếp” tôi không nói năng gì. Anh chỉ trịnh trọng thò tay vào túi, lôi ra một tấm danh thiếp mà chúng tôi đã thuê in và tô sửa lại rất đẹp sau vụ đánh bại tụi điệp viên quốc tế trong chuyện “Ngọc Báu Ngai Vàng” (I). Tôi kiêu hãnh nhìn ông Bình-Be đang cầm tấm giấy trắng cứng, chăm chú đọc, vẻ mặt càng lúc càng ngạc nhiên sửng sốt:

CT2
Hãng Thám Tử Tư
Saigon – Quốc Tế

Ông Bình-Be trợn tròn đôi mắt, lắp bắp:

- Thì ra… Thì ra hai chú em là thám tử?

Trí thẳng người, nét mặt rất nghiêm:

- Dạ! Thám tử kiêm điều tra viên!

Đột nhiên, người đàn ông xoay cái thân hình tròn như hột mít, ngó tôi:

- Ô… ô…! Mà hình như tôi đã gặp chú em này ở đâu rồi thì phải?

Đến lượt tôi ngẩn người:

- Ủa ! Thế ạ?

Miệng nói mà trong lòng tôi phân vân hết sức vì tôi đã gặp ông Bình-Be này lần nào đâu. Thêm nữa, mặt tôi còn bôi bụi than đen thùi kia mà, không hiểu sao ông ta lại nói xưng xưng như vậy chứ!

- … À , vâng, vâng! Cháu có đến nhà ông Mai-Điên một lần rồi và có gặp ông Sáu Bang và Tư Dậu ở đó!

Tôi thoáng thấy ông “hột mít” liếc nhanh mắt cho chú nhỏ Khiết ý chừng muốn nói ngầm một câu gì đó. Không hiểu Trí có để ý thấy cái liếc mắt của ông ta không mà chỉ nghe anh thao thao kể lại chuyện vì sao hai anh em nghi ngờ có sự gì bí mật trong ngôi nhà hoang phế mà chủ cũ là ông Mai-Điên đó. Mối nghi ngờ khởi thủy từ bữa tôi đến mời người trong nhà mua báo Chuông Vàng.

Ông Bình-Be lặng lẽ đứng nghe. Khi “sếp” tôi nói hết, ông mới từ tốn cất tiếng:

- À ra thế! À…à, phải, phải! Nói để hai chú em biết: tụi tui không muốn người lạ lảng vảng đến gần nơi chúng tôi cư ngụ vì một lý do đặc biệt, quan trọng lắm…

Bất giác, tôi vểnh tai nghe ngóng, lòng thầm hy vọng thế nào cũng dò ra được một vài manh mối gì của mấy người hiện có mặt trong ngôi nhà Mai-Điên. Nhưng ác quá! Ông Bình-Be đã lái câu chuyện ra hướng khác bằng cách hỏi nhanh tôi:

- Thế chú em có trông rõ tên gian phi lúc nó chụp túi bắt nhỏ Khiết không? Chú em làm ơn tả lại hình dáng nó thật kỹ chút coi! Vấn đề này quan trọng vô cùng đấy!

Tôi lắc đầu, thú thật:

- Quá tình cháu cũng không nhìn rõ được mặt tên đó. Cháu chỉ có thể nói được rằng nó đội một chiếc mũ đen, áo vét-tông đen và cả cái quần cũng đen luôn.

Ông Bình-Be quay sang Trí:

- Còn chú em thì sao?

“Sếp” tôi cất tiếng nói lửng lơ, làm bộ như không biết gì mấy:

- À… dạ, cháu cũng thế đấy, ông Bình-Be! Cháu cũng như anh bạn đây, chẳng kịp ngắm nhìn tên gian coi mặt ngang mũi dọc nó ra sao nữa!

Ông “hột mít” nhìn nhỏ Khiết, chép miệng và khẽ lắc đầu. Cả hai người đều lộ vẻ thất vọng buồn rầu.

Đột nhiên, Trí lại nói:

- Nhưng, nếu cần, cháu có thể cho ông biết một vài dấu tích đặc biệt.

Ông Bình-Be sáng rỡ đôi mắt, nói như reo:

- Vậy hả? Thiệt không?

“Sếp” tôi hắng giọng:

- Đây này! Tên gian đó cao lắm, có tới một mét bảy chứ không ít đâu. Chân trái hơi thọt. Trước kia y có đi lính thủy rồi làm nghề võ sĩ đánh quyền anh. Y không phải là người Việt và chuyên môn hút xì-gà.

Ông Bình-Be chưa kịp nghe hết, mặt mũi đã đỏ gay như người bị say nắng. Còn chú bé tên Khiết thì đôi mắt trợn lên như sắp sửa lọt ra khỏi tròng. Ông Bình-Be:

- Ủa! Rõ ràng chú em vừa mới nói với tôi là chú không biết tên đó là ai kia mà. Tại sao lại…?

“Sếp” tôi thản nhiên gật đầu:

- Vâng! Đúng như thế đấy, ông Bình-Be. Hôm nay là lần đầu tiên cháu thấy mặt tên gian đó.

- Lần đầu tiên? Nhưng tại sao chú em lại có thể tả người một cách chính xác quá như vậy chứ, hả? Thật lạ vô cùng. Chú em thử giải thích giùm chút coi nào!

Sếp tôi khẽ nhún vai, giương giương tự đắc:

- Thưa ông Bình-Be! Dễ lắm, có gì là khó đâu. Chỉ là một phương pháp nhận xét, phân tích thường đó thôi ạ. Này nhé! Về chiều cao của tên gian, chỉ nhận xét sơ qua cũng đủ biết. Rồi đến cái chân thọt của hắn, cũng lại nhờ nhận xét dấu chân in trên nền đất ẩm trong rừng đó kìa, ông Bình-Be. Dấu chân phải rõ và sâu hơn dấu chân trái.

Ông “hột mít” gật đầu:

- À, à, tôi hiểu rồi! Thế còn chuyện nó đi lính thủy rồi lại làm võ sĩ quyền Anh, làm sao chú em biết được?

Giọng Trí tự đắc:

- Cái đó lại còn dễ hơn nữa. Khi cháu nhảy chồm vào đánh lộn với tên gian để cứu nhỏ Khiết, cháu chợt thấy trên mu bàn tay của y có xâm hình một chiếc mỏ neo. Do đó, cháu cho y là một tay cựu lính thủy. Còn tại sao biết được y là võ sĩ quyền Anh thì cháu đã nhờ nhìn vào đôi vành tai rách mướp của hắn, đôi tai đã từng nếm nhiều cú đánh bằng găng da của địch thủ trên võ đài.

Nhỏ Khiết sán đến gần:

- Thế còn làm sao mà anh biết hắn là người ngoại quốc và chuyên môn hút xì-gà?

- Khi tôi và tên gian ôm nhau lăn chiêng trên mặt đất, hắn vừa quẫy đạp vừa tru hộc lên những tiếng nói rất lạ, có lẽ là những tiếng nguyền rủa gì đó mà tôi nghe chẳng hiểu gì. Và cũng trong lúc vật lộn, giằng giật, húc mạnh đầu vào ngực áo hắn, tôi ngửi thấy sặc sụa mùi xì-gà không hà!

Nhỏ Khiết tái mặt ngó ông Bình-Be:

- Bình-Be! Thằng Dậu ghẻ! Đúng thằng Dậu ghẻ rồi! Chết, vậy thì nguy quá!

Ông “hột mít” im lặng không nói một tiếng. Chỉ thấy ông thè lưỡi ra liếm thật nhanh lên đôi môi nẻ. Bộ mặt no tròn, hai má phính của ông nhợt ra như tờ giấy trắng. Mấy phút sau ông mới gật gù lẩm bẩm:

- Chú em đây tả người khá quá! Đúng… đúng Dậu ghẻ rồi! Hừ!

Nhỏ Khiết nói như người sắp khóc:

- Ừ, đúng Dậu ghẻ, ừ, ừ… đúng thằng đó rồi! Đỗ-văn-Tể đã sai y tới đây. Như vậy, chắc tụi nó tìm thấy tung tích chúng mình rồi đó! Và Dậu ghẻ sẽ về báo cho Đỗ-văn-Tể biết hiện thời tôi ở đây! Trời ơi! Làm sao bây giờ hả Bình-Be?

Nhỏ Khiết run lên như con chuột nhắt đánh hơi thấy mùi mèo dữ. Ông Bình-Be cũng băn khoăn ra mặt. Hai bàn tay ông không ngớt xoắn vào nhau, ngón nọ bẻ ngón kia kêu rắc rắc. Mãi sau, ông mới cất tiếng:

- Thôi tốt hơn hết là về nhà cái đã. Hiện thời mình chưa biết đích xác lão Đỗ-văn-Tể ở chỗ nào. Nhưng chắc chắn là lão… chỉ ở quanh quẩn gần đâu đây thôi hà!

Dứt lời, chúm môi huýt gió, ông Bình-Be gọi con chó, phất tay ra hiệu cho con voi, rồi quay nhìn chúng tôi:

- Hai anh em! Bây giờ thì hai chú em đã biết rõ nhiều điều về chúng tôi lắm rồi đó. Thôi được, để tôi nói rõ sự thật cho các chú em nghe. Nhưng, với một điều kiện… tối quan trọng. Tôi nhấn mạnh là rất quan trọng, các chú em có nghe rõ không?... Nghĩa là hai chú em phải tuyệt đối giữ bí mật mọi điều tôi sắp kể cho các chú nghe đây! Nào, các chú có chịu hứa với tôi ưng thuận điều kiện đó không nào?

“Sếp” tôi tằng hắng, giọng nói nghiêm nghị:

- Hãng CT2 của anh em tôi bao giờ cũng được các thân chủ hoàn toàn tín nhiệm nhờ sự giữ bí mật tuyệt đối đó, thưa ông Bình-Be! Xin ông cứ tự do cho biết sự thật. Đừng ngại gì cả!

Thế là ông Bình-Be kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện rất ly kỳ, xem chừng còn ly kỳ hơn cả hai vụ “Đồng tiền giả” và “Ngọc Báu Ngai Vàng” nữa.

Vừa kể chuyện, ông “hột mít” vừa đặt bước tiến về khu nhà ở. Và dĩ nhiên, là chúng tôi đeo dính lấy ông không rời một bước. Chú nhỏ Khiết đi len vào giữa, ý chừng vẫn chưa hết sợ vì vụ bị bắt cóc hụt hồi nãy, tuy bên chú, con voi ngoan ngoãn đi kèm sát để bảo vệ vững chắc như vách sắt tường… bồ. Con chó tên Lát-Si tung tăng chạy đây đó, đuôi ve vẩy, quay đầu nhìn các đầu cây ngọn cỏ, đôi mắt dõi theo đàn bướm trắng bay lượn khắp nơi.

Tiếng ông Bình-Be kể chuyện đều đều:

- Đầu mối vụ nầy cũng là nhỏ Khiết mà ra cả đó, hai chú em. Tên thằng nhỏ chính thật là Phạm-Trọng-Khiết. Cha mẹ em nhỏ đáng thương này vốn là hai nhà nhào lộn đu bay nổi tiếng nhất Việt-Nam. Ông tên là Phạm-Trọng-Tâm và bà là Hoàng-ngọc-Lan. Mới đầu, hai ông bà đi làm công cho người ta. Lâu dần, tài nghệ tiến triển, hai người cưới nhau rồi ra lập gánh xiếc riêng. Bảng hiệu kẻ sáu chữ lớn:

ĐOÀN XIẾC VĨ ĐẠI TÂM-LAN


Và từ đó , đoàn xiếc Tâm-Lan nổi tiếng như sóng cồn, không những khắp toàn cõi Việt-Nam, mà lại còn nổi tiếng cả ở ngoại quốc như Tân-Gia-Ba, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai và Thái Lan nữa. Bé Khiết, đúng là cha nào con nấy, cũng giỏi như cha vậy, em mở mắt chào đời trong một chiếc xe do ngựa kéo của đoàn xiếc lúc đang di chuyển từ Tây-Ninh về Saigon. Từ tấm bé cho tới ngày nay, em được ông bà Tâm-Lan nuôi dưỡng và giáo dục ngay trong đoàn xiếc, hết sức chu đáo. Đến khi em biết đi vững rồi, ông bà bắt đầu dạy cho một vài môn nhào lộn dễ làm… Cuộc đời trên bốn bánh xe cứ lăn đều như thế, nay đây mai đó, theo thời gian dần trôi, bình yên như ước chảy qua cầu… cho đến một ngày kia, hồi đó bé Khiết đã được 6 tuổi, bỗng nhiên một người em họ của ông Trọng-Tâm từ đâu tới thăm ông bà. Ông em họ này là Đỗ-văn-Tể, lúc đó đang thất nghiệp và sống trong cảnh nghèo nàn túng quẫn hết sức. Ba nhỏ Khiết vốn là người rất từ tâm, đã cho người em họ cơm ăn việc làm trong đoàn xiếc. Cũng tưởng đó là sự thường, cái việc anh em trong họ, người nọ cứu giúp người kia trong cơn quẫn bách đó. Ông chủ gánh xiếc vĩ đại Tâm-Lan không ngờ rằng vì thương người mà rồi ông bị hại đến thân.

Tên Đỗ-văn-Tể, nhờ ông Tâm, qua khỏi được cơn túng quẫn rồi, không bao giờ y nghĩ đến việc trả ơn ông. Trái hẳn thế, tên gian manh này lại phản ân nhân của mình bằng cách nhúng tay vào mọi hoạt động của đoàn xiếc. Lão Tể tinh ranh vô cùng. Làm ra bộ như người mẫn cán, cái gì dù nhỏ nhặt đến đâu lão cũng để mắt tới. Ông Tâm bản tính rất tốt, lòng dạ quảng đại, thẳng ngay, lại thêm tâm hồn nghệ sĩ, thì giờ đâu mà để ý tới những cái nhỏ nhặt. Nay có người lo cho mọi tiểu tiết như thế, ông yên trí đem hết tâm lực ra phụng sự nghệ thuật và giao cho tên em họ cả quyền thu quyền phát tiền nong trong đoàn.

Đỗ-văn-Tể lợi dụng sự tín nhiệm của ân nhân, đã khéo léo gian lận trong vấn đề kế toán sổ sách. Hắn ghi nhiều món chi tiêu “ma”, mỗi ngày một vài mục, tích tiểu thành đại , lâu dần,… tình hình tài chánh của đoàn đi đến chỗ nguy ngập , có thể rã đám đến nơi. Mọi người không ai hiểu tại sao lại có thể như thế được vì số thu hàng ngày vẫn rất cao. Khán giả nhiều khi đến trễ, hết giấy phải về không kia mà.

Sự thực, tên Đỗ-văn-Tể đã rút rỉa một cách rất tinh vi tiền nong thu hoạch của đoàn. Để rồi, giờ phút này, đoàn xiếc Tâm-Lan sắp vỡ nợ đến nơi, y mới lên mặt giả nhân giả nghĩa đề nghị với ông chủ là y sẽ đi vay giúp ông (vay những món tiền khổng lồ của chính y đã ăn cắp khéo của đoàn mà không ai phát giác ra được) … nhưng với một điều kiện là ông Tâm phải nhượng lại cho y một nữa quyền sở hữu gánh xiếc. Đứng trước hoàn cánh khó xử, ông Tâm, con người nghệ sĩ chân thật không biết tính sao: không chấp thuận điều kiện Đỗ-văn-Tể đưa ra, gánh xiếc mà ông yêu mến hết lòng sẽ xẩy đàn tan nghé, mà gật đầu ưng chịu để cho y làm Phó Giám Đốc, quyền lợi chia hai, có nghĩa là ông đưa cổ cho tên gian hùng cột dây thòng lọng; tên Tể, được đằng chân sẽ lân đằng đầu…

Rốt cuộc, vì thương anh em trong đoàn, ông Tâm đành chấp nhận điều kiện. Ít ngày sau, ông đã rõ dã tâm của Đỗ-văn-Tể. Tên này, danh chính ngôn thuận, lên làm Phó Giám Đốc rồi, quyền hành đầy đủ trong tay, lợi dụng những sơ hở của ông Chánh Giám Đốc, tìm cách lấn áp rất ghê gớm, đến nỗi chính ông Tâm cũng đâm ra lo lắng, sợ hãi cho sự an ninh của ngay cả hai vợ chồng mình.

Và cũng đúng thời gian đó, không hiểu bằng cách nào, ông Trọng Tâm thu thập được nhiều tin tức cụ thể chứng tỏ dã tâm phản bội của Đỗ-văn-Tể. Làm việc, sinh sống với ông đã lâu, tôi được ông yêu mến và tin cậy lắm. Một buổi chiều kia, ông Tâm sai người gọi tôi vào buồng riêng, nói cho tôi biết tất cả âm mưu hèn hạ của tên Tể. Qua giọng nói và ánh mắt buồn rầu, tôi nhận thấy rõ rệt là ông Tâm đang băn khoăn lo ngại về một điều gì ghê gớm lắm. Kể xong chuyện, ông bắt tôi hứa rằng, nếu một mai ông có gặp điều gì rủi ro, không còn trên cõi đời bạc ác, bất nhân nầy nữa, tôi sẽ phải đích thân đem những bằng chứng làm bậy của tên Tể ra trình cho cảnh sát để họ thụ lý, truy tố gã vong ân bội nghĩa đó. Ông đã ghi chép mọi tội ác của tên gian hùng kèm theo những bằng chứng rõ rệt không thể chối cãi được trong một bức mật thư. Và bức mật thư ấy, ông cất giấu tại một nơi kín đáo chỉ riêng mình ông biết. Ông sẽ chỉ bảo cho tôi cái chỗ bí mật ấy. Nhưng chưa kịp… thì rủi thay, ngày hôm sau, cả hai ông bà đã bị tử thương trong một tai nạn xe hơi.

Trí cất tiếng hỏi:

- Tai nạn xe hơi?

- Phải…, tai nạn xe hơi! Tai nạn vô tình hay hữu ý tôi cũng không hiểu nữa. Có cái là, cuộc điều tra của Cảnh sát mãi rồi cũng chỉ đi đến kết quả là: tai nạn xe hơi. Riêng tôi, thì tôi cho rằng cái chết đột ngột của ông bà Tâm Lan không chỉ giản dị có thế. Cái ngày ghê gớm ấy, tôi không hề nói ra cho Khiết biết ý nghĩ riêng của mình về cái chết rùng rợn của cha mẹ em, đồng thời cũng ỉm luôn vụ bức mật thư kia đi. Tôi chỉ để hết thời giờ ra công tìm kiếm nhưng không thấy. Mãi rồi, thành ra thất vọng, chán nản. Chưa hết! Mọi hy vọng mong manh lại bay mất tiêu như làn khói mỏng vì một hôm Đỗ-văn-Tể cho gọi tôi vào kiếm cớ rầy la dữ dội rồi đuổi tôi ra khỏi đoàn xiếc, không cho làm nữa. Y đuổi cả vợ tôi luôn, mặc dầu nàng đang là một diễn viên ăn khách nhất gánh. Dần dần, Đỗ-văn-Tể sa thải hết những người mà hắn nghi là phe cánh của ông chủ cũ để thay thế bằng tụi lâu la bộ hạ của nó. Trong số những đứa đầu trâu mặt ngựa này có tên Dậu ghẻ, tức là tên gian phi hồi nẫy đó.

Tôi buồn rầu ngẫm nghĩ : Tội nghiệp nhỏ Khiết quá! Cha mẹ chết tức tưởi như thế chưa đủ khổ hay sao mà còn thêm cái cảnh bị sống xa cách mọi người bạn cũ thân yêu của em nữa.

Tiếng ông Bình-Be kể chuyện vẫn đều đều:

- Theo luật, hiện thời nhỏ Khiết, thừa kế chính thức của ông bà Tâm-Lan vẫn có quyền là chủ nhân, sở hữu một nữa gánh xiếc vĩ đại Tâm-Lan. Nhưng vì lý do em hãy còn vị thành niên, nên mọi món thu chi đều bị tên Đỗ-văn-Tể, ỷ vào danh nghĩa là người giám hộ, nắm giữ trong tay hết…

Sau khi ông bà chủ nhân đức chết đi rồi, đoàn xiếc lại phiêu du trên đường lưu diễn. Mới đầu tên gian hiểm Đỗ-văn-Tể vờ vịt tỏ ra âu yếm xót thương em Khiết lắm. Y chuyện trò dò hỏi em đủ điều về thói quen hàng ngày của ông Phạm-Trọng-Tâm trong gia đình. Nhỏ Khiết vốn từ lâu vẫn không ưa thích gì tên chú họ gian hùng, nay thấy y vồn vã săn đón, em lại tin ngay. Tính khí trẻ thơ hồn nhiên bao giờ chẳng thế. Khiết vô tình mà tên Tể kia lại hữu ý. Y hỏi dò về thói quen của ba em không phải là không có mục đích. Nhỏ Khiết ngây thơ chẳng giấu giếm điều gì. Em lại còn tỏ vẻ tin tưởng lão gian ác đó lắm. Cứ một điều “chú Tể” hai điều “chú Tể”…

Cho đến một ngày kia, vào phòng riêng, em bắt gặp “chú Tể” đang lục lọi đồ đạc vật dụng của em. Y cười xòa nói trớ đi rằng muốn tìm một bộ quần áo diễn trò để lạc đâu mất, đồng thời vội vã bước ra. Hôm sau, nhỏ Khiết nhận thấy có sự lục lọi bới tung cái rương con của ba má em để lại cho em, trong đó có nhiều vật dụng thân yêu kỷ niệm của ông Tâm và nhiều món nữ trang đắt giá của má em. Cái rương con đó, nhỏ Khiết yêu quý vô cùng. Chắc là mỗi khi nhìn món đồ kỷ niệm thiêng liêng ấy, em lại thấy ấm áp trong lòng như khi được cha mẹ, lúc còn sống, ôm ấp trong tay vậy. Thấy cái rương con bị lục lọi bới tung, nhỏ Khiết nổi giận như muốn hóa điên, chạy đi tìm hỏi lão Tể. Ông chú hờ gian xảo chối bay chối biến. Đồng thời, kể từ ngày đó, Đỗ-văn-Tể thay đổi hẳn thái độ. Y đối với em tàn nhẫn thẳng tay không chút nương nhẹ, bắt em làm những việc nặng nhọc của người lớn và cho tay sai buộc em tập dượt các môn nhào lộn thật nguy hiểm đối với số tuổi măng sữa của em. Nhỏ Khiết nhiều lần bị té, nếu không có lưới căng ở dưới, chắc chắn em đã bỏ mạng từ lâu rồi… Có lần tên tàn độc Đỗ-văn-Tể bắt em nhào lộn không lưới. Kết quả: em đã bị té từ trên 7 thước cao xuống đất, nhưng, nhờ một phép mầu nhiệm nào đó của trời phật, em không hề hấn gì cả. Quả là một điều rất lạ ! Có thể… là hồn thiêng của ba má em…

Tên sát nhân Đỗ-văn-Tể đã tức giận lôi đình trước sự thoát hiểm lạ kỳ của em Khiết. Thì ra lão ta chỉ muốn giết em một cách gián tiếp mà thôi. Hiểu ra thâm ý của tên chú họ bất lương, nhỏ Khiết sợ quá nên tìm cách trốn khỏi đoàn xiếc.

Nhưng tội nghiệp cho em, còn có ai là người thân thiết trên đời nữa. Trong lúc cùng quẫn, may sao Khiết lại nhớ tới vợ chồng tôi. Em biết rằng vợ chồng tôi vẫn thương yêu em như con ruột vậy, nhất là chúng tôi lại hiếm muộn chưa có đứa con nào. Nhỏ Khiết cất lẻn cuốn gói trốn về với vợ chồng tôi. Gặp em, tôi mừng rỡ hết sức và không ngạc nhiên chút nào . Từ lâu, tôi vẫn nghĩ rằng em khó lòng sống chung với tên bất lương đó được. Tôi rùng mình ghê sợ khi nghe Khiết thuật lại dã tâm của tên Tể định giết chết em bằng cách bắt em tập nhào lộn đu bay không căng lưới. Và tôi biết chắc rằng đời sống của nhỏ Khiết đã bắt đầu bị đe dọa trầm trọng lắm rồi.

Ông Bình Be vừa kể xong câu chuyện, Trí đã nói ngay:

- Khi lục lọi cái rương con của nhỏ Khiết, chắc lão Đỗ-Tể chỉ có ý tìm bức mật thư của ông Tâm để lại thôi đó!

Ông Binh-Be phụ họa:

- Đúng như thế! Và lục tìm không thấy, gã bất lương đó mới tìm cách bố trí một tai nạn gì đó để giết chết em Khiết một cách ném đá giấu tay.

Trí gật đầu:

- Giết được nhỏ Khiết rồi, tên Đỗ-Tể sẽ được độc quyền giám dốc đoàn xiếc!

Ông Bình Be khẽ la:

- Phải rồi! Đúng rồi! Bé Khiết không còn ai là họ hàng thân thích để thừa kế nửa quyền giám đốc, trong khi đó lão Tể vừa là quyền giám đốc vừa là người giám hộ của em. Theo luật, tất cả sản nghiệp gánh xiếc sẽ về tay lão hết… Dù có đi trình cảnh sát thì cũng vô ích mà thôi. Bức mật thư không có trong tay, chúng ta chẳng có chút gì làm bằng cớ hết.

Trong khi hai người nói chuyện, tôi liếc mắt nhìn Khiết, nó vẫn đều đều đặt bước, đầu cúi gầm, im lặng. Khiết không nói một tiếng nào để góp chuyện. Có lẽ chú cảm thấy hết sức lo lắng cho số phận mình trong tình hình hiện tại.

Ông Bình-Be lại cho chúng tôi biết thêm là vợ chồng ông, khi Khiết tìm đến để nương nhờ tấm thân côi cút, đã sửa soạn hành trang để cùng đưa em đi lánh nạn. Vợ chồng người nghĩa bộc tin chắc rằng tên Đỗ-Tể thế nào cũng tìm cách lùng bắt bằng được đứa nhỏ. Và hai người đã tìm đến thuê lại khu nhà hẻo lánh của ông Mai-Điên, những tưởng một nơi chốn vắng vẻ thế này, lại bị đồn là nhà có ma nữa sẽ có thể sống lẩn lút dung thân được. Ai ngờ…

Người đày tớ trung thành trầm giọng nói:

- Vì chúng tôi không muốn bị ai dòm ngó, nên tuyệt đối không đi lại làm quen với ai hết. Chúng tôi muốn giấu kín, không để lộ tung tích em Khiết nên… ông Bình nhìn tôi khẽ mỉm cười hôm nọ đã “hù” chú em một chầu sợ tái người để chú em khỏi còn dám léo hánh tới nữa đó.

Tôi ngây người, ngạc nhiên vô cùng:

- Ơ… ơ… cháu đã gặp ông hồi nào đâu? Hôm đó chỉ thấy hai ông gì kỳ quái lắm, tên là Sáu Bang và một ông nữa tên là Tư Dậu thôi mà!

Ông Bình Be chợt cười phá lên:

- Ấy, ấy! Ông gì… ông gì thì cũng là chính tôi đấy!

Trí trợn mắt, nhíu mày tỏ vẻ không hiểu. Nhưng chỉ mấy giây sau, anh đã cười rộ lên:

- À, à, vậy thì cháu hiểu rồi!

Tôi vẫn ngơ ngác:

- Sao? Ông nói sao kia? Ông gì cũng là ông cả? Thế nghĩa là Tư Dậu và Sáu Bang chỉ là một người mà thôi? Và người đó là ông?

- Đúng như thế! Tôi là hề riễu của gánh xiếc vĩ đại Tâm-Lan mà! Chú em chắc chưa quên điều đó. Và tôi có biệt tài hóa trang, thay hình đổi dạng nhanh như chớp vậy đó.

Trời đất! Cái ông Bình-Be nầy thật là quá xá. Tôi há hốc miệng ngó ông, trong lòng thán phục vô cùng. Thật không ngờ! Con người trông hiền lành phúc hậu thế kia ai dè lại có tài khéo đến mức đó chứ!

Cả bọn về đến gần nhà. Khiết nhanh nhẹn băng qua sân cỏ, bàn tay bé nhỏ khẽ níu da cổ con voi, dắt nó vào vựa lúa. Ông Bình-Be vui vẻ săn đón, có ý bảo hai đứa tôi vào chơi trong nhà. Tôi lại cảm thấy hơi run. Dưới ánh mặt trời sáng sủa, mọi vật có vẻ vui tươi thật đấy, nhưng thú thật, ngôi nhà Mai Điên vẫn có một cái gì khiến tôi cứ muốn nổi da gà. Ông Bình-Be đã giải thích dài dài được gần hết mọi điều bí ẩn rồi. tuy nhiên, tôi vẫn còn ngại một cái. Và cái đó tôi định lên tiếng nhờ ông cho biết nốt. chưa kịp mở miệng, bên tai đã vang lên lanh lảnh:

- Hãy cắt cổ nó! Hãy cắt cổ nó!

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

CHƯƠNG II_BỨC MẬT THƯ


CHƯƠNG II

BÍ MẬT THÊM DẦY ĐẶC 


Bước vào phòng thí nghiệm, thấy Trí đang lúi húi xem xét nghiên-cứu mấy cái dấu chân đổ bằng bột hóa học. Khi nghe tôi kể xong câu chuyện, anh tươi hẳn nét mặt:

- A! Nếu vậy thì Chiêm đã nắm được một vụ khả nghi lắm rồi đó.

Tôi ngạc nhiên:

- Cái gì? Khả nghi? Còn gì mà khả nghi nữa chứ? Đúng là một vụ bắt cóc trẻ con rồi chớ còn cái gì nữa mà khả nghi! Chú nhỏ thấp thoáng bên cửa sổ nhà ông Mai Điên, đúng là bị tụi bắt cóc đem về nhốt tại đấy rồi chờ tiền chuộc đó.

Nét mặt Trí đăm chiêu, đầu anh gật gù:

- Có thể lắm!... Thế khi trông thấy Chiêm, chú bé đó có kêu gọi hay la hét gì để cầu cứu không?

- Không! Nhưng tôi tin chắc rằng dù chú bé có muốn kêu la lên cũng không được vì rõ ràng có người đứng đàng sau lôi giật thằng bé vào mà.

Sếp tôi đứng dậy, đặt bước đi ngang lại đi dọc trong gian gác gỗ:

- Tả rõ cho tôi nghe hình dáng hai người đàn ông ở trong nhà Mai-Điên coi sao nào, Chiêm! Đừng bỏ sót một chi tiết nào nghe!

Tưởng cái gì, chứ tả lại hình dáng ông Sáu Bang, Tư Dậu cùng giây phút chạm trán với họ mới rồi đây, tôi tưởng không còn gì dễ dàng hơn nữa. Tôi nói thao thao một hồi rồi kết luận:

- Hai cái ông này coi bộ có vẻ "khùng" quá xá, hả "sếp"?

Trí không trả lời mà chỉ lẩm bẩm:

- Có thể thế lắm! Có thể thế lắm!

Tôi hăm hở:

- Phải đứt đi rồi, chứ còn có thể, có thể gì nữa?... Già đầu như vậy mà chưa nên nết, ăn mặc kỳ cục quá trời. Chẳng phải điên là gì? À có lẽ họ bị hồn ma ông Mai ám ảnh nên đã loạn óc cả rồi chăng?

Trí tán thành:

- Loạn óc! Có lẽ họ bị loạn óc thật! Nhưng theo tôi thì chắc chắn là họ muốn làm cho Chiêm tưởng rằng họ "khùng" thì đúng hơn.

- Á, ủa! Mà tại sao lại như vậy chứ?

Giọng "sếp" đầy vẻ bề trên như một giáo sư giảng bài cho học trò khiến tôi bực mình hết sức:

- Có thế mà cũng không hiểu. Họ làm thế để cho Chiêm sợ không còn dám léo hánh tới nữa. Chỉ có vậy thôi hà!

Ấy đấy! Một lần nữa, Trí lại giải thích được một cách rất giản dị, nhưng cũng rất chính xác nữa. Trong lòng tôi niềm kính phục liền thay thế cho sự bực mình. Và tôi tin chắc rằng anh có lý. Đúng thế. Bộ trang phục của hai người đàn ông tên Sáu Bang và Tư Dậu đáng bật cười thật tình, nhưng phải công nhận rằng nó còn có vẻ tinh quái nữa.

Trí lẩm bẩm như nói một mình:

- Hai ông này không phải là kẻ gian phi tầm thường đâu nghe. Bị lộ chân tướng họ có thể trở thành nguy hiểm lắm đó nghe! Phải dè dặt cẩn thận lắm mới được.

Nghe Trí nói, tôi lại cảm thấy bao nhiêu hăng hái trong lòng tiêu tan mất quá nửa.

- Hay là ... hay là chúng mình đi báo Cảnh Sát đi!

Trí trừng mắt:

- Việc của chúng mình mà lại đi báo Cảnh Sát là thế nào. Hãy tự lực mở cuộc điều tra. Khi nào gặp trở ngại thật lớn lao sẽ hay. Chúng mình là thám tử trứ danh trong vụ "Đồng tiền giả" và "Ngọc Báu Ngai Vàng" chớ bộ Thỏ Đế đấy chắc.

Tôi đành phải nói vuốt đuôi:

- Biết rồi! Biết rồi! Nhưng bây giờ phải làm gì đây chứ?

- Quay trở lại đó!

- Ý! Trở lại đó? Quay trở lại khu nhà Mai Điên?

- Chứ sao? Và anh hạ thấp giọng nghe đây này, CT3! Đừng nói hở chuyện này cho ai biết nghe! Phải giữ thật bí mật đó! Chiều nay, khi nào mấy cái cây ngoài vườn kia đổ bóng thật dài, tức là mặt trời xế chiều rồi, chúng mình sẽ mò tới nhà Mai Điên.

Tôi cố gắng lắm mới nói được đàng hoàng:

- Ừ, tới thì tới... À, nhưng mà tôi còn phải chạy xe đạp đi đưa báo một tua đã, và sau đó còn phải ăn cơm, nếu không, để ba má tôi chờ đợi thì...

Tôi nêu ra bao nhiêu cái "còn phải, còn phải" định để né tránh cái công việc khiến tôi nổi da gà ấy, nhưng Trí vẫn thản nhiên:

- Được! Thì Chiêm có việc cứ làm cho xong đi. Bẩy rưỡi tối có mặt tại đây là êm mà. Nhớ tới đúng giờ đấy!

Đúng giờ?... Trí hẹn đúng giờ? Riêng tôi cảm thấy khó quá. Buổi chiều hôm đó, tôi thẫn thờ, làm việc chẳng đâu vào đâu cả. Thường ngày vẫn khéo léo chân tay lắm. Tới nhà các thân chủ mua báo tháng, mỗi nhà đều có một chỗ đặc biệt để liệng tờ báo vừa tránh khỏi bị nước mưa vừa dễ trông thấy. Mọi khi cứ vung tay một cái là ném trúng phong phóc, Bữa đó hồi hộp trong lòng hay sao mà tôi liệng tờ báo nào cũng cứ bay đi chỗ khác. Mỗi lần ném là một lần phải xuống xe lôi ra ném lại, tốn không biết bao nhiêu thì giờ. Chưa hết! Về đến nhà lại phải chờ ba má tôi mãi mới được ăn cơm.

Khi đạp xe tới "Phòng Thí Nghiệm" của Trí thì đã gần tám giờ tối. Anh không nói gì hết, nhưng tôi biết là Trí bực mình lắm. Anh đã sửa soạn xong từ lâu và phải ngồi đợi tôi chắc cũng kha khá. Cái sắc dầy đeo ở vai kia , bên trong đựng cái gì, tôi đã biết cả, nghĩa là mọi dụng cụ chúng tôi cần tới: một cuộn dây thừng, một cái xẻng vừa là cuốc nữa, một con dao săn đút trong bao da, cái máy chụp hình, chiếc đèn bấm, một ống nhòm và một vài thứ lặt vặt mà tôi chẳng nhớ là cái gì. Nhưng, Trí, tôi chắc là anh không quên một thứ gì hết.

- Thôi đi đi Chiêm! Lẹ lên một chút, nếu không, mò đến nơi đã nửa đêm rồi thì hỏng hết đấy.

Hai anh em để xe đạp ở nhà, đi bộ, băng qua bãi tha ma, tới một cánh rừng mọc đầy lau sậy và cây dại. Dừng lại trong đám bụi cây xen lẫn cỏ lau cao, kín đáo, tôi bâng khuâng lo ngại đưa mắt nhìn bãi cỏ thấp phẳng phiu soải dài từ bìa rừng tới sát khu nhà bí mật. Cỏ trụi trống trơn thế kia thì lộ mục tiêu hết còn gì! Làm sao tiến sát tới ngôi nhà mà không bị bắt gặp chứ? Câu hỏi không lời giải đáp ấy khiến tôi lo ngại vô cùng. Chỉ còn trông chờ vào tài tháo vát của Trí.

Quả nhiên, khi hai đứa nhô ra khỏi bìa rừng, Trí dừng lại, mở túi vải, lôi ra hai cái áo nhà binh bằng vải kaki màu xanh lá cây, hai cái mũ vải và bảo tôi làm theo anh: mặc áo vào, lấy mấy dây cỏ rối cài kín lên chiếc mũ. Rối Trí nói nhanh:

- Chúng mình phải ngụy trang thế này mới trà trộn lẫn vào cỏ cây được.

Mặc áo, gài cỏ vào mũ, tôi cảm thấy việc sắp làm có vẻ nguy tai quá. Trí vẫn thản nhiên cài khuy áo. Anh lấy ra một cái nùi giẻ cháy một đầu thành than đưa lên bôi đầy mặt tôi, đoạn bảo tôi "đánh phấn" cho anh cũng bằng cái đó. Hai anh em "trang điểm" cho nhau xong, nếu tình cờ má Trí và má tôi có đứng trước mặt, chắc chắn là các bà cũng không thể nhận ra được hai thằng "ma bùn" này lại là hai đứa con trai yêu quý của các bà đâu. Tôi đưa mắt nhìn Trí như ngầm hỏi "Bây giờ sao đây?"

- Cẩn thận nhé, CT3! Theo sát bên tôi nghe!

Hai anh em cúi khom lưng, lủi vào phía sau những bụi cây nhỏ, tiến dần ra bãi cỏ thấp. Tới nơi, Trí nằm dán bụng xuống mặt cỏ xanh êm. Tôi cũng làm theo anh lập tức.

Bên tai bỗng vẳng lên tiếng thầm thì của “sếp”:

- Đây rồi! Ngôi nhà có những người bí mật!

Trí vừa lẩm bẩm vừa đưa tay lên điều chỉnh ống viễn kính. Toàn thân tôi bất giác lại run lên nhè nhẹ. Lý do: ngôi nhà của ông Mai-Điên ban ngày coi bộ cũng hiền hòa vui vẻ, thế mà lúc hoàng hôn xuống sao trông lại có một vẻ gì đáng ngại quá chừng. Nhất là trông từ phía đằng sau, ngổn ngang hết căn nọ đến căn kia: nào vựa lúa, căn để xe, một căn mái ngói thấp có vẻ như một cái chuồng gà cũ, mái và một góc tường đã sụp nghiêng xuống. Tôi khẽ hỏi Trí:

- Có thấy người nào không?

Giọng “sếp” chắc nịch:

- Không! Nhưng nhất định còn có người trong đó!

- Sao anh biết được?

- Chiêm có nhìn thấy quần áo phơi trên dây thép kia không? Không lẽ nó biết bay rồi tự vắt lên đó?

Thì ra có gần chục cái vừa quần vừa áo phơi trên một sợi dây thép nơi gần ô cửa xép thật. Nhưng cái giọng nói kẻ cả của Trí khiến tôi bực mình, liền hỏi khó anh một câu để anh bí chơi cho bõ tức:

- Có quần áo phơi thật nhỉ! Nhưng chắc là phơi từ lâu rồi, và khi bỏ đi, mấy người trong đó quên không đem theo chăng?

Trí vẫn thản nhiên:

- Không phải thế! Họ mới phơi độ chừng mười lăm phút thôi hà!

Mười lăm phút! Gớm thật! Đúng là anh nói xạo! Thử hỏi làm sao anh lại biết đích xác được như thế chứ?

Tôi to tiếng, hỏi “sếp”:

- Sao anh dám nói chắc như vậy, hả?

- Rành rành trước mắt đó, có gì là khó đâu nào! Chiêm thấy không? Mấy cái khăn mặt to, cái khăn trải giường rủ xuống thõng thượt thế kia, gió cũng không khiến nó lay động được. Như vậy tức là hãy còn ướt sũng nước. Mà một ngày nắng gắt như hôm nay, tới bây giờ cũng chưa khô, thì rõ là đồ mới phơi chứ còn gì nữa!

Một lần nữa tôi lại cứng họng… chào thua. Trí nhẹ nhún vai lẩm bẩm: "Cái việc phân tích và tổng hợp đó, bầy cho Chiêm hoài mà chẳng tập dượt thi hành gì cả!"

Một phút sau, anh hích nhẹ vào vai tôi:

- Ê! Hai ông bạn già của chúng mình và chú bé con chắc còn ở cả trong đó! Vô đi Chiêm! Sát người xuống mặt cỏ, đừng ngẩng đầu và bò theo tôi. Nhớ kỹ là nếu lộ mục tiêu là... nguy đó, nghe!

Dứt lời, anh bò lướt đi thật nhanh, xuyên qua đám cỏ, may quá , quãng này lại khá cao, rậm, lá xanh um.

Tôi hít vào một hơi thật dài để trấn áp sự hãi sợ trong lòng cứ làm toàn thân tôi tự động run lên bần bật. Và vì bổn phận, tôi mím môi bò theo Trí. "Sếp" tôi, tay nào chân ấy bò nhanh thoăn thoắt nhằm vựa lúa tiến lại. Liếc nhanh mắt nhìn anh, tôi phải công nhận Trí rất tinh khôn khi chọn cái vựa lúa làm mục tiêu tiến tới. Từ địa điểm đó, phóng tầm mắt ra, có thể quan sát trọn vẹn cả khu nhà Mai-Điên được.

Vừa bò hết gần nửa bãi cỏ thấp, tới vựa lúa cũng còn chừng 20 thước nữa, đột nhiên một sự việc xẩy ra khiến hai anh em sợ lạnh người, muốn đứng tim luôn: có tiếng hét thất thanh từ trong khu nhà bí mật vọng ra lanh lảnh:

- "Cắt cổ nó đi! Cắt cổ nó đi!"

Nổi kinh hoàng khiến tay chân tôi cứng ngắc như bị vọp bẻ và ngạc nhiên hết sức không hiểu sao lại chưa ngất xỉu đi. Một ý nghĩ lóe lên thật nhanh trong óc biến thành hành động ngay tức khắc. Nghĩa là tôi vắt giò lên cổ, co cẳng chạy một mạch, không dám quay đầu ngó lại.

Trong lúc sợ hãi thất thần như thế tôi vẫn nhớ được một điều khôn ngoan là cúi gập đôi người mà chạy, đồng thời lẩm bẩm: "Chạy mau và thật xa, càng xa càng tốt, xa cái nơi âm u ghê gớm là khu nhà Mai-Điên này!"

Chắc Trí cũng đồng ý với tôi nên nghe tiếng chân anh nện mặt đất huỳnh huỵch, tôi biết là anh chạy cũng hăng lắm. Quả nhiên, bóng anh vút qua mặt tôi như làn chớp xẹt. Nháy mắt đã thấy anh lao tới bìa rừng lau sậy. Hai anh em chui vào bụi cây cỏ um tùm để... thở. Tôi chưa hết hổn hển, Trí đã lên tiếng:

- Chu choa! Đẹp mặt quá! Thám tử trứ danh của hãng CT2. Ha! Ha! Chạy nhanh như thỏ đế khi mới nghe có điều nguy biến! Đẹp mặt quá xá!

Tôi nói vẫn chưa ra hơi:

- Anh có nghe tiếng gì không đã nào? Chắc tụi họ giết chết thằng nhỏ đó rồi chứ chẳng không đâu, hả "sếp"?

Tiếng Trí bình tĩnh hơn:

- Biết đâu tiếng kêu thét đó lại chẳng từ máy vô tuyến truyền hình hay ra-đi-ô mà ra. Một phim trinh thám chẳng hạn. Hay có thể là họ đã trông thấy tụi mình rồi hét đại lên như thế làm cho chúng mình thất đảm một phen. Biết đâu! Và dọa mình một chầu bở vía, kể thì họ cũng đã thành công đấy. Tính sao bây giờ đây?

Tôi nói ngay:

- Phải đi báo cho Cảnh sát gấp!

Trí làm như không nghe tiếng tôi nói. Đôi chân mày cau lại, anh cắn môi suy nghĩ. Rồi đưa tay lột chiếc mũ vải đầy cọng cỏ trên đầu xuống, anh lùa ngón tay vào mớ tóc bồng bềnh, miệng lẩm bẩm:

- Có điều kỳ lạ nhất là giọng kêu thét vừa rồi, nghe sao có vẻ không phải của người quá. Nó lanh lảnh, chát chúa thế nào ấy. Giọng các bà các cô, chua như giấm, nhưng cũng không thể thế được. Ừ đúng! Thật quả là giọng la không phải... của người ta.

Tôi lại run lên:

- À, à... thì ra... thì ra... anh định nói là tiếng của... của hồn ma ông Mai Điên?

- Cũng chưa biết được, chưa biết chắc được, Chiêm à... Hừ! Vụ này có vẻ gay cấn, bí mật kinh khủng đấy nhé!

Tôi bầy kế thật ngon và gọn:

- Báo quách cho Cảnh Sát là xong chuyện. Họ đủ khả năng và phương tiện để đương đầu với những vụ ghê gớm như thế này mà!

Miệng nói, chân tôi đồng thời dợm bước nhằm hướng đèn sáng của khu Ba Chuông:

- Thôi, về đi, anh Trí! Về Phòng Thí Nghiệm rồi tụi mình gọi điện thoại cho Cảnh-Sát. Đi!

Trí lắc đầu bướng bỉnh:

- Không! Về sao được! Phải tìm hiểu xem là cái gì đã!... Quay lại đó đi!

Quay lại đó! Quay lại khu nhà Mai-Điên có cái tiếng la thất thanh rùng rợn đó! Tôi lại nổi gai ốc cùng mình, vội nói tía lia:

- Trễ rồi còn gì! Đi lâu thế này ba má tụi mình lại thắc mắc lo lắng thì phiền lắm. Về đã!

Sau một hồi ngẫm nghĩ, Trí gật đầu:

- Chiêm nói có lý! Đừng để lộ cho ai biết, ngay cả ba má tụi mình. Đừng để ai nghi ngờ gì về chuyện này! Ừ, phải đấy! Thôi, bây giờ về đã, mai ta sẽ trở lại!

Thế rồi dù muốn dù không, sáng hôm sau, khoảng mười giờ, Trí và tôi đã dán bụng nằm ép xuống bãi cỏ phía sau nhà Mai Điên. Hai anh em lại khoác bộ đồ ngụy trang, trà trộn với màu xanh cỏ cây như hôm trước.

Dưới ánh mặt trời, khu nhà bí mật như tươi vui rạng rỡ hẳn lên, trông chẳng có vẻ gì là một khu nhà có ma cả.

Nằm im ở địa điểm phục kích chưa đầy năm phút, đã thấy cánh cửa ở gần chỗ căng dây thép phơi quần áo hôm qua mở rộng. Hai bóng người tiến ra. Một cao, một thấp và có cả một con chó nữa mà tôi không trông thấy hình dáng màu sắc ra sao, chỉ nghe tiếng sủa "gâu, gâu".

Chống hai khuỷu tay, tôi nhích người một chút nữa và nhẹ ngóc đầu lên ngó. Hai người hiện ra rõ rệt cùng với con chó trắng khoang vàng tung tăng chạy bên cạnh, vừa chạy vừa sủa nhặng lên. Một người đàn ông mập lùn, tuổi độ 40, đi cùng với một chú nhỏ cỡ tuổi tôi. A kìa! Chú nhỏ lại cầm nơi tay một chiếc dù rất to, màu sắc lòe loẹt, loại dù của các cô các bà, chiếc dù mở thật rộng. Bất giác tôi nhìn bầu trời sáng trong, râm mát, ánh sáng dịu êm. Có nắng đâu mà sao chú nhỏ kia lại che dù để làm gì chứ? Tôi thấp giọng, rỉ khẽ vào tai Trí:

- Đúng chú nhỏ hôm qua tôi trông thấy đó, Trí à! Thì ra chú ta chưa bị... giết chết, há!

Trí cũng nói thật khẽ:

- Thế người đàn ông kia?... Sáu Bang hay là Tư Dậu đó?

Tôi ngẩn người:

- À. à... kỳ quá! Sao lại chẳng phải Sáu Bang mà Tư Dậu cũng không đúng nữa! Tôi chưa hề gặp ông này lần nào cả! Ồ, lạ!

Trí lầu bầu cái gì không nghe rõ, nhưng tôi chắc là anh đang khó chịu vì ý nghĩ thầm kín: "Lại có thêm một người đàn ông thứ ba nữa trong ngôi nhà quái quỷ này! Bực quá!" Thắc mắc của riêng tôi thì lại là "Chú nhỏ kia che cái dù lòe loẹt làm gì khi trời không nắng chứ?"

Thắc mắc của tôi được giải thích tức khắc, và lời giải thích tức là cái quang cảnh trước mắt khiến "sếp" CT1 và tôi đờ người vì kinh ngạc hết sức. Thật vậy! Chú nhỏ tay cầm chắc chiếc dù mở rộng, tiến lại gần sợi dây thép căng phơi quần áo hôm qua. Giờ đây tôi mới có dịp nhìn kỹ sợi dây trần không có quần áo giăng mắc ở trên. Nó khá to, bằng chiếc đũa ăn cơm, bóng loáng, thẳng căng trên hai cây cột gỗ chắc chắn. Chú nhỏ vác dù trèo lên một chiếc thang gỗ, đặt hai chân đứng vững lên... sợi dây thép. Rồi đặt cẩn thận chân nọ trước chân kia, cứ thế, chú bước đi rất vững vàng trên sợi dây thép. Đứng ở dưới, người đàn ông mập lùn, bụng to, theo dõi từng động tác của chú bé đi dây. Chú bé đi dây! Thì ra chú bé là một tay tài tử trong gánh xiếc. Và cái dù xanh đỏ của đàn bà trong tay kia là để giữ thăng bằng cho chú bước đi trên dây thép đấy.

Khi đi tới đầu dây đằng kia, chú nhỏ rún mình nhẩy xuống đất, nhẹ nhàng như một con chim se sẻ.

Trí quay nhẹ đầu nhìn tôi định nói cái gì đó, nhưng tia nhìn của anh chợt hướng về phía xa xa và nét mặt anh bỗng đanh lại:

- Ấy! Cẩn thận nằm im, Chiêm!

Tôi cảm thấy như có một luồng điện chạy thật nhanh suốt từ chân lên đến đầu:

- Cái gì thế?

- Nhìn kìa! Đằng sau bụi cây kia kìa! Khe khẽ chứ!

Tôi nhè nhẹ quay đầu rất chậm và… chẳng thấy gì cả, ngoài cái bìa rừng lau sậy phía xa xa và một vài lùm cây sim dại hoa tím mọc rải rác trên bãi cỏ thấp… Nhưng, à kia rồi! Bây giờ tôi đã hiểu vì sao Trí lại trừng mắt ngó chăm chăm về phía đó. Một bóng người mặc toàn đồ đen đang ngồi thụp, lấp sau một bụi ổi rừng. Áo sơ-mi đen rồi cả chiếc mũ vải trên đầu cũng màu đen luôn nữa. Không thể nhìn rõ mặt coi già trẻ ra sao vì người bí mật đang soi ống nhòm. Không nhìn về phía chúng tôi mà y lại dõi ống kính về hướng khu nhà Mai Điên, nơi chú nhỏ che dù đang dượt lại môn đi dây.

Trí nằm sát bên tôi tự lúc nào. Anh rỉ khẽ qua hai hàm răng:

- Thì ra, ngoài tụi mình ra, cũng còn có kẻ mò tới thám thính ngôi nhà ma này nữa.

Tôi lại có một ý nghĩ tự trấn an:

- Có thể là một ông Cảnh Sát!

- Chưa biết! Có điều là người áo đen này không ngó về phía chúng ta. Hắn đang theo dõi quang cảnh trước cửa nhà Mai Điên đó.

Tôi lại đưa mắt về phía một già một trẻ đang giở trò hát xiệc. Chú nhỏ đi hết cái dây thép một lần nữa, và lần này, thay vì nhẩy nhẹ xuống mặt đất, chú lại tung mình lộn mèo hai cái liền trong không trung trước khi hạ mình xuống nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi. Mục trình diễn hay quá khiến tôi suýt nữa buột miệng lên tiếng hoan hô và vổ tay đôm đốp. May sao lại kịp hãm lại được.

Ông mập bụng bự khẽ đập lên vai chú nhỏ một cái có ý khen đoạn quay mình, đặt bước, đi vào trong nhà. Chú nhỏ cúi xuống lượm cái gì đó, một mảnh gỗ thì phải. Và chú giang thẳng cánh tay, liệng ra bãi cỏ. Trí khẽ nói nhanh:

- Nằm sát xuống. Chiêm!

Tôi tuân lệnh ngay, nhưng vẫn chiếu tia mắt nhìn thấy chú nhỏ đang chơi trò gì. Con chó đuổi theo mẩu gỗ. Nó chạy thật nhanh, càm “mồi” vào mõm rồi phóng trở lại cũng rất nhanh, trao cho tiểu chủ. Cứ thế, người và chó chơi trò liệng gỗ, càm mồi, tiến về phía chúng tôi nằm nấp. Nhưng đột nhiên, tôi lại thấy chú nhỏ xoay mình, nhẹ đổi hướng đi, nên vô tình tiến lại đúng chỗ người đàn ông áo đen đang phục kích. Tôi hồi hộp trong sự đợi chờ một biến cố chắc chắn thế nào cũng sẽ xảy ra.

Nhưng bản tính ham chơi, tia mắt tôi cứ dính chặt lấy mẩu gỗ chú nhỏ liệng đang bay trên không trung. Đột nhiên nhận thấy Trí nằm sát bên cạnh đang … nín thở. Bất giác quay nhanh đầu nhìn về phía người đàn ông áo mũ đen và tôi cũng lập tức... nín thở luôn.

Rõ ràng người đàn ông, đen sì như một bóng ma, đang từ từ đứng lên. Tay anh ta cầm một cái túi lớn, to gần bằng bao gạo chỉ xanh, tay kia cầm một vật gì dài chừng hai gang tay người lớn, khá dầy. Trí nín thở điều chỉnh ống viễn kính. Anh lẩm bẩm:

- A tay này cầm cả một chiếc dùi cui như của cảnh sát ấy Chiêm ơi. Coi chừng! Có lẽ nó dám quất chú nhỏ bằng cái đó lắm nghe. Kìa, y sửa soạn tấn công thằng bé kìa.

Đúng như lời Trí nói, người đàn ông khả nghi đang rón rén, cúi thấp, lom khom, lao người vun vút từ bụi cây này qua bụi kia, chớp mắt đã sáp lại gần chú bé con, chỉ còn năm sáu thước. Trí nắm chặt cánh tay tôi, tiếng anh nói rít qua kẽ răng:

- Không! Không để tên gian này xuống tay tàn độc như thế được! Lao tới đi, Chiêm!

Hai đứa tôi nắm tay nhau, cúi rạp người chạy như bay mà cũng rất êm nhẹ. Thiệt may, tên áo đen chăm chú rình “mồi” nên không nghe tiếng gì hết. Chú bé mải đùa với con chó, vô tình đã vượt qua chỗ hắn nấp. Tên áo đen đứng ngay sau lưng chú, sửa soạn tấn công. Hai tay hắn căng rộng miệng túi vải, người hắn đứng thẳng lên. Nó định chụp chiếc túi lớn vào đầu chú nhỏ. Á kìa, hắn giơ cao hai tay lên rồi kìa!

… Trí hét lớn:

- Xung phong!

Tôi lao người tới như mũi tên xé gió. Vốn là một tay cầu thủ đá banh vào hạng khá, tôi nhẩy vọt lên, hạ cả hai cẳng chân vào đúng khoeo chân tên áo đen đúng lúc Trí đưa hai tay phóng thẳng vào cổ y, xô mạnh y ngã sấp mặt về phía trước. Tên áo đen bị tấn công bất thần, ngã đè lên chú nhỏ lúc đó đã bị cái túi gai chụp kín đầu. Chú kêu thét rầm lên, hai tay cố gỡ cái túi gai ghê gớm, hai chân nhỏ bé đạp vung vít vào ngực, vào đầu, và vào cả mặt tên gian phi. Gã đàn ông cũng không vừa. Y quơ tay đấm loạn xạ, miệng la hét, nguyền rủa om xòm bằng một thứ tiếng gì mà tôi không hiểu.

Gã tuổi ngót 30, khỏe như trâu, giựt tay ra dễ dàng và thích cùi chỏ vào bụng tôi một cái đau điếng. Cả người tôi bay lên như trái cầu lông gà và khi hạ xuống chắc là rơi trên mặt cỏ. Tôi nói “chắc là” vì lúc đó tôi đã tối tăm cả mặt mũi ngất đi rồi, còn biết gì nữa đâu.

Ngất đi không bao lâu, nhưng khi mở mắt thì quang cảnh bắt cướp đã đổi khác. Trí đang cố gỡ cho chú nhỏ, rút chiếc túi đen ra khỏi đầu nó. Chiếc túi đen rất to khiến chú nhỏ nghẹt hơi sặc sụa, kêu ằng ặc như con heo bị trói mõm. Tên mặc quần áo đen thì đang đào tẩu. Y chạy băng băng qua cánh đồng, qua ruộng nước sâm sấp mà không hề giảm tốc lực, giống hệt một người bị ma đuổi. Mà quả tình y đang bị ma đuổi thật… Con “ma” có hình thể như một con… chó… biết sủa, biết dán chặt cái mũi nhọn vào gót tên gian mà gâu gâu inh trời khiến y phải chạy nhanh như bay trên mặt đất. Chớp mắt, người và “ma chó” đã biến mất sau đám rừng lau rậm rạp.

Không biết có cái gì xui khiến, tôi đột nhiên quay ngoắt lại nhìn về phía khu nhà… Và tôi muốn nghẹt thở luôn. Người đàn ông bụng bự, người đi cùng chú bé, dạy chú bé nhào lộn trên dây thép, đang tiến lại. Ông ta không chạy mà cũng chẳng… đi… Nhưng, trời ơi! Ông ta cứ phăng phăng tiến lại, tiến lại rất nhanh… ngồi chễm chệ… trên lưng một con… bồ tượng.

________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

CHƯƠNG I_BỨC MẬT THƯ


CHƯƠNG I

NGÔI NHÀ CÓ MA


Trí giương mắt ngó tôi một cách đăm chiêu khiến tôi bất giác khẽ rùng mình lo ngại, nghi là đã có một sự gì gay cấn xảy ra:

- Trời ơi ! Việc gì thế anh Trí? Được tin anh gọi, tôi tới liền đây này!

- Chuỗi hạt trai ! Về việc chuỗi hạt trai đó! Bà vợ ông Chủ Tịch xã đã tìm thấy rồi, CT3 (1) ạ.

A! Thế thì bực thật. Vụ nghỉ hè năm nay, hãng Thám Tử tư của chúng tôi chẳng vớ được dịp nào để hoạt động, buồn quá. Chả bù cho mấy vụ hè những năm trước. Khu vực Ba Chuông dạo này cứ êm như ru khiến cho những ngày nghỉ của chúng tôi chẳng có cái gì thú vị. May mà mới hôm kia đây xẩy ra vụ vợ ông Chủ Tịch xã Tân-Minh bị mất chuỗi hạt trai đáng giá hai triệu đồng bạc. Trí và tôi đã tưởng lại có dịp trổ tài trinh thám. Không ngờ!... Tiếng Trí:

- Bà ấy kêu rầm lên là bị mất trộm. Nào ngờ ông Chủ Tịch xã, để cảnh cáo bà vợ vô ý bỏ quên trong phòng rửa mặt, đã giấu đi cho bà lên ruột đặng tởn đến già không còn dám buông tung bỏ vãi nữa đó.

Buông mình ngồi phịch xuống ghế bành, tôi càu nhàu:

- Có thế thôi mà anh cũng nói ám hiệu gọi tôi đến?

Trí cười, giọng tinh quái:

- Dĩ nhiên! Gọi Chiêm đến để báo cho biết là phải tốp ngay lại việc điều tra cái vụ trộm... không có đó đi. Vậy thôi! Và tôi còn muốn ban một vài chỉ thị cho Chiêm nữa.

Tôi nhổm nay lên, yên trí "sếp" đã có một cái gì:

- Chỉ thị? Vụ gì đấy?

- Chỉ thị cho Chiêm phải làm bất cứ cách nào lùng cho ra một vụ gì bí mật. Nghe, CT3! Và đi một mình vì tôi còn đang bận học cách lấy dấu chân bằng bột hóa học đấy, không thể đi với CT3 được đâu.

Tôi nhăn mặt:

- Nhưng mà biết cách nào chứ? Làm cách nào mà tóm được một vụ bí mật? Riêng tôi, điều bí mật nhất bây giờ là làm sao kiếm thêm được hai vị thân chủ mua báo tháng nữa đây. Tòa soạn Chuông Vàng treo giải thưởng lớn lắm cho em nào có được nhiều thân chủ nhất. Tôi và thằng Tâm Sứt đồng hạng... số một đây này. Làm cách nào mời được hai vị nữa là tôi hơn đứt nó. Có thế mới ăn ngon ngủ yên được.

Trí lờ đi làm như không nghe cái vụ thi đua gay cấn giữa tôi và Tâm Sứt:

- Biết đâu chừng CT3! Không để ý thì chẳng nói làm chi. Nhưng một khi đã để ý thì đâu có khó gì. CT3 nên nhớ là sở dĩ hãng mình nổi danh được cũng là nhờ tụi mình đã có những con mắt rất tinh đấy! Đồng ý không?

Sếp đã "chỉ thị" tôi còn biết nói sao. Quay bước ra về, lòng tôi buồn vô hạn. Lùng bằng được một vụ bí mật? Rõ chán chưa? Bí mật ở đâu mà sẵn thế! Mấy vụ hè trước, cũng nhờ may mắn lắm mới vớ được vụ Đồng tiền giả, rồi lại nhờ có cậu Hải-Minh viết thơ về mà hai anh em mới làm ăn được vụ Ngọc Báu Ngai Vàng đấy chứ. Bộ tưởng dễ như đi chơi đấy chắc! Thật là khó như đi săn thân chủ mua báo tháng vậy đó!

Ngao ngán, tôi thả bước đi lần về nhà, bỗng chạm trán ngay với Tâm Sứt, đối thủ ngang tay, đồng hạng số 1 với tôi. Vừa mới chạm mặt nhau, Tâm Sứt đã reo lên:

- Ê, ê! Chiêm! Thôi đừng đi săn độc giả mua báo tháng nữa nghe mày! Vô ích! Tao về đích trước mày rồi đó!

Trong lòng uất hận, nhưng tôi vẫn thản nhiên:

- Thật hả? Cũng khá đấy!

- Ừ, khá đứt đi rồi chứ còn "cũng, cũng" gì nữa! Ông Hai Ích chủ tiệm gần đường xe lửa và ông Tám Đôn bán hàng ở Siêu thị trong hẻm mình đó. Thôi, nghe bồ, đừng đi kiếm nữa nghe ! Uổng công! Hí hí!

Tiếng cười của Tâm Sứt nghe sao mà vô duyên thế! Dứt tiếng cười, trong khi tôi còn ngẩn ngơ đứng nguyên tại chỗ, tên địch thủ đáng ngại này đã dắt xe đạp quay đi, nhảy phóc lên cắm đầu đạp.

Bực mình ghê lắm, tôi quyết định: chỉ còn một cách đến nhà Mai-Điên, là nơi tôi chưa mò tới mời mua báo tháng. Tôi đã biết từ lâu rồi, nhà đó chưa bao giờ mua báo của ai cả. Từ trước đến nay vẫn biết như vậy, mà tôi không dám mò đến vì một lý do rất chính đáng:

Người ta đồn rằng ngôi nhà đó có... ma! Chưa biết có thực như thế không. Có điều ngôi nhà đó xây cất tại một nơi hẻo lánh, chung quanh toàn ruộng bãi sình lầy nước đọng, ở cách phi trường Tân-Sơn-Nhất có tới hai cây số. Nhưng từ nhà tôi tới đó, đi đường tắt không đầy một cây số. Bốn bên chẳng có hàng xóm láng giềng gì hết trơn. Điều đó kể cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Hỏi, ba tôi cho biết ngôi nhà đó xây cất đã từ lâu lắm, gần 60 năm rồi. Chủ nhà là ông Đinh-Tùng-Mai, chuyên môn buôn gỗ, giầu lắm mà hà tiện thì cũng vào hạng số một. Lúc nào ông ta cũng chỉ sợ có người lấy trộm tiền. Và chắc vì lý do đó mà ông ta đã lựa mua chỗ đất hẻo lánh ấy làm nhà ở cho yên trí, khỏi gần cận với ai, đỡ bị dòm ngó tiền của lôi thôi.

Tòa nhà coi kỳ cục lắm, biệt thự không ra biệt thự, lâu đài chẳng phải lâu đài, cách kiến trúc rất phức tạp, chung quanh xây tường thật cao, bốn góc lại có bốn chòi canh như trại lính hay nhà giam vậy.

Đã cẩn thận đề phòng như thế mà ông Đinh-Tùng-Mai này cũng chẳng sống được bao lâu. Một đêm, một bọn cướp lọt vào nhà, cướp của của ông và bắn ông một phát chết tốt.

Người ta đồn rằng kể từ ngày ấy, ngôi nhà đó có ma. Các cụ già ở bên cạnh nhà tôi kể lại rằng: đêm đêm, oan hồn ông già Mai cứ hiện về, lượn lờ trong khắp khu nhà hoang phế... để tìm kẻ hung phạm đã bắn chết ông. Và các người nhà, con cái ông Mai đã phải bỏ đi kể từ cái đêm ghê gớm ấy. Có người, đôi ba phen liều quay về để ở, nhưng rốt cuộc, đều... hóa điên cả.

Vậy mà bây giờ khu nhà ấy lại có người ở. Cái đó mới kỳ! Tôi chưa biết mặt mũi những người thuê lại căn nhà ấy. Chỉ nghe nói đâu là ông Sáu Bang thì phải. Và có điều rõ rệt nhất là ông Sáu Bang này chưa hề mua báo tháng của ai. Trong lòng bình tỉnh, tôi cắm đầu đạp xe thẳng hướng nhà Mai-Điên.

Thú thực là tôi cũng hơi run. Đến gần, chẳng thấy một vẻ gì chứng tỏ là ngôi nhà có người ở cả. Chỉ thấy cửa sổ mở toang hoác, các ô kính vỡ nát gần hết, một vài ô lại bịt bằng bìa dầy.

Ngập ngừng mãi, tôi mới xuống xe, dắt dần lại phía cửa. Lạ! Người tôi tự dưng nổi da gà và cảm thấy như có một con mắt nào đó đang nhìn tôi để theo dõi. Tôi giơ tay lên gõ cửa. Vừa đụng khẽ, cánh cửa đã mở tung như có ai đứng sẵn ở phía trong kéo mạnh. Trước mắt tôi, xuất hiện một nhân vật kỳ quái.

Một người đàn ông đầu hói nhẵn thín như quả trứng, mình lao về phía đằng trước vì cái lưng cong vòng, gù gù kiểu lưng tôm. Có điểm lạ nhất: bộ quần áo ông ta mặc trên người. Nguyên nó là một cái áo liền quần, dệt bằng sợi, kẻ những sọc ngang màu xanh như áo “may ô” lính thủy. Loại áo lót ta thường gọi là “áo khỉ”, có lẽ tại khi mặc vào, dính liền cả quần, trông người sẽ lom khom như con cháu ông Tề Thiên Đại Thánh?… Ông đầu nhẵn thín lại đeo cặp mắt kính người nhái lù lù che kín mắt.

- Bé con, đem cá đến đấy hả?

Tôi ngơ ngác:

- Cá ?… Cái gì… à không, không! Tôi đến để mời ông mua báo Chuông Vàng hàng tháng ông ạ! Nhật báo Chuông Vàng là tờ báo hay nhất thủ đô đó, thưa ông!

- Thế hả ? Thế có đem xuống dưới nước đọc được không ?

Trời đất ơi! Sao cái ông này hỏi gì lạ quá! Báo gì lại báo đọc ở dưới nước chứ?

Tuy nhiên, tôi cũng cố gắng nói chuyện:

- Dạ, cái đó thì tôi không biết! Nhưng Chuông Vàng là một tờ báo đứng đắn, bài viết rất giá trị, in lại đẹp, mỹ thuật lắm. Nếu ông mua tháng, tôi sẽ đem tới tận đây mỗi buổi chiều cho ông.

Ông “đầu trứng vịt” này chẳng để ý gì đến lời tôi nói. Bây giờ tôi mới lại thấy hai tai ông đeo một cặp vỏ hến bóng loáng như đàn bà đeo bông tai vậy. Đột nhiên:

- À, chờ chút đi! Để tôi vào hỏi Tư Dậu xem sao đã nghe, chú bé!

Tôi chưa kịp trả lời sao, ông đầu hói đã quay ngoắt vào, đóng sập cánh cửa lại. Tôi lưỡng lự chẳng biết tính sao. Ở chờ ông Tư Dậu hay là bỏ về quách?

Tôi chưa kịp quyết định, cánh cửa đã lại mở bét. Một ông béo phục phịch, bộ râu mép rậm đen nhánh, miệng ngậm một cái tẩu thuốc rất lớn. Bộ quần áo ông ta mặc trên người cũng lại thật kỳ dị. Tôi có cảm tưởng như đang đứng trước vua hề Charlot. Trời Saigon nóng bức như vậy mà ông ta mặc sơ-mi thắt ca-vát, ngoài khoác vét-tông dạ nâu. Cái áo “gi-lê” màu xanh lá mạ trông không thể nín cười được. Nhất là cái quần: quần soóc không ra quần soóc, dài không ra dài, ống nhỏ như hai ống máng, chỉ chấm đến ngang bụng chân. Đôi giày cao cổ đánh si bóng loáng ôm gọn đôi vớ dài lên mãi tận đầu gối. Cái mũ da đen băng xanh lại cắm một túm lông gì trông như đuôi con sóc. Tiếng nói ông này, mà tôi chắc là Tư Dậu, nghe ồm ồm, lại ngọng nữa:

- Sáu Bang cho biết là chú bán báo, có phải không? Hở?

Tôi cố nhịn cười lễ phép:

- Thưa ông, vâng! Cháu đưa báo tháng. Tờ nhật báo Chuông…

Không để tôi kịp nói hết, ông Tư Dậu Charlot đã cắt ngang:

- Ôi! Báo với bổ cái gì! Tôi ghét báo lắm, chỉ nói láo ăn tiền không hà!

- Thưa ông, báo nào nói láo ăn tiền thì cháu không biết, chứ tờ Chuông Vàng này quả là một tờ báo đứng đắn nhất Thủ Đô đó, thưa ông! Tin tức hàng ngày tại quốc nội cũng như quốc ngoại, rất đầy đủ và luôn luôn chính xác, sốt dẻo.

Như mớ rơm khô bén lửa, bốc cháy dữ dội. Đụng vào nghề nghiệp chuyên môn, tôi thuyết trình hăng say, thao thao bất tuyệt. Tôi ca tụng tờ nhật báo Chuông Vàng của tôi hết cỡ. Nào là: mục xã luận sắc bén, tin tức và phóng sự chính xác, những mục trao dồi kiến thức rất bổ ích... mà giá tiền mua năm lại rẻ. Hứng chí quá, tôi còn khoe luôn cả vấn đề thi đua có giải thưởng do Tòa soạn tổ chức cho các em đi đưa báo như tôi và hiện tôi đang mong chiếm được giải có nhiều thân chủ mua báo tháng nhất.

- Ý a! Ý a! Ý a!

Ông Tư Dậu không nói ra tiếng gì vào tiếng gì mà chỉ "ý a, ý a" như vậy, đầu gật lia gật lịa, ống điếu ngậm giữa hai hàm răng được ông mím môi mút chùn chụt. Tôi thở hổn hển, tiếp tục thuyết trình:

- ... Nhật báo Chuông Vàng lại còn có trang truyện bằng tranh vẽ rất đẹp dành cho các em nhỏ nhà ông nữa.

Vừa nghe tôi dứt câu sau chót, ông Charlot Tư Dậu chợt biến sắc mặt một cách rất lạ kỳ. Đưa tay hạ thật lẹ chiếc tẩu thuốc khỏi vành môi, ông ta ngó tôi trừng trừng:

- Cái gì? Cậu nói sao? Em nhỏ nhà tôi? Em nhỏ nào? Nhà tôi làm gì có em nhỏ nào...? Tôi không có con...! Cậu đã hiểu chưa?

Chưa nói hết, ông ta đã quay phắt đi, quài tay hất mạnh cánh cửa, suýt đập vào mũi tôi. Thế là hết! Tôi chỉ còn một nước là bỏ ra về. Thất vọng! Hoàn toàn thất vọng!

Tay dắt xe chân bước mà cảm thấy hai đầu xương bánh chè lỏng ra, chán nản hết sức. Chợt thấy nhột nhạt phía sau gáy, liền quay nhanh mặt nhìn về phía sau: tôi có cảm tưởng như trái tim muốn ngưng đập.

Nơi một ô cửa sổ gian nhà dưới, giữa hai mảnh màn gió hé rộng, một chú nhỏ cỡ tuổi tôi đang giương mắt nhìn chăm chú. Thời gian ánh chớp, chú bé đã biến mất, tựa hồ có người nào đứng kế bên kéo giật chú về đằng sau. Hai mảnh màn gió buông xuống thật nhanh, kín mít.

Tôi chắc chắn là không nằm mơ. Xin cam đoan với các bạn như vậy. Nhưng có một điều quái lạ quá chừng. Ông Tư Dậu nói rằng ông không có con. Vậy chú bé nào xuất hiện nơi khung cửa sổ ngôi nhà bí mật của ông Mai-Điên vậy?

----------------- 
(1) CT3 là bí danh của Chiêm, chú bé thám tử trong Đồng Tiền GiảNgọc Báu Ngai Vàng đã phát hành.

_________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II



















Bức Mật Thư




Truyện : NAM QUÂN
Loại Hoa Đỏ
Tủ sách Tuổi Hoa - 1972



Sưu tầm và đánh máy : Kim, Nguyễn Tuấn, Yên Chi

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Lời Giã Biệt



 












Kỷ niệm năm cuối cùng bậc Trung học.

Phượng hồng chín ửng đôi gò má
Trường nhỏ hè sang rủ nắng về
Tiếng khóc bầy ve rung khóm lá
Gieo sầu lên khắp cả hàng me.

Lớp học chiều nay im lặng quá
Giọng thầy êm ái tựa lời thơ:
“Ngày mai xa cách ngôi trường nhỏ
Em sẽ về đâu trong nắng mơ?

“Các em như cánh chim rời tổ
Tung giữa trời cao tắm nắng hồng
Nhớ thuở còn non đôi cánh mỏng
Nhớ thầy ấp ủ buổi chiều đông.

“Ngày mai khôn lớn không còn ngại
Cánh đã sum rồi em cứ bay
Đến một phương nao rồi đậu lại,
Tập chuyền tập hót thật mê say”.

Bạn bè lưu luyến khẽ nhìn nhau
Ánh mắt bờ môi đọng nét sầu
Kỷ niệm ngày xưa chừ sống lại
Xa rồi mà tưởng mới hôm nao.

Những giờ học Triết vui ghê lắm
Thầy dạy niềm tin sống ở đời
Giờ Toán luôn luôn mình bị mắng
Song cười vẫn nở trên vành môi.

Đến giờ Sinh ngữ chao buồn lạ
Hồn cứ say vùi trong giấc mơ
Thầy xuống, giật mình rồi chợt thức
Như chàng thi sĩ mất nguồn thơ.

Vật lý cho bài mình chẳng thuộc
Mỗi khi thầy gọi, mắng: “Sao lười?”
Mình vờ năn nỉ: “Cho em khất”.
Thầy chỉ lặng thinh, khẽ mỉm cười.

Những ngày xưa ấy sao vui quá
Tìm lại bây chừ ở chốn mô?
Kỷ niệm tan dần như sóng biển
Mất rồi tất cả những ngày thơ.

Đã bảy năm qua dưới mái trường
Biết bao sầu nhớ với buồn thương
Biết bao kỷ niệm vui tươi nhỉ
Xa cách sao lòng khỏi vấn vương.

Mình sẽ về đâu hỡi bạn ơi?
Ngày mai mỗi đứa một phương trời
Như đàn chim nhỏ tung đôi cánh
Áo trắng ngày xưa chợt tím rồi!

Ngây thơ trả lại ngôi trường nhỏ
Kỷ niệm đem về với Tuổi Hoa
Trong gió mùa thu mình sẽ hỏi:
“Bao giờ tìm lại những ngày qua?”

                                         TRINH CHÍ
                                     (vì sao sáng nhất)


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 71, ra ngày 15-6-1967)

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Hương Trầm Thơm


Một bó huệ trắng muốt, hương ngan ngát. Những mảnh trầm thơm nâu có thớ đen chạy chỉ nằm gọn gàng trong chiếc hộp màu, lục lăng bằng nhựa, trong suốt. Nhang lớn và dài, đường kính tròn to bằng ngón tay, vàng ngọt như cam thảo.

Ngần ấy thức để ba me đi lễ chùa ngày mai. Ngày mai lễ lớn lắm. Lễ Phật Đản ấy mà. Áo dài của me đã được là kỹ. Hồi hôm, me gội đầu bằng lá thơm. Ba cho ủi lại bộ đồ vét. Anh Ngoạn săm se mãi bộ đồ hướng đạo. Anh ấy đi hướng đạo được hai năm rồi. Em xin đi mãi mà ba me chưa chịu cho đi. Ba me sợ em không đủ sức. Ba me hứa là sẽ bằng lòng khi nào em lên được lớp nhì. Gần quá, năm nay em chả học lớp ba là gì. Em lại học giỏi. Sang năm em sẽ cũng oai phong như anh Ngoạn cho mà xem. Nhưng đó là ý nghĩ của em mấy tháng trước kia. Bây giờ, ý của em lại khác. Vào hướng đạo. Em ham lắm, nhưng đợi đến sang năm, eo ôi em thấy lâu ơi là lâu. Chả vì tháng trước em vừa có một người bạn mới. Em cười một mình. Em mà kể vậy chắc không ai hiểu gì cả.

Tại sao vì người bạn mới mà em lại thích được sống hợp đoàn ngay ? Câu chuyện giản dị lắm. Số là ông Hai nhà bên cạnh vừa dọn đi. Em mừng quá. Em ghét ông Hai đó là là. Ông cứ say rượu luôn. Có bữa em đánh vợt với anh Ngoạn. Trái cầu lông chim bay mắc ở hàng rào nhà ổng. Em chui qua lấy. Thế là ông nạt em một tiếng làm em sợ suýt ngã lăn đùng ra. Từ đó em giận ổng ghê. Ngày ổng dọn nhà, em lấp ló ở cửa nhìn ra, mừng ơi là mừng. Khu vườn nhà ông Hai không trống một giây nào cả. Liền khi xe đồ chất đầy giường chiếu, son chảo của ông Hai chạy vù đi thì một chiếc xe khác cũng có tủ giường, bàn ghế dọn đến. Gia đình mới này có một đứa con gái. Hương, bạn của em đó. Em quen Hương thật nhanh. Không biết đứa nào làm quen với đứa nào trước.

Hình như Hương làm quen với em thì phải. Mấy ngày đầu, em với Hương chỉ trò chuyện ở hàng rào, ngăn cách bởi giậu hoa leo. Sau, Hương kêu em qua nhà, em rủ Hương về nhà em. Nhà Hương, nhà em thành nhà chung của hai đứa. Em thích nhất là bàn thờ nhà Hương. Cũng có hoa huệ trắng. Cũng có đôi bạch lạp. Nhưng khác nhà em là không có trầm hương. Ảnh thờ cũng khác nữa. Sau em biết Hương theo đạo Thiên Chúa, kính Đức Mẹ. Em theo đạo Phật, thờ đức bà Quan Thế Âm. Một hôm, nhà Hương rộn rịp. Em hỏi Hương chuyện gì vậy. Hương cho biết là đã đến ngày lễ Phục Sinh. Nhà Hương ăn mừng. Ngày đó, Hương mặc bộ đồ lạ. Em chưa thấy Hương mặc bao giờ. Chiếc áo dài vải trắng. Chân mang dép trắng, quần trắng, thắt nơ trắng. Một chiếc khăn quàng cũng màu trắng viền xanh, chéo góc sau lưng có mang dấu thập đỏ. Trông Hương trang trọng, nghiêm chỉnh quá đi mất. Tay Hương còn cầm một quyển sách dầy, bìa đen, be bé xinh xinh. Em lạ quá, nhìn mãi. Hương cười bảo em, bộ Nhi lạ lắm sao. Em gật đầu hỏi Hương sắp sửa đi đâu đó ? Hương hân hoan trả lời là sắp đi nhà thờ họp đoàn. Hương đi họp đoàn Thiếu Nhi thánh thể. Hương được tập hát, được chơi, được làm việc thiện. Hương có nhiều bạn trong đoàn. Vui lắm, thích lắm. Nhìn Hương ôm tay má, em chợt thấy mình hơi hơi buồn. Em cũng sắp được vào hướng đạo chứ thua gì. Nhưng sao ý nghĩ đó yếu đuối quá. Còn lâu, cả năm nữa lận. Em phải chờ đợi. Em xịu mặt. Me phải hỏi, ba cũng hỏi nguyên do. Em đòi ba me cho em vào đoàn Thiếu Nhi thánh thể như Hương vậy. Ba me cười bảo em yêu đức Quan Thế Âm thì không vào được đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Đoàn đó chỉ dành cho những trẻ em theo đạo Chúa. Ba hỏi me có nên cho em vào đoàn áo Lam không. Me bẹo má em cười nói tùy ý ba. Tối hôm ấy, giữa bữa cơm chiều, cả nhà quyết định sẽ cho em gia nhập đoàn đúng vào ngày đản sanh Đức Phật. Chị Tú Thi lãnh phần mua vải cắt áo quần cho em. Chị ấy may kỹ quá, nên đến hôm nay mới xong. Em có một chiếc jupe màu xanh thẫm. Chiếc áo sơ mi ngắn tay màu khói hương. Một cái khăn quàng đồng màu áo, viền vàng. Em lại hơn Hương ở cái mũ. Mũ có màu xanh thẫm. Bộ đồ đó em chỉ được mặc thử lúc chị Tú Thi giả may. Còn bữa nay , bộ quần áo mới được ủi kỹ đặt trong phòng ngủ của em. Sáng mai em sẽ mặc đi lễ Chùa và trình diện trước bạn mới. Lòng em thấy lâng lâng chi lạ. Em nao nao chỉ mong đêm chóng qua mau. Hôm qua, me dạy em một bài hát thật hay. Em lẩm nhẩm hoài để mau thuộc... Một hôm, một hôm… Cùng me đi lễ Phật dâng vài hoa sen, đến Chùa đến Chùa… Cầu xin, cầu xin Phật Tổ ban lành, từ bi, bi gia hộ, em thành trẻ ngoan…

Chết, hình như có tiếng ai lao xao đầu tiên. Ai như tiếng ba cười thì phải. Trời ơi, ai dạy Nhi hát hay quá vậy. Đó, ba trêu con rồi. Con đang tập hát mà. Chị Tú Nhi dạy Nhi phải không ? Ba vuốt tóc em trong lúc em ngúng nguẩy. Me dạy con đó. Trời, mẹ con Nhi dạy hát nhau đấy phỏng. Thế sao con không học hát với ba nào. Ba hát hay hơn me nhiều. Ba nói thật. Đây để ba hát thử cho Nhi nghe nhé… Bé Nhi nhè là bé Nhi nhè… Thôi con không chơi với ba nữa đâu. Ba xấu. Ba xấu. Ba cười to, em chạy miết vô phòng. Em đã hết nhè từ lâu rồi cơ mà. Ba cứ chế em mãi. Đã tối rồi. Em len lén vào phòng. Trên giường, bộ quần áo dành cho em ngày mai, đã nằm gọn gàng tự bao giờ. Tiếng me từ ngoài vẳng vào rõ mồn một. Ngày mai chúng mình phân phối xe cộ sao đây ? Ba nói, thì mình đi với tôi. Còn Nhi nữa, Tú Nhi nữa. Thôi thì thế này nhé, Ngoạn chở em đến chùa trước khi tập họp với nhóm hình như ở sân sau phải không Ngoạn. Dạ, hướng đạo tập họp ở sân sau, nhưng con sẽ chờ ba me đến để giao của nợ cho me đã. Me gắt, cái thằng này, em út mà cứ gọi là của nợ. Ba cười binh anh Ngoạn. Cục cưng của me tụi mày đấy nhé. Ủa Tú Thi đi bằng gì ? Mẹ đừng lo, con sẽ đi với mấy chị bạn. Nhớ đến đúng giờ nghe, thôi thế là xong, me sẽ đi với ba, còn Ngoạn chở em. Nhớ cẩn thận nghe… Thế là em phải đi xuống chùa với anh Ngoạn. Thôi cũng được. Đi với anh Ngoạn được biết nhiều chuyện lạ. Đi với me chỉ vui và dễ làm nũng. Ngày mai, nghĩ đến ngày mai em nôn nao khó tả. Tấm gương lớn ở cửa tủ phản chiếu bóng em. Bộ đồ thường ngày trông không oai tí nào. Em quay sang bộ đồng phục. Nước vải bong bóng dưới ánh đèn. Viền vải vàng của chiếc khăn quàng nom rực rỡ. Em vuốt nhẹ lên lần vải phẳng phiu. Không một nếp nhăn. Em giở lên nhè nhẹ. Phải ướm thử vào người để xem có đẹp không. Em không dằn được. Em cầm lấy chiếc khăn choàng. Chiếc khăn nổi bật trên nền vải hồng của áo ngủ. Em lại lần lượt, tung chiếc áo Lam, cái jupe xanh xếp nhiều nếp. Em ướm thử lên người. Quay sang trái, quay sang phải, vòng đằng sau. Em cười duyên trong gương. Ngày mai em phải cặp tóc bằng nơ chứ không bím và cột lại bằng hai sợi dây cao su nữa. Màu áo Lam nhè nhẹ trông đẹp tuyệt. Em quay người một vòng để xem jupe có phồng tung không. Một vòng, một vòng nữa. Tấm gương loáng lên một cái. Hình như nền nhà sụp thấp. Em bước hụt. Cảm giác nhận biết được là mông em ê ẩm. Em bẽn lẽn đứng dậy, nhìn quanh xem có ai không. Ô kìa trên đầu tủ. Đức Phật Di Lặc thấy bé làm duyên trước tủ, cười trêu bé phải không ? Tức quá. Nhưng Ngài vẫn cười. Em nghe có tiếng cười to của anh Ngoạn, của ba nữa. Em xếp vội jupe, áo. Lăn người lên giường, úp mặt vào chăn. Em nhắm mắt. Trời đất có màu hồng.

*

Em thức dậy thật sớm. Cửa sổ hồi hôm em quên đóng. Gió ùa vào lành lạnh. Mặt trời chưa lên, chỉ mới tỏa một ít ánh sáng hồng trong ở phía chân trời. Trong vườn, đôi chim sẻ hình như vừa thức dậy. Chúng chưa vội kiếm bữa điểm tâm, thong thả cất giọng hót ríu rít, chuyền cành. Những giọt sương đêm đọng hạt tròn như thủy tinh trên nền lá biếc. Ngày bắt đầu đẹp quá. Chiếc chăn mỏng em xếp lại gọn gàng. Cửa nhà Hương qua hàng rào thưa hình như vừa mở. A, bóng ai như Hương thấp thoáng bên kia vườn. Em hối hả với ý nghĩ sẽ cho Hương thấy mình đã được đi họp bầy chẳng thua gì Hương. Tiếng dép lẹp kẹp của me đã dừng lại sau lưng em. Me khen. Gớm, con gái me giỏi quá, đã dậy sớm còn thu dọn chăn mùng kỹ càng. Em quay lại, nụ cười của em nhất định phải đẹp nhất. Khi nào mình đi chùa me. Thong thả đã nào. Đợi me, đợi ba lâu quá me ơi. Me vuốt tóc em âu yếm. Chưa ăn điểm tâm, chưa rửa mặt, con xấu quá. Em quay lại làm nũng me. Em úp mặt vào lưng áo me hít hít. Sao me thơm quá vậy hở me. Me thơm như bông hồng ấy. Ôi, ai xuống đây mà coi, bé Nhi lớn rồi mà còn rúc vào nách mẹ. Ấy lại ba nữa, ba trêu bé rồi. Nhi cầm tinh con dê mà ba. Lại anh Ngoạn nữa; Ghét quá. Em nhất định lì thử xem nào. Me bước đi. Em cứ giữ nguyên thế đứng cũ. Hai chân di động theo me. Được một lúc, me đẩy em ra bảo. Thôi rửa mặt đi con, để me làm cho con một cái trứng sống nghe. Thôi, me cho con trứng chiên đi. Trứng chiên ăn không bổ bằng con ạ. Con ghét trứng sống lắm me à. Me làm thinh chìu ý em. Em xuống bếp rửa mặt, đánh răng. Me đang nhóm bếp. Em chạy vụt ra sân. Hương đứng thơ thẩn trước nhà. Em hỏi với. Hương không đi nhà thờ hả? Hương nghe tiếng em, chạy lại gần, mặt tựa sát hàng rào, cành lá ướp nhẹp cọ quẹt trên mặt Hương, những vết nước dài. Bữa nay thứ ba mà. Còn Nhi, Nhi đi chùa với me hả. Em vênh mặt lên, nói nghiêm chỉnh. Không những đi chùa mà còn được vô đoàn nữa. Đoàn áo Lam đó, giống như đoàn của Hương vậy. Hương bàn. Mà áo quần cũng giống nhau sao? Không, khác nhau chứ. Nhi mặt jupe xanh, áo Lam. Hương tươi cười. Tí nữa mặc áo mới cho Hương xem với nhé. Me kêu vào ăn sáng, em chạy vào sau khi dặn Hương đứng chờ.

Bữa ăn sáng có trứng gà cho em. Chỉ mỗi mình em ăn trứng gà thôi. Ba, me, anh Ngoạn, chị Tú Thi đều ăn cháo với đường. Cả nhà ăn chay. Me nói vậy. Chỉ trừ một mình em. Em phải ăn trứng cho chóng lớn. Chị Tú Thi đặt vấn đề trứng là là đồ chay hay đồ mặn. Cả nhà bàn cãi nhức cả đầu. Cuối cùng anh Ngoạn kết luận. Trứng nửa chay, nửa mặn. Đúng vào lúc em ăn miếng trứng cuối cùng.

Khi bữa ăn chấm dứt, em vội vàng chạy lại gương soi. Đôi bím tóc kết nơ hồng lủng lẳng trên vai. Chiếc áo mới. Chiếc jupe mới. Khăn choàng mới. Mũ mới. Lòng em cũng như vừa được nhuộm mới. Có cái gì là lạ chen lẫn trong lòng. Tượng đức Di Lặc vẫn cười trên cao. Em thích tượng Phật bà hơn. Đẹp, hiền. Riêng chốc nữa đến Chùa em phải làm thế nào. Em phải nói gì với bạn mới. Em chỉ thuộc câu kinh đầu tiên. Nam Mô A Di Đà Phật. Chừng đó đủ chưa? Me bảo nếu em ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiếu đễ là em đã thuộc kinh rồi. Me nói thất đấy chứ me. Hình như có hương thơm ngát. Chắc me đốt trầm ngoài bàn thờ. Em ra khoe với Hương bộ đồ đồng phục đầu tiên. Vườn cây phe phẩy. Cái cổng mừng kết hoa sen lồ lộ đầu đường. Em ngửi thấy mùi hương trầm, nhang thơm phảng phất khắp nơi. Hương đâu rồi? Hương ơi. Cũng đẹp đấy chứ. Trông người lớn ghê. Đó là lời phê bình của Hương. Em không biết trả lời sao, tần ngần sửa lại chéo khăn quàng. Nhi vô đoàn chắc có nhiều bạn lắm. Học được điều gì hay về dạy lại Hương với nghe. Điều đó là chắc rồi. Em phải làm như Hương đã làm chứ. Bữa trước, Hương học ở nhà Thờ bài hát thật hay. Đêm thánh vô cùng. Hương dạy em hát, thích ghê. Chết, em học được của me bài Đi lễ Phật mà quên bày lại Hương. Thôi để chiều về vậy? Em hỏi Hương. Khi mới đầu đi họp Hương có sợ không? Hương cười. Hương đâu có nhớ. Nhưng chắc là có, hơi hơi thôi. Bây giờ vui lắm. Vui lắm? Me cũng nói vậy, anh Ngoạn cũng nói vậy, Ba cũng nói vậy. Mà em cũng tin như vậy nữa. Em nhảy nhót hai chân. Khăn quàng tung tung trong gió buổi sáng. Hương vẫy vẫy em. Em vẫy tay trả. Anh Ngoạn đang xem lại xe trước cửa nhà. Anh mặc đồ hướng đạo trông oai tệ. Em đi tìm chị Tú Thi để cảm ơn chị đã may cho em quần áo đẹp. Em không tìm thấy chị. Chị đã đi trước em. Em quay lên phòng khách chờ ba me. Me mặc chiếc áo màu nâu thẫm. Tóc me búi cao. Trông me có duyên tệ. Em chạy lại gần me, tay nắm vạt áo mềm. Me cười khen em mặc đồ trông ngoan ra. Em cứ xuýt xoa me thơm quá. Ba mặc áo vét. Em không khen ba vì ba hay trêu em, em giận dai lắm chớ bộ. Mà lạ, khi ba bế em đong đưa thời em quên hết. Em cười với ba. Ba ngồi xuống ghế, nắm lấy hai tay em dặn dò. Đây là ngày đầu tiên con được sinh hoạt chung với nhiều bạn bè đồng lứa. Con hứa với ba là phải nghe lời của chị Cả chỉ dẫn các con. Phải đối xử lễ độ với mọi người. Cố học lấy điều hay, điều đẹp. Phải hiền hòa như Phật dạy. Phải ngoan ngoãn… Em thưa vâng ríu rít. Me giục ba đi gấp kẻo để trưa quá đông người, không chen được. Em rứt khỏi tay ba chạy đến gần anh Ngoạn. Anh đang chăm chú lau lại cái bu gi xe. Tay anh dính dầu đen đen.

Em sốt cả ruột khi xe anh Ngoạn đạp không nổ, chỉ kêu lịch xịch. Me hỏi. Xe Ngoạn hư rồi phải không? Anh Ngoạn lắc đầu. Xăng nghẹt thôi, ba me đi trước, con chạy theo là vừa, ba đi xe chậm lắm me đừng lo. Ba vỗ vai em. Con đi Chùa với anh Ngoạn nghe. Me đứng ở cổng chùa đón hai đứa đó. Ngoạn đi cẩn thận đấy. Me đứng dưới cổng trước đấy, nhớ nhé. Anh Ngoạn lại loay hoay sửa xe. Ba em đã khuất ở cuối đường. Em đem một miếng xà phòng to và chậu nước để sẵn cho anh Ngoạn. Cho anh mượn cái khăn tay. Em lại chạy vào nhà. Chạy ra. Chiếc xe có vẻ chắc chắn lắm rồi. Anh Ngoạn lau tay xong đứng lên đạp. Xe không nổ. Em hơi hơi buồn. Nôn nao cả người. Chết, me đợi lâu, me mắng cho xem. Anh Ngoạn an ủi em. Gần xong rồi, chờ xăng xuống một tí. Vả lại bữa nay là ngày lễ Phật, me ba không mắng đâu. Nhi đừng lo. Đi với anh là bảo đảm mà. May quá, chiếc xe nổ vang. Mắt em sáng rỡ. Hình như có tiếng chuông chùa vọng ở đâu đây. Em leo ngồi sau xe anh Ngoạn, ôm chặt lưng anh.

Đường phố đông người thật. Nhiều nhất là con đường dẫn đến Chùa, con đường em đang đi đó mà. Em gặp nhiều cô bé, nhiều chị mặc đồ giống em như đúc. Có người nhìn em kỹ đến nỗi em chỉ ngại là quen biết mà quên. Mà sao đường xá đông quá thế này. Ôi thôi xe kẹt cả khúc. Em nghiêng người sang một bên chỉ thấy ngọn đèn đỏ chớp chớp đầu xa. Anh Ngoạn len vào một ngõ hẻm khá rộng. Anh lầm thầm. Đi tắt ngõ này cho rồi. Đường kẹt xe loạn đã. Anh chọn con đường khác. Ở đây, nhiều cổng chào, nhiều người đi bộ. Em áp đầu vào lưng anh Ngoạn tránh nắng. Chuyện gì thế này? Anh Ngoạn lẩm nhẩm. Em nghiêng đầu qua một bên, nhìn về phía trước. Ồ, có chuyện gì thế nhỉ. Người người nhốn nháo. Có cả tiếng la hét vang vang ở đâu đó. Chết, cháy, cháy. Em giật mình thon thót. Cháy, mà cháy gì, cháy ở đâu mới được chứ? Tim em bắt đầu đánh lô tô trong ngực. Em ôm chặt anh Ngoạn. Có tiếng hú ú u của xe chữa lửa. Tiếng hú rùng rợn, ma quái chi lạ. Em bấu vào lưng anh Ngoạn. Anh Ngoạn chậm xe vào bờ lề. Hai rồi ba chiếc xe đỏ, trên có nhiều người mặc áo da, đội mũ đồng. Xe rú còi inh ỏi. Em đã thấy cột khói cao cất lên dữ dội trước mặt tự bao giờ. Những tàn than tro bỗng từ đâu rơi rụng lả tả bay khắp trên đầu. Em sợ quá, ngẩn cả người. Chưa kịp kêu anh Ngoạn chở về ngã khác thì anh Ngoạn đã rú xe chạy thẳng. Em nhắm tít mắt lại. Những tiếng la càng lúc càng gần. Những đoàn người, những chiếc xe ngược chiều vùn vụt. Hình như trời nóng hơn. Mồ hôi em vã ra lạnh ngắt lưng áo. Em thấy những ngưòi bạn của anh Ngoạn chạy xe đồng chiều. Những lưng áo nâu, quần sọt xanh hướng đạo. Thôi rồi, anh Ngoạn đi theo bạn bè rồi. Còn me, còn phải cho em xuống chùa với me đã chứ. Tiếng nói của em chìm vào tiếng la hét, tiếng khóc lóc, tiếng nổ lách tách, tiếng huyên náo loạn đã. Một cột lửa đã phồng lên phía trước. Em sợ quá. Em sợ quá. Anh Ngoạn phanh xe lại cạnh những người hướng đạo. Anh hỏi, giọng gấp rút. Cháy lâu chưa, bao nhiêu nhà rồi. Gần 15 phút rồi. Ủa mà chở em đi đâu đó. Hình như lúc đó, anh Ngoạn mới chợt nhớ ra em, anh quay lại đỡ em xuống xe, tắc lưỡi. Chết cha, quên mất, làm sao bây giờ. Thôi bé Nhi đứng đây một lát chờ anh nhe. Xe anh để đây. Nhi đứng đây, đừng đi đâu cả, chỗ này lửa không cháy đến đâu mà lo, anh đi với bạn vào giúp đỡ đồng bào, anh ra, sẽ chở bé đi lên Chùa. Em tái xanh, run chân run tay, chưa kịp nói câu nào thì anh Ngoạn đã vụt chạy đi. Trời ơi, em phải làm sao bây giờ. Em đứng ngóng vào con ngõ hẹp, nơi đó, lửa bốc rực trời. Từng đoàn người chạy về phía chỗ cháy. Đoàn người khác tay xách nách mang áo quần hớt hải lộn trở ra. Nước mắt. Kinh hoàng. Em bấu chặt lấy chiếc yên xe anh Ngoạn. Hình như ngọn lửa đang hạ dần. Tro tàn bay nhiều hơn. Em trông thấy nhiều chị mặc đồng phục giống em như đúc chạy vào ngõ. Có chị đã trở ra tay dìu một bà già, tay xách một bị áo quần, tay bồng một em nhỏ. Em nhìn xuống bộ đồng phục của mình. Em chợt nhớ đến bài tập đọc ở trường. Bài tập đọc kể chuyện một cậu bé xông vào đám cháy để cứu một em nhỏ. Hình như lòng em nóng lên. Chân muốn chạy. Em muốn chạy lại giúp đỡ bà cụ vừa té ngã ở đầu hẻm. Bà cụ mang một lẵng áo quần to lớn. Nhưng sao em vẫn thấy sợ. Chân như chùn bước. Em hổ thẹn cho mình. Mà lạ thay em vẫn còn do dự. Nhưng em đã chạy, đi như chạy trong một phút không ngờ, vừa để đón một đứa bé mặt mũi ám khói. Đứa bé khóc lóc thảm thiết. Nhưng có ai để ý đâu. Ai cũng lo chạy. Em nắm lấy tay đứa bé. Đứa bé ôm chầm lấy em. Mặt hớt hải. Nước mắt tràn đầy trên khuôn mặt nhỏ vẽ nên những đường vòng lẫn lộn. Em cúi xuống hỏi khẽ. Bé nín chóng ngoan nhé. Thế mẹ bé đâu? Đứa bé nào có nói. Chỉ khóc, chỉ chỏ lung tung, rồi lại khóc. Khóc. Em cũng muốn khóc theo. Phải can đảm. Phải can đảm. Em tự nhủ và bắt đầu an ủi vỗ về đứa bé. Đứa bé nín khóc. Em bồng nó đi lòng vòng, chen vào giữa rừng người. Đi chầm chậm để đứa bé dễ tìm được mẹ. Cây kẹo em lén bỏ vào túi hồi sáng em đưa cho đứa bé. Đứa bé mút chùn chụt như quên mọi chuyện. Cánh tay em đã rời rã mà đứa bé vẫn chưa tìm thấy mẹ đâu. Hình như em đã lạc qua một hẻm khác. Con hẻm nào cũng giống hẻm nào. Cũng người, cũng đồ đạc. Cũng tiếng la hét. Em phải làm thế nào. Đứa bé bây giờ đã ngủ vùi trên đôi vai muốn nằm xuống của em, trên xương sống chỉ muốn thẳng, trên đôi tay tê dại của em. Lửa đã hết cháy. Chiếc xe vòi rồng đã ngừng phun nước. Tro tàn không còn bay. Người người đã đổ xô vào trong nhiều hơn. Em len khỏi rừng người, cố tìm con ngõ cũ. Phải tìm được anh Ngoạn. Anh Ngoạn mới có thể giải quyết vấn đề. Nhưng em không kiếm ra được nơi cũ. Anh Ngoạn. Me. Ba. Chị Tú Thi. Đứa bé … Trời ơi, em cũng đi lạc mất đây này. Lạc với một đứa bé xa lạ, không thân thích. Em muốn khóc quá. Hai chân của em dường như không còn bước nổi. Em dừng lại. Đứa bé còn ngủ yên trên vai. Em tựa người vào tường nhà. Không có ai giúp đỡ em. Không có ai để ý đến em. Giá em được đỡ tay một lát nhỉ. Ôi, hai cánh tay, đôi chân không còn cảm giác. Em thuộc đoàn nào đây? Có tiếng ai hỏi dịu dàng. Em quay lại. Em không đủ sức để nói. Em lắc đầu. Tay chỉ vào đứa bé. Một chị mặc đồng phục như em, người đầy mồ hôi, hiểu ý đưa tay đỡ đứa bé. Máu chạy cào cào trong da tay. Em vuốt vuốt hai tay nói khẽ. Em chưa thuộc đoàn nào hết. Đứa bé này bị lạc. Em cũng bị lạc. Em không tìm được nơi anh Ngoạn em đậu xe. Tay ôm đứa bé, tay dắt em, chị áo Lam bảo. Đi theo chị, Chị đưa về nhà. Nhưng trước hết phải giao đứa bé cho chi Cảnh sát đã. Em và chị áo Lam đi quanh co trong ngõ hẹp. Con đường lớn lộ ra ở cuối đường. Chi cảnh Sát nằm ở đầu kia. Nơi có rào dây thép gai. Em và chị áo lam vào bên trong. Chiếc ghế gỗ có lưng dựa êm như chiếc giường nệm. Bây giờ em mới sực nhớ tới me đang đợi ở Chùa. Nhưng em chắc không đến kịp, em đã về và chắc me lo lắm. Em cũng không đủ sức để đến Chùa họp đoàn. Bây giờ em chỉ muốn nằm. Bác cảnh sát hỏi em vài chi tiết. Chị áo Lam thay em trả lời vừa được mấy câu thì một người đàn bà đã nhào vô phòng ôm chặt lấy đứa bé khóc nức nở. Đứa bé vẫn ngủ thật say. Ông Cảnh sát trưởng vỗ vai em nói gì không rõ, hình như là một lời khen. Người đàn bà nắm tay em nói cám ơn. Chị áo Lam dắt em rời Chi Cảnh sát. Đứa bé vẫn còn nằm ngủ say.

Đường chen chúc. Đường đầy người. Anh Ngoạn không thấy đâu. Chị áo Lam đề nghị đưa em về nhà. Em chỉ nhà cho chị ấy. Địa chỉ nhà em đã thuộc nằm lòng. Me dạy em từ ngày em học lớp năm cơ. Me bảo thuộc số nhà, tên đường, em sẽ không lo bị lạc. Chị áo Lam chở em lên chiếc xe đạp. Em ôm sát người chị. Đường nắng gắt buổi trưa. Bộ đồng phục của em nhớp nháp, nhăn nhúm. Một vết khói to vắt ngang qua ngực làm hoen bẩn chiếc áo Lam. Nhưng em không cần. Em đang đi trên đường về nhà.

Nhà mở cửa tự bao giờ. Không biết ai đã về nhà. Chị Tú Thi. Em kêu nho nhỏ. Mắt em mệt nhọc chỉ muốn nhắm lại. Chị Tú Thi hốt hoảng đỡ em xuống xe. Hai chị dìu em vào phòng. Em nằm lăn trên giường nệm. Nhi bị gì vậy chị? Sao không có Ngoạn? Em nghe loáng thoáng tiếng chị áo Lam kể chuyện, lẫn vào tiếng chắc lưỡi của chị Tú Thi. Nhi nó liều thật. Không em Nhi can đảm lắm, thật xứng đáng là đứa bé ngoan. Cơn mệt du em vào giấc ngủ say như đứa bé bị lạc.


Em tỉnh giấc đủ để thấy nụ cười nhe răng của anh Ngoạn. Chuyện gì vậy? Ồ ! em đã nhớ. Thôi thế là vụt mất ngày nhập đoàn. Em thấy tiếc quá. Làm sao kể cho Hương nghe chuyện họp đoàn như đã hứa. Đến bao giờ em mới được đi lại. Me đã vào. Cả ba nữa. À mà có cả Hương nữa. Em nói giọng yếu ớt. Nhi không có gì để kể cho Hương nghe cả. Không con có nhiều chuyện lắm chứ. Con đã làm được việc tốt Nhi ạ. Con xứng đáng quá. Tiếng me ngọt ngào như cục đường phèn mùa hạ, giữa cơn khát nước buổi trưa. Hương tươi cười nhìn em. Ba nói tiếp me. Con đừng lo. Việc làm của con là hành động thay thế cả trăm lần đến Chùa, họp đoàn. Con đã làm được việc trước cả khi đoàn thể dạy cho con. Ba không còn diễu em nữa. Ba lại có vẻ cưng em lạ. Anh Ngoạn lúc bấy giờ mới lên tiếng. Nhi làm anh kiếm muốn chết. Xong việc, đi lại chỗ để xe, chỉ thấy xe chứ chẳng thấy Nhi đâu. Tưởng Nhi hóa thành Tề Thiên Đại Thánh đằng vân giá vũ đi theo me rồi chứ. A, Nhi chưa mách me tội bỏ Nhi đi mà còn chọc Nhi nữa phải không? Anh Ngoạn cười hề hề. Để anh chuộc lỗi nghe. Anh đưa ra phía trước một vật gì sang sáng. Cái gì vậy me. Đưa cho Nhi xem đi. Không. Nhi phải ngồi dậy nhận cơ. Ai lại nằm dài trên giường mà nhận lãnh quà bao giờ. Dậy đi cưng. Em ngồi bật dậy. Cơn mệt nhọc theo giấc ngủ đã qua mất từ bao giờ. Anh Ngoạn đứng ra xa xa. Mời cô bé xuống giường giúp cho. Em ngúng nguẩy. Thôi, cho Nhi xem đi mà. Bắt tội Nhi, Nhi mách me. Me không nói chỉ cười đồng lõa. Hương ra dấu cho em bước xuống giường. Em bước xuống, đất mát lạnh dưới chân. Nghiêm. Anh Ngoạn la lên. Em giật mình. Trời ơi, anh Ngoạn làm gì kỳ vậy. Cho em đi. Em thấy cái hộp bao giấy bạc rồi. Hộp nhỏ. Em suy nghĩ thật nhanh. Không phải búp bê. Thế là cái gì? Em tò mò đành chịu trận. Ô kìa, cái gì vậy. Anh Ngoạn làm gì vậy. Em nín thở. Anh Ngoạn nhanh như chớp mở hộp, tiến lại gần em, đeo lên ngực em một vật, vừa đeo vừa nói. Đây là cái huy hiệu đoàn áo Lam mà chị Trưởng đoàn đã tặng em. Đây là cái huy hiệu Hướng đạo anh biếu Nhi, phục lăn Nhi đó. Hương lại gần. Hương biếu Nhi huy hiệu chữ Thập đỏ của Hương đây. Nhi giỏi quá Nhi ơi. Em cảm động, ngây người. Em đâu đáng để cả nhà cưng em đến thế. Em khóc. Có một đứa bé khác khóc trước mặt em. Không, ảnh phản chiếu trên gương của em đó. Một cô bé tóc rối bời, hai bím mất nơ, mặt nhọ nhem, áo quần đồng phục nhăn nhúm. Khăn quàng như siết lấy cổ. Một cô bé lọ lem, ngực đính ba huy hiệu khác màu nhau tuyệt đẹp. Cầu xin Phật Tổ ban lành, từ bi gia hộ em thành trẻ ngoan… Em chưa cầu nguyện mà đã được là trẻ ngoan rồi đây. Chị Tú Thi thì thầm bên tai em. Tối, chị chở Nhi xuống Chùa chơi chung văn nghệ. Chị Trưởng đoàn áo Lam mời em đó. Em không đáp lại vì còn mải mê nhìn bóng những chiếc huy hiệu trong gương. Đằng sau là tượng Đức Di Lặc. Cũng bụng phệ, má phúng phính, nhưng sao bây giờ nụ cười lại đổi khác. Không, nụ cười đó bao giờ cũng giống bao giờ. Chỉ tại em nghĩ khác mà thôi. Vẫn gương mặt hiền tươi, vẫn nụ cười bình dị. Khi em làm việc xấu, trái tự nhiên, thì nụ cười có vẻ trách móc dịu dàng. Nhưng khi em làm được việc thiện, việc phải, nụ cười trở nên tươi và thương mến biết bao. Không ai nghiêm khắc với em cả. Chỉ có lòng em tự nghiêm khắc với chính mình mà thôi. Em quay về phía tượng Đức Di Lặc. Em nhìn nụ cười của Ngài mà nghe một niềm vui vỡ òa trong tim. Niềm vui thơm tho mát dịu như hương trầm thơm thoảng của đêm rằm

KIM HÀI 
Sóng Vàng

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 129, ra ngày 15-5-1970) 

Bìa của Vi Vi : Bên khung cửa



Đánh máy : Ct.Ly

Các Tiếp Dẫn Viên Khả Ái




Nếu được giáo dục, không trong người nào mà không
cái gì tốt, cái gì trở thành tuyệt hảo. Saint Evremond


Các tiếp dẫn viên hàng không chỉ giúp đỡ các bạn trong một phạm vi giới hạn, như ly nước, viên thuốc nhức đầu cho người khó chịu, khuấy sữa, phụ người mẹ dỗ em bé nín, gọi điện thoại hỏi dùm chỗ trọ cho du khách… Tóm lại, phạm vi của họ không vượt ra khỏi khung sắt phi cơ hoặc xa hơn, hàng rào phi trường. Vả lại, họ làm vì bổn phận họ bắt thế.

Riêng các tiếp dẫn viên được nói đến nơi đây lại làm hầu hết mọi công việc trong phạm vi có thể của mình, lại không phải một vài người phục vụ cho một số đông hành khách mà đôi khi là cả một số đông phục vụ cho chỉ một hành khách! Tôi muốn nói đến những em nhỏ bán quà rong tại các nhà ga, các bến xe đò, trên toa xe lửa.

Bạn đi xe lửa? – Em ơi, phòng bán vé chỗ nào?” “Bên trong đó chị, bên phải kìa, thôi, để em dẫn chị đi”. – Nhỏ, ga này là ga gì mậy? Tới Gò Vấp chưa? “Ga Bình Triệu bà ơi, chừng nào tới Gò Vấp, tui nhắc cho”. – Tới nơi rồi, xuống mau các con. “Tránh qua bên đi bà con, cho người ta đi xuống rồi hãy lên xe” (Với xâu đậu phọng rang nơi một tay, em nhỏ sẵn sàng chuyển phụ đồ đạc hay đỡ hộ cô cậu bé cho một bà nào đó với tay còn lại).

Bạn đến một nơi lạ, muốn hỏi thăm đường mà không gặp Cảnh Sát? Cũng ngần ngại không muốn làm phiền những người lớn qua lại? – Em ơi, bến xe đò ở đây còn bến xe lô nơi đâu? “Tuốt dưới kia lận dì, để em dẫn dì đi”. – Ê nhỏ! Lại nói nghe. Ra Sàigòn đón xe buýt ở đâu mậy? “Qua khỏi ngã tư này, bên trái, nơi cái bảng xanh đó chú”.

Trên đây chỉ là một vài trường hợp điển hình mà tôi được chứng kiến qua những chuyến đi. Bạn đi đây đi đó nhiều, tất bạn gặp được nhiều chuyện lạ và vui hơn. Và chắc bạn thừa biết rằng các em nhỏ mà tôi gọi là các tiếp dẫn viên khả ái ở trên, hành động với mục đích gì rồi. Sau khi tận tình giúp bạn, thế nào các em đó cũng mời bạn mua một món gì. Bạn có thể từ chối, dĩ nhiên. Các em đó có thể năn nỉ, kể lể. Cũng có thể các em bỏ đi mà không hề trách cứ. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, tôi thấy các em thường bán được vì hầu như ai cũng muốn đền ơn cho đỡ thắc mắc.

Bạn đặt câu hỏi tại sao tôi chỉ gọi các em nhỏ là các tiếp dẫn viên khả ái – trên một khía cạnh nào đó – trong khi cùng sinh hoạt như các em là những người lớn, đa số gồm các bà trung niên? Xin đáp : vì ít có người lớn nào níu kéo khách hàng, năn nỉ để bán cho được như các em nhỏ. Vả, cũng hiếm người chịu bỏ công dẫn đạo để rồi sau đó chỉ nhận được đôi tiếng cám ơn suông.

Trở lại các em nhỏ của chúng ta, nếu các bạn cảm động vì thấy các em đáng lẽ được ăn học đầy đủ, được người thân nuông chìu thì lại phải cơ cực buổi đi học, buổi đi bán hàng, hoặc có khi, phải nghỉ học luôn ; xin bạn hãy cho các em cái nhìn cảm thông hoặc mua giúp các em chút ít hàng mà đừng tìm hiểu thêm gì nữa. Bởi chắc chắn nếu đi sâu vào sinh hoạt của các em, bạn sẽ gặp nhiều điều xấu xa tệ hại không ngờ! Tôi không dám vơ đũa cả nắm rằng tất cả các em đều xấu, nhưng phần đông như thế. Hãy coi chừng bóp tay, túi xách, nữ trang… kẻo có ngày phải ngồi khóc và rủa lây người viết bài này khi nhớ đến những gì tôi vừa viết, rồi sẵn sàng đổi tựa bài này thành “các tiếp dẫn viên quỉ quái”.

Tôi tự hỏi : “Các em nhỏ bán hàng rong tại những nơi công cộng đông đúc, có phải là một hình ảnh, một hoạt cảnh riêng chỉ có tại Việt Nam thân yêu của chúng ta không?”.


(Trích từ chuyên mục "Hãy yêu Việt Nam" kỳ 1, tạp chí Tuổi Hoa số 232, ra ngày 1-3-1975)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>