Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Vân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Vân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2024

Mùa Xuân Vẫn Đẹp

Làn gió lạnh cuối đông thổi lùa qua khe cửa. Trời đã hừng sáng. Mai cựa mình thức giấc nhìn sang bên cạnh thì chị Trang đã dậy từ bao giờ. Mai bước ra cửa. Khu vườn nhỏ trước nhà với những cây hoa rung rinh trước gió. Mai hồi hộp cảm động khi thấy chị Trang đang gánh nước tưới hoa. Bé vòng trở lại, ngồi phía sau cửa sổ để nhìn chị Trang. Tội nghiệp chị! Từ ngày mẹ mất đi để lại ba cha con, chị Trang đã lo lắng cho Ba và cho em với tình thương bao la, sâu đậm. Chị càng lo lắng, cực khổ hơn bao giờ hết khi hơn một tháng nay, ông Tư - Ba của hai chị em - vì một tai nạn đã bị té gãy chân trong khi làm việc ở Saigon, bao nhiêu tiền dành dụm của ông Tư đều đổ dồn vào việc chữa chạy, nhưng ông vẫn chưa đi được, phải còn nằm ở nhà thương.

Xuân đã gần về. Tết càng đến gần bao nhiêu thì chị Trang lại cực nhọc bấy nhiêu. Năm nay, mảnh vườn nhỏ trước nhà mà chị Trang đã trồng nào vạn thọ, cúc, mồng gà, thược dược v.v... là gia tài của họ để đón xuân. Chị em Trang đã hy vọng rất nhiều với những cây hoa ấy. Khi gần Tết, họ sẽ bán hoa và với số tiền bán được, chị Trang sẽ mua sắm để ăn Tết, nào là may quần áo cho hai chị em, cho ông Tư và nhất là chị Trang sẽ dẫn Mai lên Sàigòn thăm ông Tư nếu ông chưa về được. Mặc dù số tiền bán hoa có ít nhưng vì đó là món tiền duy nhất của họ để ăn Tết nên hai chị em đã xây đắp rất nhiều hy vọng. Những búp hoa càng lớn bao nhiêu thì niềm hy vọng của Mai cũng tăng lên theo nhiều.

Chị Trang ra bờ ao gánh nước đã trở lại. Đôi má chị hồng lên vì mệt nhọc. Chị nhẹ nhàng đi dọc theo những luống hoa để tưới. Những cây hoa đã trổ bông đều cả và khu vườn hình như rực sáng lên dưới những màu sắc tươi thắm ấy. Mai chợt thấy những búp hoa sao hôm nay đều mang một vẻ rực rỡ, xinh đẹp khác thường. Bé chạy a ra cửa và la lớn:

- Chị Trang ơi! Hôm nay hoa sao đẹp quá!

Chị Trang đang lúi cúi tưới hoa, giật mình ngẩng lên, mỉm cười:

- Vậy mà cũng hét to làm chị giật mình.

Mai nũng nịu:

- Chị ơi! Chỉ còn mấy hôm nữa là Tết, chừng nào chị bán hoa để lấy tiền mua đồ, chị?

- Sao mà gấp thế? Gần Tết chị mới bán được, chớ bây giờ họ mua làm gì? Em của chị thế nào cũng có đồ mới mà, đừng sợ!

Mai mắc cỡ:

- Em hỏi cho biết chớ em có đòi chị mua đồ mới bây giờ đâu? Em ghét chị quá hà! A! Chị có thấy hoa cúc năm nay đẹp hơn năm rồi không chị?
 
- Ờ! Không phải hoa cúc mà những thứ khác cũng vậy, hoa năm nay to hơn nhiều. Nếu có Ba ở nhà chắc phải khen chị em mình lắm phải không em?
 
- Khen thì khen chị, chớ em có trồng đâu mà Ba khen em?
 
- Nhưng em cũng phụ với chị tưới nước, bắt sâu vậy!
 
- Chị ơi! Năm nay em chắc sẽ bán đắt lắm, vậy chị hứa những gì với em, chị đừng quên nhé!
 
- Phải rồi, chị sẽ mua quần áo Tết cho em và dẫn em đi thăm Ba nếu Ba không về ăn Tết được.
 
Nói đến ông Tư, Trang chợt trở nên buồn bã, chép miệng thở dài:
 
- Tội nghiệp Ba, cả tháng nay Ba nằm nhà thương mà chị em mình không đi thăm Ba thường được, để Ba nằm một mình.
 
- Thế nào chị cũng phải dẫn em lên thăm Ba nhen chị! Mấy tháng nay, không gặp Ba em nhớ lắm!
 
Giọng Mai run run cảm động. Trang nhìn Mai và bắt gặp mắt em đang long lanh lệ. Trang gượng mỉm cười, xoa đầu em:
 
- Thôi, đừng buồn nữa em! À! Mấy giờ cô đi học mà không lo, còn ở đây nhõng nhẽo với tôi?
 
Mai giựt mình nhớ đến giờ học vội chạy vào sửa soạn để đi. Trang nói vói theo:
 
- Em ăn cháo chị đã múc sẵn rồi đi, không trễ đâu.
 
Khi Mai sắp đi, Trang lại còn dặn:
 
- Em nhớ mang nón theo nhé, trưa về nắng lắm!
 
Mai trìu mến nhìn chị:
 
- Em không quên đâu, em đã lớn rồi!
 
- Phải em đâu còn bé nữa, em chị đã học tới lớp nhứt mà!

Và chị cười ròn, hàm răng sáng lóng lánh dưới ánh nắng ban mai.

Mai chạy vội đến trường vì thấy mặt trời đã lên cao. Gần đến trường em thấy đàng trước thấp thoáng bóng dáng Bích Ngọc trong bộ đồ trắng muốt. Bích Ngọc là con của bác Tám ở trước nhà Mai. Ngọc là con một và là con nhà giàu luôn được nâng  niu, chiều chuộng nên Bích Ngọc hay có tánh kiêu căng và phách lối. Ngọc và Mai học chung và ngồi một bàn nhưng cả hai không thích nhau vì tánh tình trái ngược đó. Ngọc quay lại thấy Mai đi sau thì mỉm cười đứng đợi:

- Tưởng Mai đi trước rồi chớ, sao đi trễ vậy?

Mai chưa kịp trả lời thì Ngọc đã lôi trong cặp ra 2 chiếc bánh ngọt, đưa cho Mai một cái và nói:

- Mai ăn bánh với mình đi!

Mai lắc đầu:

- Cám ơn bồ! Mai đã ăn cháo ở nhà rồi.

Ngọc cố nài nỉ nhưng Mai vẫn không ăn vì đã no. Mai ngạc nhiên không hiểu sao bỗng nhiên Ngọc lại vui vẻ và đối đãi tốt với mình như vậy, bình thường thì nó đâu thích chơi với Mai, nó thích con Cúc hơn kia mà, vì con Cúc mang nhiều đồ chơi đẹp vào trường. Ngọc hỏi Mai giọng thân mật:

- Mai ơi! Hôm nay thi Sử Địa và Toán, chắc Mai đã học kỹ lắm?

- Mình vừa học xong hồi tối, còn Ngọc?

- Sơ sơ vậy thôi, nếu Ngọc có quên thì Mai làm ơn nhắc dùm Ngọc nhé!

Mai nhủ thầm : A! Hôm nay thi nên hồi nãy nó đã tính hối lộ mình để mình nhắc nó đây. Mai mỉm cười:

- Được, nếu thầy không rầy, mình sẽ nhắc...

Bích Ngọc suốt ngày sau khi đi học đều không phải làm gì cả nhưng không chịu học, cả ngày chỉ biết rong chơi. Bài vở ít khi học thuộc, dù bị thầy la rầy, trách mắng. Cả đến hôm nay ngày thi cũng vậy - Thầy cho bài thi Sử Địa xong, cả lớp cắm cúi làm bài. Riêng Ngọc loay hoay chưa viết gì cả, có thuộc đâu mà viết! Mai đã làm gần xong nhưng Ngọc vẫn chưa làm gì. Nó đá chân Mai, ra dấu bảo Mai nhắc cho nó viết. Thấy bộ mặt sợ sệt lo lắng của Ngọc, Mai thương tình nhắc cho Ngọc.

Một lần, hai lần, đến lần thứ ba thì thầy giáo nghe được, rầy cả hai đứa và dọa sẽ cho không điểm. Mai hoảng hốt ngồi im, trong lúc ấy chuông rung, đã hết giờ. Bài của Ngọc còn dang dở chưa xong. Đến giờ thi Toán, Ngọc vẫn làm không ra, nó khẽ bảo Mai đưa bài cho nó chép. Mai đang cặm cụi giải bài thứ hai nên làm thinh, Ngọc vẫn đá chân Mai ra dấu, Mai bực quá không thèm đếm xỉa gì nó cả, ngồi xích vào bên trong lo làm bài. Đã hết giờ thi, Mai góp bài và thấy Ngọc vẫn ngồi cắn bút. Ngọc đi góp bài trở về bỗng khóc nức nở. Nó nhìn Mai bằng đôi mắt căm hờn và nói:

- Mầy xấu lắm! Mầy ích kỷ lắm! Tao không thèm chơi với mầy nữa! Rồi mầy biết tay tao!

Nó khóc lên rưng rức khiến ba bốn đứa khác xúm lại xem. Con Cúc không biết gì cả cũng xía vô:

- Thì tao đã nói cho mầy biết, con Mai nó xấu lắm mà!

Mai không nói gì cả, lẳng lặng ôm cặp ra về, lòng buồn bã khác thường em thấy con đường về nhà dài vô tận.

Khi đi qua nhà con Lý, bạn quen, Mai đứng lại nhìn vào sân. Nhà Lý cũng trồng hoa bán Tết. Khu vườn hoa này lớn hơn khu vườn của Mai nhiều. Hôm nay những thứ hoa của Lý cũng trổ rộ cả, chắc là bán vừa đúng trong kỳ Tết như của chị Trang. Mai nhìn kỹ, thấy hoa của Lý tuy nhiều nhưng cây xem yếu ớt, lá không xanh thắm mà hoa thì màu không rực rỡ, không to như hoa của mình. Lý thấy Mai đứng nhìn thì vội chạy ra hỏi:

- Mai thấy hoa của mình ra sao?

Mai mỉm cười:

- Đẹp lắm Lý à...

Lý vội ngắt một hoa cúc đưa cho Mai xem:

- Thôi bồ làm bộ quá! Hoa của mình không bằng hoa của chị Trang một chút nữa! Mình nói thiệt, hoa của chị Trang đẹp lắm, ai cũng khen cả... Chị ấy khéo trồng quá!

Mai thấy một niềm vui lâng lâng trong lòng. Về đến nhà, Mai rẽ vào vườn hoa, không thấy bóng chị Trang đâu cả. Mai đi dọc theo những luống hoa xem xét. Quả thật cũng mồng gà, cúc, thược dược mà Mai vừa xem ở nhà Lý lúc nãy nhưng hoa ở đây to và đẹp quá! Mai dừng lại trước một cụm cúc, nâng đóa hoa lên xe, bỗng một con bướm từ dưới bay vụt lên làm Mai giật mình cười khanh khách. Mai khẽ mắng:

- Chưa chi đã thấy chú mầy đến phá rồi nghe, bướm!

Một làn gió nhẹ thoảng qua, mùi hương của các đóa hoa hàm tiếu làm Mai ngây ngất, Mai khẽ ngâm những câu thơ mà chị Trang thường ngâm hàng ngày:

Thuở ấy em nho nhỏ
Ươm ươm mộng chửa đầy
Môi hồng chưa gợn gió
Tơ xanh còn buông mây

Vườn nhà ta nhỏ nhắn, 
Xinh xinh cụm cúc vàng
Thơm thơm nồng huệ trắng
Thoang thoảng hương hoàng lan...
 
Bỗng một giọng cười ròn rã nổi lên sau lưng Mai. Thì ra chị Trang đã đứng sau lưng Mai tự bao giờ, chị nói:
 
- Đi học về không đói bụng hay sao mà còn vào đây ngâm thơ hả cô?
 
Mai bẽn lẽn tìm cách nói lấp:
 
- Chị ơi! Hoa của mình đẹp hơn hoa của con Lý nhiều lắm chị ạ!
 
- Thì chị tài lắm em không biết sao?

Hai chị em đều cười, ánh mắt long lanh tràn đầy niềm hy vọng và Mai đã quên hết câu chuyện bực tức ở trường buổi sáng vừa qua.

Trưa hôm nay, chị Trang đã qua nhà bác Sáu, làng bên cạnh để nhờ bác phụ giúp trong việc bứng hoa và đem ra chợ bán với chị Trang. Chỉ còn có một mình Mai ở nhà. Buổi trưa ở làng sao mà êm ả quá! Mai ngồi trên ngạch cửa nhìn ra sân, mấy cành hoa lung linh trong nắng. Tiếng gà gáy ở xa xa vọng đến nghe mơ hồ, huyền hoặc làm sao! Không có việc gì làm, Mai vào trong nhà vác cần câu lững thững đi ra phía bờ sông câu cá giải buồn. Câu mãi một lúc không được con cá nào, Mai cắm cần câu xuống mé sông và ngã mình xuống bãi cỏ dưới gốc dừa nằm nghỉ. Gió mát từ bờ sông thổi đến làm Mai ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đang say sưa, Mai bỗng giật mình nghe tiếng chị Trang gọi thất thanh từ đàng xa vọng đến. Mai hốt hoảng lật đật đứng dậy chạy về nhà. Trời đã xế chiều. Gần đến nhà, Mai thấy chị Trang đang lên tiếng gọi mình trong cơn nức nở, em vội lật đật chạy tới. Một cảnh tượng tang thương hiện ra trước mắt Mai. Ôi! Khu vườn trước nhà đầy những lá hoa tươi thắm, một nguồn hy vọng duy nhất mà hai chị em đã tốn bao công lao, sức lực, không còn nữa! Bao nhiêu cây hoa yếu ớt đã bật rễ nằm dài, hoa lá tả tơi dập nát, rụng tơi bời trên mặt đất loang lổ.

Mai đứng chết lặng không thốt được tiếng nào, chỉ trố mắt nhìn chị Trang đang khóc. Chị Trang nói trong cơn nức nở:

- Chị vừa về là thấy hai bầy heo của bác Tám đang ủi và dẫm mấy luống hoa tan nát hết, chị mới đuổi chúng đi đó.

À! Thì ra heo của bác Tám - má Bích Ngọc - ủi mấy luống hoa nên mới ra nông nỗi nầy. Mai lấy làm ngạc nhiên không biết hôm nay tại sao bác Tám lại thả bầy heo ra sớm như vậy. Thường lệ, buổi chiều bác Tám mới thả ra và chúng ít khi léo hánh tới đây, chỉ tụ họp ở khu vườn mé trái vì nơi đó đất ẩm ướt hơn.

Nhìn lại khu vườn hoa tươi thắm giờ đây chỉ còn lại đôi ba cây đứng vững còn bao nhiều đều nằm rạp dưới đất tiêu điều xơ xác, những dòng lệ nóng tuôn tràn trên đôi má, Mai òa lên khóc nức nở chạy đến ôm chặt chị Trang, hai chị em không sao ngăn được sự đau thương trong lòng.

Bác Tám nghe hai chị em khóc, chạy ra sau xem. Sau khi biết cảnh tượng đó do bầy heo của mình mà ra, bà ta không chút cảm động. Là một người giàu có nhưng rất đanh đá, tánh tình khó chịu vô cùng, bác ta nói:

- Chà! Tại sao thấy heo của tôi đến mà không chịu đuổi nó đi, để ra nông nỗi này?

Mai buồn bã trả lời:

- Lúc đó không ai ở nhà cả!

- Phải ở nhà trông coi chớ! Bỏ đi thì chúng có phá phải chịu chớ sao! Khu đất này của tôi thì tôi thả chúng đi đâu không được!


Thật ra khu đất đó chính là của bác Tám. Từ lâu bác ta bỏ hoang không trồng gì cả, đến khi chị Trang xin gieo hạt để trồng hoa bác ta cũng bằng lòng cho trồng. Nhưng cách một tháng trước bác ta có ngỏ ý là vì chị Trang trồng hoa lỡ rồi nếu không bác ấy sẽ rào một khu riêng biệt để bao quanh đất mình lại. Chị Trang có năn nỉ xin để qua Tết hãy rào và bác ta đã chịu.

- Thật ra lúc nãy tôi cũng không có thả bầy heo ra, chắc là hàng rào hư sao đó... để tôi về coi ra sao...

Nói xong bác ta bỏ đi vô nhà một nước, không thèm đếm xỉa đến chị em Trang.

Mai tức giận nói với chị:

- Heo của mình phá hư của người ta hết phải bồi thường cho người ta chớ!

Nhưng chị Trang ôm bụng Mai lại:

- Thôi em à! Em quên rằng đất của bác Tám sao? Người ta cho cất nhà ở là còn may lắm, huống chi trồng hoa trên đất của họ nữa, tại mình không chịu coi chừng thì phải chịu.

- Nhưng em tức lắm... và Tết này chúng mình làm sao hở chị?

Buổi chiều ấy, hai chị em không ăn cơm và đi ngủ rất sớm nhưng họ nằm mãi mà không ngủ được. Trong đêm tối, Mai khẽ nói:

- Chúng mình sẽ không sắm gì cả, chúng mình sẽ đi thăm Ba thôi nghen chị?

Không nghe chị Trang trả lời, Mai giơ tay trúng nhằm má chị và bắt gặp những dòng lệ nóng hổi tuôn tràn từ mắt chị.

Hai chị em ôm chặt lấy nhau:

- Chị Trang!

- Em!

*

Buổi tiệc tất niên trong lớp học đã tàn, Mai ôm cặp ra về. Buổi chiều đến buồn bã trên đường làng vắng vẻ. Lòng Mai cũng tràn ngập một nỗi buồn rười rượi và em cất từng bước nặng nề. Hôm qua vườn hoa đã tiêu tan và sáng hôm nay chị Trang đã lên cơn bịnh nặng, chị nóng mê man và nằm vùi, chẳng biết có phải vì buồn mà chị bị bịnh chăng?

Chỉ còn vài hôm nữa là Tết đến nhưng Mai không cảm thấy Xuân về là gì! Khi đi ngang nhà con Lý Mai thấy tấp nập người rộn rịp ở vườn hoa. Người ta đến tận nhà mua cũng có mà người ở trong nhà rộn rịp để lo chuyên chở hoa ra chợ bán cũng nhiều. Lòng Mai chợt se thắt lại và em cất bước đi mau, bụng nhủ thầm:

- Bây giờ con Lý tha hồ bán đắt nhé!

Khoảng đường từ đấy về nhà chỉ còn một khoảng nữa nhưng ở sát mé sông và rất vắng vẻ. Mai thấy thấp thoáng bóng Bích Ngọc đi đàng trước. Bỗng Mai chợt rú lên vì thấy hai người đàn ông bịt mặt bụm miệng Ngọc và lôi xuống mé sông. Mai chạy bay lại và thấy họ lôi Ngọc xuống một chiếc ghe có mui và nhét giẻ vào miệng Ngọc. Mai không suy nghĩ gì cả la lên:

- Bớ người ta! Ăn cướp! Bớ...

Nhanh như cắt, một người dưới ghe nhảy ngay lên bờ túm lấy Mai lôi xuống ghe bụm miệng lại rồi người nọ chèo đâm qua bên kia sông. Một người nói giọng hằn học:

- Mầy bắt con nhỏ nầy làm gì? Nó không thể giúp chúng mình như con kia đâu! Chỉ tổ mất công và kình càng thêm.

- Sao mầy ngu quá! Để nó la bài hải trên bờ cho họ bắt mình lại à!

Người bên trong đã nhét khăn vào miệng Mai và cột Mai với Ngọc dính chùm lại nằm dưới sạp ghe. Y nói giọng dữ tợn:

- Hai đứa bây mà hó hé cái gì coi chừng tụi tao đấy.

Nói xong y lôi trong túi ra một con dao và bấm một cái, một lưỡi dao nhỏ, nhọn, sáng ngời bật nhanh ra phát lên một tiếng tách! Mai và Ngọc rùng mình. Bích Ngọc mặt xanh như tàu lá, run bây bẩy và nước mắt tuôn tràn. Mai thì hiểu rằng chỉ vì mình la nên mới bị họ bắt còn chẳng biết họ bắt Ngọc vì lý do gì?

Chiếc ghe đã cặp sát bờ sông bên kia và lao đi vùn vụt. Bờ sông nầy rất ít người ở vì chưa khai thác hết. Chỉ xa xa mới có vài ngôi nhà. Bần, sậy, mây mọc um tùm chằng chịt. Vài cây dừa hoang de nhánh lá ra bờ sông oằn oại. Bơi một khoảng khá xa, tên chèo ghe cho rẽ vào một con rạch và chống đi mau. Mai liếc thấy hai bên rạch không một bóng nhà, vẫn cây cối rậm rạp. Một lúc sau chúng cho ghe ngừng lại và mở trói dưới chân dẫn hai đứa bé lên bờ. Đi được một khoảng trong con đường nhỏ chật chội mà cỏ dại mọc lan tràn gần bít lối đi, chúng dẫn Mai Ngọc vào một căn chòi đổ nát, xiêu vẹo rồi cột vào góc cột ở xó nhà. Trời đã tối. Một tên thắp một cây đèn dầu lên. Ánh sáng yếu ớt tỏa đi không đủ sáng khắp chòi. Hai tên bắt cóc yên lặng ngồi hút thuốc. Đàn muỗi bay vù vù xung quanh Mai và Ngọc phát ra một âm thanh ghê rợn. Chúng bu đen vào hai đứa bé tấn công. Vì bị cột tay nên chúng không thể nào đuổi được, thật là một điều kinh khủng. Hai tên bắt cóc dọn cơm ra ăn, trong lúc ăn chúng bỏ khăn bịt mặt xuống và Mai thấy chúng rất dữ tợn. Ăn xong, thấy còn dư cơm, một tên nói:

- Ta cho 2 con nhỏ ăn, để chúng đói cũng tội nghiệp, biết đâu ngày mai không có cơm dư để cho chúng nó ăn!

Tên đó đến bên Mai và Ngọc, mở khăn nhét trong miệng hai đứa ra, cột chân chúng lại rồi mở trói hai tay Mai và Ngọc.

Hắn nói:

- Ở đây có la cũng không ai nghe đâu nên đừng hòng! Ăn đi! Tụi bây ngoan ngoãn nghe không!

Ngọc nước mắt lưng tròng, nức nở khóc và tay run run mãi. Một tên quát:

- Có câm cái miệng lại không? Bây không ăn tao đem đổ bây giờ đấy!

Mai ra dấu bảo Ngọc nín và khẽ nói:

- Ngọc cứ việc ăn no đi!

Ngọc ngạc nhiên nhìn Mai và cũng bắt chước Mai bốc cơm lên ăn. Còn đâu là đứa con gái kiêu căng và phách lối nữa! Bích Ngọc bây giờ là một cô bé tiều tụy, sợ sệt, run rẩy! Mai vẫn bình tĩnh ngồi ăn. Bình thưởng Mai vẫn nổi tiếng là 1 đứa bé gan dạ và bây giờ càng chứng tỏ điều ấy là đúng. Ngọc thầm phục trong lòng. Trong lúc ăn, Mai nghe hai tên bàn cãi rất sôi nổi, lập đi lập lại những tiếng : cần gấp, phải đủ số tiền này, thủ tiêu v.v...

Nghe tiếng "thủ tiêu" Mai cũng run trong lòng nhưng bề ngoài vẫn cố giữ vẻ điềm tĩnh. Một tên trong bọn lấy cây đèn bấm rồi ra đi trong đêm tối. Tên còn lại ngồi hút thuốc có vẻ chờ đợi. Khi Mai và Ngọc ăn xong, tên nọ cũng không thèm để ý tới. Hai đứa bé dựa lưng vào vách lá cho đỡ mỏi và lúc này hai tay chúng được tự do nên đàn muỗi ít tấn công hơn. Độ một giờ sau, tên nọ trở về với tiếng thở dài nhẹ nhõm:

- Xong rồi.
 
Tên kia cũng lộ vẻ mừng ra mặt:
 
- Có chắc họ chịu không?
 
- Làm thế nào biết được? Nhưng cứ tin là mình sẽ thành công!
 
Vừa nói hắn vừa liếc nhìn hai đứa bé rồi nói:
 
- Bây giờ tao ngủ trước, đến khuya mầy đánh thức tao dậy thay phiên, bây giờ canh chừng tụi nó nhé!
 
Nói xong hắn trèo lên sạp và chui vào chiếc nóp ngủ. Tên kia ngồi trên ghế canh chừng. Mai và Ngọc quá mệt mỏi. Ngọc dựa lưng vào vách ngủ thiếp đi mặc cho đám muỗi vo ve bên mình. Mai không ngủ được. Em bồi hồi nghĩ đến bổn phận mình : Không biết chị Trang đã bớt bịnh chưa và mình bị như vậy chắc chi Trang đang buồn lo nhiều lắm, chị Trang đang bịnh... Nghĩ đến đây, một nỗi buồn lo dào dạt dâng lên trong lòng, những dòng nước mắt âm thầm lăn dài trên má, Mai cứ để nó chảy mãi mà không lau... Sau cùng mòn mỏi quá, Mai thiếp đi lúc nào không biết.
 
Khi Mai chợt tỉnh thì bên ngoài màn đêm vẫn dày đặc. Em liếc nhìn lại phía tên đang ngồi gác. A! Thì ra chúng đã đổi phiên hồi nào Mai không hay, chắc trời cũng gần sáng. Tên ngồi gác ngả đầu lên thành ghế ngáy pho pho, chắc hắn đang ngủ say lắm. Liếc nhìn thấy con dao nhỏ mà hắn đã dọa hai đứa hồi chiều nằm ngay trên mặt bàn, lưỡi dao phản chiếu ánh sáng ngời, Mai vụt nảy ra một ý nghĩ táo bạo. Em đánh thức Ngọc dậy và ra dấu tiến đến mặt bàn để lấy dao. Ngọc ngơ ngác nhưng cũng nghe Mai. Vì bị buộc chặt chân nên cả hai đi không được đành phải lết nhè nhẹ đến bàn, không cho gây tiếng động, nhưng hình như chúng nghe tiếng trái tim đập vang động khắp nơi. Đến bên bàn Mai với tay lên lấy dao và bảo Ngọc trở về chỗ cũ. Lưỡi dao lạnh như băng nằm gọn trong tay, Mai cố gắng trấn tĩnh. Em nhẹ nhàng cắt dây buộc chân cho mình và cho Ngọc. Sợi dây lỏng dần và đứt ra. Mai cảm thấy khỏe khoắn lạ thường. Mai kéo Ngọc đứng lên và em còn đến bên bàn lấy luôn chiếc đèn bấm rồi cùng Ngọc bước ra ngoài. Đây là giờ phút quyết định của hai đứa. Đứa nào cũng không kiềm chế được sự sợ hãi, lo chúng thức dậy sẽ bắt gặp mình.
 

Gió thổi rì rào qua cây lá nhưng mồ hôi Mai và Ngọc vẫn rịn trên trán. Nhờ có đèn bấm, Mai rọi tìm đường. Vì chỉ có con đường mòn duy nhất dẫn ra bờ sông nên Mai không sợ lạc. Cả hai xiết chặt tay âm thầm đi bên nhau. Trong giờ phút này cả hai bỗng thương nhau tha thiết hơn bao giờ. Ngọc lại thầm phục Mai. Hai em vừa đi nhưng vẫn liếc trở lại phía chòi, chòi vẫn yên lặng hoàn toàn. Đi bộ một khoảng xa, cả hai bắt đầu chạy. Cây cỏ hoang dại hai bên đường mòn cọ vào mặt mày hai em sát rạt và sương trên cành cao rơi lộp độp trên vai hai đứa. Ánh sáng mờ tối nhưng nhờ Mai bấm đèn nên mới thấy đường đi. Một lúc sau cả hai đến mé rạch và cùng rú lên mừng rỡ khi thấy chiếc ghe nhỏ vẫn còn buộc ở đấy. Mai xuống ghe trước và đưa tay kéo Ngọc xuống, cả hai vẫn còn run rẩy. Mai tháo dây buộc ghe ra, bây giờ Ngọc mới lên tiếng thì thầm:

- Làm sao bây giờ? Mai bơi được không?

- Ngọc đừng lo, Mai bơi được.

Thì ra lúc trước ở nhà Mai có một chiếc xuồng nhỏ và chị Trang dạy Mai bơi trong rạch nhỏ rất rành nhưng chưa ra sông lần nào. Mai chống ghe ra giữa rạch và bơi đi. Chiếc ghe từ từ tiến lên nhẹ nhàng. Mai cố gắng chèo mau để ra sông trong lúc Ngọc lầm thầm van vái cho thoát nạn. A! Chiếc ghe ra gần đến đầu rạch. Ngọc bấm đèn thấy con sông đầy nước đang lờ đờ chảy. Bỗng lúc đó, từ đàng xa, cả hai nghe tiếng la và tiếng chân vang thình thịch. Mai và Ngọc quýnh cả lên. Mai bủn rủn cả tay chân như không thể chèo được nữa. Ngọc hớt hải:

- Mai gắng lên! Gắng lên!

Tiếng Ngọc thốt ra như một lời than tuyệt vọng. Hai tên bắt cóc đã chạy đến gần theo bờ rạch nhưng thuyền của hai đứa bé đã đến bờ sông rồi. Mai cố bơi mạnh, chiếc ghe nhỏ đã tách khỏi bờ, băng ra gần giữa sông. Tiếng hai tên nọ vang lên bực tức ở mé bờ. Mai càng cố bơi nhanh, chiếc ghe ra đến giữa sông bỗng xoay tròn, nhưng Mai đã giữ thăng bằng được, chiếc ghe đã qua gần bờ bên kia. Gió sông thổi lồng lộng và tiếng nói bực tức của hai tên nọ đã không còn nghe được nữa. Trời mờ mờ sáng. Chiếc ghe từ từ cặp bờ sông. Mai và Ngọc thở phào nhẹ nhõm như đã trút được gánh nặng ngàn cân. Ngọc bước lên bờ trước buộc ghe vào gốc dừa, Mai uể oải bước lên, tay em dường như không cử động được nữa, rã rời bải hoải. Cả hai không chạy nữa mà chầm chậm đi bên nhau, tay xiết chặt tay mà không nói gì, dường như qua cơn hãi hùng, Mai và Ngọc không còn gì để nói nữa. Gần đến nhà, Ngọc bỗng đứng dừng lại và ôm chầm lấy Mai khóc òa lên. Mai ngạc nhiên chưa thốt tiếng nào thì Ngọc nức nở:

- Cám ơn Mai rất nhiều và xin Mai tha lỗi cho Ngọc!

Mai trố mắt:

- Có gì mà phải xin lỗi Mai!

Ngọc nói giọng tha thiết:

- Mai không biết chớ, vì giận Mai ở trường nên trưa hôm đó Ngọc đợi chị Trang và Mai đi vắng lén lùa bầy heo ra cho chúng dẫm tan nát mấy luống hoa hết.

Nghe lời thú tội đột ngột của Ngọc, Mai sững sờ thốt lên một tiếng "trời" rồi đẩy Ngọc ra. Mai không ngờ lòng dạ Ngọc ác như thế. Ngọc hoảng hốt nắm chặt tay Mai van lơn:

- Mai ơi! Xin tha lỗi cho Ngọc! Ngọc hối hận lắm, Ngọc sẽ thú tội cho ba má Ngọc biết và sẽ qua xin lỗi chị Trang...

Mai gằn giọng:

- Đợi Ngọc qua xin lỗi thì cũng tan nát rồi. Mà thôi! Chuyện đã lỡ và Ngọc cũng đã biết hối hận thì Mai cũng không giận đâu. 

Ngọc cảm động ôm chặt Mai cám ơn qua tiếng khóc.

Đã đến nhà hai đứa. Trời sáng. Ngọc chạy ùa vào nhà mình, còn Mai lên tiếng gọi chị Trang ở phía sau. Chị Trang đầu tóc bù rối, chạy vụt ra la lớn:

- Trời! Em Mai!

Và chị khóc nức lên, Mai ôm chặt chị mà không biết nói gì. Một lát sau Mai từ từ kể lại cho chị Trang nghe. Nghe xong, chị nói:

- Hồi tối, có một cái thơ thảy qua vòng rào nhà bác Tám bảo rằng phải chuộc hai đứa 50 ngàn đồng, nếu không sẽ giết hết làm chị sợ quá khóc cả đêm.

Mai an ủi chị và kể câu chuyện Ngọc làm hư vườn hoa. Kể vừa xong bỗng thấy ba má của Ngọc và Ngọc bước vào. Bác Tám gái và Ngọc đều khóc xin lỗi chị Trang và cám ơn Mai không ngớt. Cả hai vợ chồng bác Tám xin lỗi chị Trang không hết lời và sau cùng lại ngỏ ý nhường cả khu đất phía sau mà chị Trang trồng hoa cho chị. Chị Trang hết sức từ chối nhưng hai vợ chồng bác Tám nhất định cho và một lúc sau họ ra về để đi báo nhà chức trách địa phương về vụ bắt cóc vừa qua.

Chị Trang có lẽ vì quá lo lắng cho Mai nên quên cả bịnh. Mặt trời đã lên cao, chỉ còn một hôm nữa là Tết. Chị Trang dọn cơm cho Mai ăn. Cả hai vừa ngồi vào bàn thì có tiếng chân bước phía trước. Mai nhìn ra và la lên mừng rỡ:

- A! Ba về! Ba về!

Ông Tư hiện ra ở ngạch cửa với những gói đồ nặng trĩu trên tay.

Hai chị em túa ra nói cười tíu tít.

Thì ra chân ông Tư đã đi được và ông lại được tiền bồi thường tai nạn của sở nên mua sắm rất nhiều cho hai chị em. Chị Trang chậm rãi kể những tai nạn vừa qua cho ông Tư nghe. Nghe xong, ông Tư ôm chặt Mai vào lòng, hôn lên má em và nói:

- Con ba ngoan và gan dạ quá!

Mai nũng nịu:

- Nếu vườn hoa không hư, ba sẽ thấy chị Trang trồng hoa năm nay rất đẹp.

Ông Tư lắc đầu:

- Ba đâu cần những thứ hoa đó. Ba đã có hai thứ hoa đẹp nhứt đời rồi!

Chị em Trang ngạc nhiên hỏi:

- Đâu, hoa gì sao Ba không cho tụi con xem?

Ông Tư âu yếm mỉm cười chỉ hai con:

- Đó! Hoa Trang và Hoa Mai nầy không đẹp sao?

Cả nhà cười lên dòn dã. Mùa Xuân về rồi và bao giờ cũng đẹp.


TRANG VÂN       

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa Xuân Bính Ngọ, 1966)



Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2023

Sum Họp

 

Một, hai, ba...
Thằng cha bán kẹo què giò,
Còn một giò đi kéo xe lôi...
Một, hai, ba...

Tiếng lũ trẻ ngoài lộ vang lên ồn ào lẫn tiếng vỗ tay từng chập. Linh đang ngồi học bài, nghe tiếng la chế giễu của lũ trẻ, vội quăng tập xuống bàn, chạy vụt ra ngoài. Lũ trẻ đang quây quần chung quanh một người tàn tật, cụt hết một chân, đang khập khễnh trên đôi nạng. Linh chạy ra mỉm cười nhìn chú Đức - người tàn tật - đã không chút thương hại, nó còn vỗ tay reo cười với chúng. Chú Đức đi vào nhà lúc lâu, lũ trẻ mới hết reo hò. Những lúc đó, chú Đức chỉ biết nhìn lũ trẻ như van lơn, rồi thở dài, tấm thân của chú hình như nặng thêm theo từng bước. Chú Đức là con chú bác với ba Linh.

Trước kia gia đình chú vào hạng khá giả ở Mỹ Tho, nhưng vì giặc giã vợ chồng chú tản cư xuống một làng nhỏ ở Bến Tre. Sau đó chú từ biệt vợ và thằng Dũng, con chú lúc đó được ba tuổi, lên đường chống giặc. Khi trở về chú trở thành thương binh cụt mất một chân và vợ con cũng đã thất lạc nơi nào.

Từ đó chú Đức với tấm thân tàn tật, trôi nổi khắp nơi mong gặp vợ hiền, con dại. Không gặp được vợ con, chú bèn dừng chân trong một ngôi nhà nhỏ, cô độc sống với nghề bán thuốc lá lẻ ở góc đường. Một ngày nọ, ba của Linh gặp chú, hiểu rõ tình cảnh đáng thương đó, ba Linh liền mời chú về ở chung với gia đình mình, mặc dầu nhà ông cũng không lấy gì làm sung túc. Ngày đầu tiên gặp chú, Linh ghét chú ngay. Vì cái chân cụt, chú đi đứng khó nhọc, phải tựa lên đôi nạng, nên khi bước vào cổng gặp chỗ đất trũng, đôi nạng mất thăng bằng làm chú ngã xuống đất. Lũ trẻ hàng xóm đang tò mò nhìn chú bỗng thấy chú té, chúng cười ồ lên. Linh cũng cất tiếng cười theo. Má của Linh bèn kéo nó xuống nhà sau đánh cho một trận về tội vô phép. Linh cho rằng vì chú Đức, nên nó mới bị đòn và để tâm ghét chú.

Mỗi sáng chú Đức theo má Linh ra chợ phụ bán hàng vải với bà, đến chiều mới về. Lũ trẻ hễ thấy chú là chạy theo chế nhạo inh ỏi, trong đó có cả Linh. Còn tệ hơn nữa, khi ba đi đâu vắng nhà, Linh còn lén lấy đôi nạng của chú giấu đi một chỗ làm chú phải năn nỉ nó thật lâu, nó mới đem trả. Chú Đức vì tánh hiền từ nên chẳng bao giờ mách với ba má. Thấy vậy, Linh càng làm tới.

Ba Linh sau nhiều năm làm lụng mệt nhọc nên nhuốm bệnh đau phổi. Đến nay vì nghèo không tiền thang thuốc, sợ để lâu trở nặng nên hồi chiều, má của Linh năn nỉ người hàng xóm mượn được hai ngàn đồng để ba Linh trị bệnh. Khuya nay, cả nhà đang an giấc, bỗng Linh giật mình nghe tiếng hét:

- Trộm! Trộm! Anh chị ơi! Vặn đèn lên!

Linh hoảng hốt ngồi bật dậy. Ba má Linh tuôn chạy ra ngoài. Bỗng Linh nghe tiếng kêu thất thanh:

- Trời ơi! Chết...

Rồi im bặt và đèn bật sáng lên. Linh chạy ra thấy ba nó đang ôm một người chặt cứng, má nó đỡ chú Đức, nằm dưới đất, máu ở đầu chảy ra linh láng. Cửa trước ai mở ra tự lúc nào, hàng xóm tụ lại đông đảo. Chú Đức phều phào nói:

- Tôi đang ngủ, bỗng thức giấc vì có tiếng chân của ai đi. Tôi giật mình hỏi "Ai đó?" nó không trả lời. Nghi là kẻ gian nên tôi phóng xuống giường ôm chặt nó và la lên. Vì muốn tẩu thoát nên nó với lấy cây gài cửa đập lên đầu tôi!

Mọi người bàn tán xôn xao. Ba Linh nhờ một người kêu cảnh sát lại. Má Linh lấy khăn chùi bớt máu cho chú Đức để chở chú đi nhà thương. Chỉ có Linh là ngồi xớ rớ dưới đất nhìn chú Đức. Chú Đức nói:

- Kìa cháu Linh! Cháu lượm tiền đây lên đếm coi còn đủ 2000 không? Mai để mua thuốc cho ba cháu. Hồi nãy nó văng tung tóe, má cháu mới gom lại đó!

Nghe chú Đức nói, Linh thấy một nỗi xúc động lớn lao dâng trong lòng. Ôi! Một người hiền lành, tử tế như chú Đức mà Linh nỡ chế nhạo và có những hành động tồi tệ như vậy sao? Linh vội nắm tay chú khẽ nói:

- Chú có đau lắm không? Để con chạy ra kêu xe chở chú đi nhà thương nhé!

Nói xong, nó chạy vụt ra ngoài. Đây là lần đầu tiên, nó nói được một câu dịu dàng với chú Đức.

Nhờ có tai nạn đó, Linh mới hiểu và yêu thương chú Đức. Sau khi ra khỏi nhà thương, hai chú cháu rất trìu mến, quấn quít với nhau luôn. Chú Đức thường kể lại quãng đời chinh chiến và trôi nổi của chú cho Linh nghe. Những lúc chú nhắc lại những kỷ niệm gia đình đầm ấm cũ, chú thường thở dài vuốt tóc Linh mà bảo:

- Thằng Dũng con chú, nếu nó còn sống thì cũng cỡ cháu! Chẳng biết mẹ con nó giờ nầy ra sao? Còn sống hay đã chết?

Linh gợi chuyện hỏi:

- Chắc là em Dũng ngoan lắm hả chú?

- Phải! Nó dễ thương lắm cháu à! Nhưng bây giờ chú không còn nhớ rõ mặt nó nữa. Chú chỉ nhớ hai gò má phúng phính hồng hào của nó và cái nốt ruồi ở giữa má trái nó mà thôi.

Rồi chú lại yên lặng hàng giờ, tâm hồn để tận đâu đâu... Chắc chú nhớ đến vợ con và buồn cho tấm thân tàn tật của mình. Thấy chú yên lặng mãi, Linh không dám hỏi nữa, làng ra chỗ khác. Từ lúc biết thương chú Đức đến giờ, hễ thấy chú buồn là lòng nó không yên. Tội nghiệp chú Đức quá! Lúc rày, Linh không bao giờ làm phật ý chú, nó đem những chuyện vui ra kể cho chú nghe, mong chú bớt buồn khổ.

Một ngày nọ, trên chuyến xe bus ra chợ Bến Thành, đang chen lấn với hành khách thì Linh bỗng giật mình, khi gặp một đứa bé bằng tuổi nó, có một nốt ruồi ở giữa má trái. Tiếng chú Đức vang lên đâu đây: "Con của chú có một nốt ruồi ở giữa má trái", làm Linh tưởng tượng đó là con chú Đức. Khi ra đến chợ, hành khách chen nhau xuống, đứa bé đó nhảy xuống trước rồi lẫn vào đám đông mất dạng... Linh bị hình ảnh thằng bé đó ám ảnh suốt buổi chiều, đến khi gặp chú Đức, nó vội kể cho chú nghe. Ánh mắt chú hình như sáng lên nhưng rồi chú bảo:

- Cháu à! Thiếu gì đứa có nốt ruồi ở má, chớ đâu phải có một mình thằng Dũng của chú đâu!

Linh vội nói:

- Nhưng sao con thấy nghi nghi cái gì ấy! Nè, nó cũng bằng một cỡ với con nè, nhất là nó có cái nốt ruồi đó nữa! Vả lại...

Chú Đức vội cắt ngang:

- Linh nè! Thí dụ đứa bé đó là con chú rồi làm sao con nhận ra nó được?

- Con sẽ hỏi tên nó!

Chú Đức gật gù:

- Ờ! Phải đấy, nếu nó là Dũng thì có thể đúng! Nhưng mà ở cái Sàigòn rộng lớn nầy làm sao cháu có thề gặp lại nó lần thứ hai?

Linh nói giọng quả quyết:

- Con tin là con sẽ gặp nó lại vì khi con để ý thì thế nào cũng gặp!

Chú Đức mỉm cười. Linh đã gieo vào lòng chú một hy vọng mà từ bấy lâu nay, nguồn hy vọng ấy hầu như sắp tắt.

Lời quả quyết của Linh lại thành sự thật. Một chiều, Linh thơ thẩn chơi trong một công viên thì đứa bé đó lại xuất hiện. Linh run lên như sắp có chuyện quan hệ xẩy ra. Linh định làm quen với nó, nhưng Linh không biết mở miệng ra sao. Linh bèn ngồi nhìn nó mãi. Một lúc sau, đứa bé ấy tiến ra cửa công viên. Linh hoảng hốt bật dậy như lò xo. Chẳng lẽ để nó đi mất như lần trước sao? Linh bèn lò dò đi theo đứa bé định tìm cơ hội để làm quen. Qua một con đường rồi một con đường nữa, thế mà Linh không sao nói được. Đứa bé đó có đôi lần quay lại nhìn Linh nhưng chắc nó cho Linh là kẻ đi dường nên không để ý. Băng qua một đại lộ, hai đại lộ, đứa bé ấy vẫn thấy Linh đi phía sau mãi. Biết có người đi theo, nó trở nên lúng túng, chân bước không được tự nhiên nữa. Hết đại lộ đó, thấy Linh vẫn lẽo đẽo theo mình, đứa bé như sợ hãi, mặt tái đi, nó quay mặt lại và run giọng hỏi:

- Làm gì mà anh cứ đi theo tôi hoài vậy?

Linh lúng túng đáp:

- Tôi... tôi... định hỏi anh một chuyện...

Đứa bé sẵng giọng hỏi:

- Chuyện gì? Sao anh không hỏi? Lại đi theo tôi?

Linh càng bối rối hơn:

- Tôi... có một người chú bị lạc mất vợ và con... nay thấy anh giống như hình dáng chú tôi tả của con chú nên tôi tưởng anh là...

Đứa bé cắt ngang:

- Sao anh tưởng lạ vậy? Thiếu gì đứa bé giống nhau! Nhưng tôi cũng nói cho anh biết là tôi không phải con của chú anh đâu. Ba tôi đã chết lâu rồi, còn đâu mà lạc! Vậy anh đừng đi theo tôi nữa nhé!

Nói xong, đứa bé ấy bước đi rất mau. Linh ngơ ngẩn nhìn theo rồi bỗng kêu giật lại:

- Kìa anh! Anh ơi!

Đứa bé cau mặt quay lại hỏi:

- Anh còn muốn gì nữa?

- Tôi xin lỗi anh! Xin anh cho biết tên của anh!

- Tôi à! Tôi tên là Thới! Nguyễn Châu Thới!

Nghe xong, Linh bàng hoàng. Thôi đúng là không phải rồi! Linh lí nhí cám ơn rồi quay lại đường cũ. Linh trở về nhà thì cả nhà đang ăn cơm. Linh chạy đến bên chú Đức, khẽ nói:

- Chú! Chú ơi! Con gặp lại đứa bé hôm trước, nhưng...

Chú Đức vội buông đũa xuống, hấp tấp hỏi:

- Sao? Con gặp nó à? Con có hỏi tên nó không?

Mặt chú bừng lên rạng rỡ, giọng nói tràn đầy hy vọng. Linh cảm thương chú quá! Biết là lời nói mình sắp thốt ra đây sẽ làm cho chú Đức tắt nguồn hy vọng, do chính Linh nhen nhúm lại trong lòng chú mấy tuần nay, Linh vội nắm tay chú Đức:

- Chú! Xin chú đừng buồn...

- Kìa! Không phải nó ư? Không phải Dũng sao?

Mặt chú hình như già nua thêm. Linh xúc động:

- Chú ơi! Nó tên là Thới, chú à! Xin chú tha lỗi cho con, con đã làm chú buồn...

Nước mắt tràn ra khóe mắt lăn dài trên má chú Đức, nhưng chú vội chùi khô rồi cất giọng tự nhiên bảo:

- Không! Cháu có làm gì đâu mà xin lỗi! Thôi, vào lấy chén đũa ra ăn cơm chớ Linh. À, mà từ đây về sau, cháu đừng bao giờ nhắc đến con của chú nữa nhé! Thôi, chú kể như nó đã chết rồi!

Ba má Linh biết chú Đức đang đau khổ lắm nên nháy Linh đi chỗ khác. Linh lẳng lặng ra phía sau, nghẹn ngào:

- Chú Đức! Tội nghiệp chú quá!

Từ đó về sau, Linh không bao giờ dám nhắc đến vợ con chú Đức nữa.

*

Linh thi đậu vào lớp đệ thất trường công. Ngay ngày khai giảng, Linh bắt gặp đứa bé hôm trước - Thằng Thới - học chung lớp với mình. Thấy Thới là Linh nhớ ngay vì cái nốt ruổi của nó và cũng vì cái hình dáng Linh phải để ý tìm kiếm mấy tháng trước. Nhưng Thới đã quên hẳn Linh. Gặp Thới nhưng Linh không nói cho chú Đức biết vì sợ chú Đức nhớ chuyện cũ mà buồn. Thới và Linh học chung với nhau đã mấy tháng, chúng nó thật là hai đứa xuất sắc nhất trong lớp. Nếu Linh không đứng đầu lớp thì Thới, không có đứa nào chiếm được địa vị đó. Nhưng Thới là một đứa trẻ hay ganh , hễ Linh đứng thứ hai thì không sao, nhưng nếu Linh đứng thứ nhất thì nó ghét ra mặt. Vì vậy, tuy học chung một lớp mà Thới và Linh cũng không quen nhau lắm, tháng này Thới đứng đầu lớp. Sau khi phát hạng cho mỗi đứa, nó nhìn Linh một cách tự đắc. Giờ tập thể dục bắt đầu. Tất cả học sinh trong lớp đều ra sân trường, Linh và Thới đều ra cửa một lúc, mấy đứa học trò đi phía sau bỗng lấn mạnh làm Linh đụng Thới té nhủi xuống đất. Thới lật đật đứng dậy, đỏ mặt. Nó giận lắm, mặc dầu biết lỗi ấy không phải do Linh gây ra nó cũng vung tay tát mạnh vào má Linh. Bị một cái tát đau điếng, Linh chụp lấy tay Thới, định gây lại thì tiếng còi thầy gọi học sinh sắp hàng nổi lên. Suốt buổi hôm đó, Linh và Thới đều giận ngầm với nhau lắm. Tiếng chuông rung lên, báo hiệu giờ tan học. Học trò các lớp ùa ra đông nghẹt. Linh ôm cặp băng qua một đại lộ để về nhà. Bỗng nó thấy ba, bốn thằng con trai vây đánh một đứa. Đến gần, Linh ngạc nhiên xiết bao, thấy đứa bị đánh là Thới. Thới bị ba đứa kia tấn công dữ dội. Không chút ngần ngại, Linh quăng cặp xuống, nhảy vào đánh với Thới. Sau một lúc ẩu đả, vì Thới có Linh nên đánh lại rất hăng, vả lại Linh rất mạnh, lũ trẻ bị thua ùa chạy mất dạng vào một ngõ hẻm. Thới bị đánh bầm cả mặt mày. Linh chỉ xây xát chút đỉnh. Thới đau quá nhưng cũng bẽn lẽn quay lại:

- Cám ơn...

Thới ấp úng nói câu nầy vì nó nhớ đến cử chỉ hồi nãy với Linh. Linh không để ý câu đó mà hỏi:

- Sao tụi nó xúm đánh Thới vậy?

- Thới cũng không biết nữa! Mấy lần đi ngang đây, chúng lườm Thới hoài...

Linh hỏi, giọng dịu dàng:

- Thới có đau lắm không? Để Linh ôm cặp đưa Thới về nhé! Tụi nó thấy Thời đi một mình, không chừng chúng trở lại nữa à!...

Thới cảm động quá, xiết chặt tay bạn, nói:

- Cám ơn Linh! Linh có lòng tốt với Thới quá!

Rồi trên đường về nhà mình, Thới thân mật hỏi:

- Linh à! Khi mới gặp nhau lần đầu, Thới thấy Linh hình như quen quen...

Nhưng Linh chối ngay:

- Chắc Thới lầm đấy, hôm đó Linh mới gặp Thới lần đầu đó!

Về đến nhà Thới, Linh đã thấy một người đàn bà đứng trước cửa đợi Thới, la lên:

- Sao hôm nay con về trễ thế? Kìa, sao mặt mày con thế kia?

Thới bèn kể lại câu chuyện bị đánh rồi chỉ Linh:

- Nhờ có anh Linh bênh vực con, nếu không con quị luôn vì tụi nó rồi.

Mẹ Thới bèn quay lại cám ơn Linh rối rít. Bà lấy dầu xoa bóp chỗ đau cho hai đứa rồi lấy dao gọt trái cây cho hai đứa ăn. Nhà Thới là một tiệm bán quần áo trẻ con hạng trung. Má Thới nhìn Linh hỏi:

- Nhà cháu ở gần đây không? Ba má cũng mạnh hả cháu?

Linh đáp:

- Thưa, nhà con ở trong chợ quận lận, ba má con vẫn mạnh.

Má Thới bỗng rưng rưng nước mắt:

- Chỉ tội nghiệp cho thằng Thới sớm mất cha từ lúc lên ba tuổi.

Bà lấy khăn chùi nước mắt, rồi chỉ ảnh trên bàn thờ ở phía trong nói:

- Đấy, ba em Thới đó cháu à!

Linh nhìn tấm ảnh bỗng la "trời" rồi buông rơi trái xoài xuống đất, mắt vẫn nhìn tấm ảnh. Má Thới hoảng hốt hỏi:

- Kìa Linh! Cháu sao vậy?

Linh buông ra mấy tiếng:

- Trời ơi!... Chú Đức... hình ảnh chú Đức...

Má Thới sửng sốt:

- Kìa! Cháu biết ba của thằng Thới ư? Làm sao cháu biết?

Thì ra tấm ảnh trên bàn thờ đó chính là anh của chú Đức! Qua mấy giây bàng hoàng kinh ngạc, thấy mẹ con Thới đều trố mắt nhìn mình, Linh nói:

- Không! Ba Thới không chết. Ba của Thới hiện giờ đang ở nhà Linh!

Má Thới cãi:

- Không, ba nó đã chết ngoài mặt trận rồi mà!

Linh nói, giọng sôi nổi:

- Không! Không! Chú Đức chỉ bị thương mà không chết! Chú bị mất một chân thôi!

Rồi Linh kể lại cuộc đời của chú Đức, từ lúc chú ra trận bị thương đến nay, cho mẹ con Thới nghe. Mẹ con Thới đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác! Khi nghe lúc chú Đức đã cụt chân rồi mà vẫn còn xuôi ngược nhiều nơi để tìm kiếm mẹ con mình, má Thới òa khóc nức nở. Thới cũng khóc theo.

Linh hỏi:

- Thưa thím... con có điều thắc mắc này: Tại sao Dũng đổi tên là Thới?

- Cháu thắc mắc cũng phải. Khi ba nó còn ở nhà thì nó tên Dũng, nhưng sau này vì mẹ con thím chạy loạn nhiều nơi, làm mất khai sinh của nó. Khi làm lại, thím đặt tên nó là Châu Thới, đó là tên một làng nhỏ, để kỷ niệm nơi mà ba nó từ giã mẹ con thím ra đi. Ít lâu sau, thím nghe tin ba nó chết, đau khổ quá, thím lên đây buôn bán nuôi con, mấy năm nay mới được cửa tiệm này.

Linh cười:

- Chỉ vì sự đổi tên đó mà chú thím đến ngay hôm nay mới gặp lại nhau!

Rồi Linh kể những chuyện gặp Thới trên xe bus, ở công viên, cho mẹ con Thới hiểu rõ hơn.

Sau đó, mẹ con Thới hối Linh dẫn họ trở lại nhà.

Lúc Linh về, cả nhà đang ăn cơm. Chú Đức hỏi:

- Sao cháu về trễ vậy, ủa ai vào đó Linh?

Linh nói:

- Con về trễ để cho chú một tin vui mừng, thím Đức và em Dũng đây!

Ai nấy đều quay lại nhìn mẹ con Thới. Chú Đức buông rơi cái chén xuống đất bể cái xoảng la lên:

- Trời! Mình!

Hai vợ chồng chú Đức nhìn nhau trân trối. Sau đó, thím Đức chạy lại ôm lấy chồng khóc nức nở. Linh thấy Thới đứng ngơ ngác thì chỉ chú Đức mà bảo:

- Em đến mừng ba đi, ba em đó!

Thới đến bên ba, rồi cả ba người cùng khóc. Ba má Linh và Linh cười sung sướng. Qua phút xúc động, Linh kể rõ câu chuyện gặp vợ con chú Đức cho chú Đức nghe. Ba má Linh nói:

- Nhờ Trời, gia đình chú đã được sum họp!

Chú Đức kéo Linh lại, xiết chặt vào lòng:

- Và cũng là nhờ cháu Linh yêu quí nữa, anh chị ạ!

Chú Đức lại cười, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt chú, trong lúc Linh Thới nắm chặt tay nhau.


TRANG VÂN      

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa "Đôi Bạn")

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2022

Tấm Lòng Vàng

 
 

Ông bà Hiền sống êm ấm với năm đứa con trong ngôi nhà nhỏ ở Sàigòn. Ông mướn một chiếc taxi chạy kiếm tiền về nuôi gia đình, sống cũng không vất vả lắm. Ông có hai đứa con gái lớn: Minh, 14 tuổi, học Đệ Lục, và Thanh, 12 tuổi, học Đệ Thất trường công lập. Ba đứa con trai kia còn nhỏ. Nhưng đại họa bất ngờ, một ngày kia ông Hiền đang lái xe kiếm khách thì bị một chiếc xe hàng đụng mạnh làm ông thiệt mạng.

Chôn cất chồng xong, bà Hiền chỉ còn hai bàn tay trắng. Số tiền hai vợ chồng dành dụm lâu nay, sau việc ma chay của ông, chẳng còn được bao nhiêu. Bà suy nghĩ nát óc mà chẳng biết phương kế gì sanh sống nuôi con như lúc chồng còn sống. Phải chi bà có số vốn kha khá thì buôn bán cũng dễ. Nhìn lũ con nheo nhóc, lòng bà mẹ hiền tan nát, rã rời... Cuối cùng, bà bàn tính với Minh để Minh ở nhà coi sóc em út, chiều thì lãnh báo đi bán. Còn bà, bà sẽ mua cặp gióng gánh rồi đi mua trái cây bán rong kiếm lời. Riêng Thanh bà buộc lòng phải gửi về nhà ông Tân, em trai bà ở dưới quê ít lâu, vì bà biết rằng dầu bà và Minh cố gắng cách nào đi nữa thì số tiền kiếm được cũng không đủ nuôi sáu miệng ăn ở đô thành đắt đỏ này. Bà Hiền đem chuyện ấy nói với Thanh và bảo Thanh sửa soạn mai theo cậu về quê. Thanh tuy rất buồn nhưng là đứa con hiếu thảo nên không cãi lời mẹ. Đêm hôm đó, Thanh khóc rất nhiều. Phần nhớ cha, phần lo lắng cho gia đình chẳng biết ngày mai ra sao nên thanh thao thức suốt đêm.

Sáng hôm sau, Thanh từ giã gia đình để theo cậu Tân lên xe. Cuộc chia ly thật não nùng! Thanh khóc lặng trên xe, cho đến khi ra khỏi thành phố, gió mát như thổi vơi nỗi buồn của em. Hai bên lộ ruộng lúa chín chạy dài. Mùi lúa thơm tho quyện lại trong gió, khiến Thanh tỉnh táo trở lại. Nghĩ đến hoàn cảnh hiện tại, Thanh Nghĩ: dầu có buồn cũng chẳng ích gì.

Thanh cầu mong cho những người thân của em được bình yên. Riêng Thanh từ nay về ở nhờ nhà cậu, em chỉ mong sao đừng bị bạc đãi thì dầu có cực khổ, Thanh cũng vui lòng. Đến xế chiều xe mới đến làng nhưng còn phải đi bộ một khoảng khá xa mới tới nhà cậu. Nhà cậu Tân ở hẻo lánh trong vườn dừa, và sống nhờ huê lợi mảnh vườn ấy. Sau khi nghe chồng nói rõ vì sao đem Thanh về ở nhà mình, mợ Tân nhìn Thanh xoi mói không chút cảm tình. Thanh hiểu ngay là em phải cố gắng khéo léo lắm, mới tạo được lòng thương ở gia đình cậu mợ.

Nhà cậu Tân còn có một thầy giáo ở trọ. Ông đã đứng tuổi, sống độc thân và hiền lành. Thầy giáo Xuân sau khi nghe rõ hoàn cảnh của Thanh, nhìn gương mặt hiền hậu của em, ông đem lòng mến ngay. Thanh ở đây đã hơn một tuần rồi, một tuần làm việc không hở tay. Nào dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, xách nước nấu cơm phụ với mợ, Thanh còn phải lo tắm rửa mấy đứa em. Thầy Xuân để ý thấy từ khi có Thanh về, nhà cửa được sạch sẽ hơn, mấy đứa con của cậu Tân mặt mày quần áo cũng đỡ lem luốc hơn trước. Ông còn thấy Thanh chỉ vẽ bài vở cho cho các em và khuyên bảo chúng nên lễ phép, ngay thẳng. Thầy Xuân khen Thanh tuy là một đứa bé mà đã khôn ngoan trước tuổi. Nhưng mùa bãi trường đã tới, thầy Xuân từ giã gia đình ông Tân để về quê.

Thấm thoát đã hai tháng trôi qua. Thanh vẫn nương náu nhà cậu. Em biết phận mình nên cố gắng ngoan ngoãn, chăm chỉ giúp đỡ mọi việc mong cậu mợ thương tình. Nhưng cậu mợ vẫn lạnh lùng khắt khe. Nhất là mợ Tân chẳng chút nương tay hành hạ. Thanh bắt đầu chán nản, muốn toát khỏi cái gia đình nặng nề ấy. Đôi khi tựa cửa nhìn đêm xuống, ngắm một cánh chim lẻ mau bay về tổ ấm, Thanh lại ước ao được như cánh chim kia tung cánh bay về với gia đình mình để được ấp ủ niềm thương của mẹ, của chị và trìu mến các em. Thanh khao khát tình thương vì nơi đây không một ai thương yêu em cả. Mùa nhập trường đã tới, thầy Xuân lại đến trọ nhà ông Tân. Nhìn các em xôn xao bao sách vở, lại nhớ đến mùa tựu trường năm rồi, bất giác Thanh ứa nước mắt.

Thầy Xuân từ nhà dưới đi lên bắt gặp, nhìn em như an ủi. Bỗng mợ Tân chạy lên hét:

- Con kia, mày làm gì mà tới bây giờ chưa lo đi xách nước, rồi nước đâu mà xài hở?

Thanh dịu dàng trả lời:

- Thưa mợ, con vừa quét dọn nhà cửa xong.

Mợ Tân túm ngay lấy Thanh đánh túi bụi:

- Đồ lười biếng, nói còn cãi, có đi xách nước mau lên không?

Thanh vội gạt lệ chạy ra sau lấy thùng ra bờ ao xách nước. Thanh thấy chiếc thùng nặng quá, nghẹn ngào trong lồng ngực rồi như kiềm chế không được nữa, Thanh để rơi chiếc thùng xuống và buông mình xuống mé ao khóc nức nở. Chợt em nghe có tiếng nói êm ái bên tai:

- Thanh con! Đừng khóc nữa!

Thanh giật mình ngước lên, thì ra thầy Xuân đang âu yếm nhìn em. Ông ôn tồn nói:

- Con, đừng buồn nữa, thầy đã hiểu rõ hoàn cảnh của con. Thầy biết con bị cậu mợ bạc đãi, nên từ đây thầy sẽ giúp đỡ con.

Thanh ngạc nhiên nhìn thầy Xuân chăm chú. Ông dịu dàng tiếp:

- Thầy rất cảm thương số phận của con!

Thanh cảm động nắm chặt tay ông, đôi giòng lệ tuôn chảy trên má. Dường như bao tâm sự u uất bấy lâu nay, được dịp khơi nguồn, em khóc và kể cho thầy Xuân nghe:

- Thưa thầy, con cũng biết là phận con ở đậu ăn nhờ trong gia đình cậu mợ, nên con chẳng quản ngại gì cực nhọc, chỉ mong sao cho cậu mợ con thương con mà thôi. Nhưng, thầy ơi! Con tủi nhục lắm. Con xin nói thật với thầy, lòng con chán nản vô cùng, chỉ muốn rời bỏ gia đình này thôi.

Thầy Xuân vuốt nhẹ tóc Thanh nói:

- Thanh à! Con còn nhỏ, chưa hiểu nhiều. Vậy thầy khuyên con nên bỏ ý nghĩ ấy đi. Con sẽ ở đây, dầu sao gia đình nầy cũng là ân nhân của con. Con hãy cố gắng vui vẻ đối đãi với mọi người, hãy giúp đỡ cậu mợ một cách thành thực dầu cậu mợ con có xử tệ đi nữa.
 
Con hãy gieo tình thương đi rồi con sẽ nhận được trái của nó. Thầy biết con khôn ngoan nên mới đem những lời này mà bảo con đó!
 
Thanh ngồi im lặng nghe thầy Xuân nói, và nhìn thầy với tia mắt biết ơn. Em nghẹn ngào nói:
 
- Vâng, con xin nghe lời thầy dạy bảo.
 
Thầy Xuân gật đầu:
 
- Thầy biết con ngoan lắm!
 
Nghe những lời thầy Xuân khuyên nhủ, Thanh trở lại yêu thương gia đình cậu mợ như trước. Mấy đứa con cậu Tân dần dần đều mến Thanh. Duy có đứa con trai lớn là Kim bằng tuổi Thanh thì ngỗ nghịch hỗn láo quá mức. Kim thường kiếm nhiều chuyện nói xấu Thanh để em bị đòn bọng. Dầu vậy, Thanh vẫn lo săn sóc quần áo, miếng ăn cho Kim, mong một ngày kia Kim hiểu mà thương mình. Còn cậu mợ có rầy đánh Thanh, em chỉ buồn nhẹ trong lòng, chứ không hờn giận như lúc trước.

Ngày tháng lại trôi qua, Thanh vẫn luôn luôn thực hành lời khuyên nhủ của thầy Xuân. Đôi khi Thanh cũng chán nản nhưng nhờ có thầy Xuân dạy dỗ, an ủi, Thanh thấy bớt buồn khổ và đỡ bơ vơ.

*

Mấy hôm nay thầy Xuân bận việc phải lên tỉnh ít ngày. Trưa nay, Thanh đang ngồi giặt đồ phía sau, bỗng thấy mắt Kim lấm lét, ôm một chiếc hộp bằng thiếc chạy vụt ra sau vườn.

Một lúc sau Thanh nghe mợ Tân la lên:

- Chết rồi, hộp tiền của tao để trong tủ đứa nào lấy? Tao để quên chưa khóa tủ, bước ra đằng trước lấy đồ thì mất. Thật là lạ!

Lúc đó, cậu Tân đang sửa soạn thay đồ để cùng Kim sang làng bên ăn giỗ. Mợ Tân kêu mấy đứa nhỏ lại tra hạch xem có đứa nào lấy hộp tiền không, nhưng đứa nào cũng lắc đầu. Kim từ ngoài vườn đi vào.

Thanh kêu lại dịu dàng bảo:

- Kim à! Hồi nãy chị thấy em cầm cái hộp gì đó? Có phải em lấy hộp tiền của má không? Nếu Kim có lỡ lấy thì nên đem trả lại má đi kẻo để các em bị đòn oan đó.

Kim trợn mắt hét:

- Tui không có lấy. Trời ơi! Người nào ăn cắp rồi tính vu oan cho tôi hả?

Thanh nói:

- Chớ hồi nãy, em cầm cái hộp gì ra sau vườn đó?

Kim lại la lên:

- Hộp gì của tui chị hỏi làm gì? Tui không có lấy đừng nói bậy à!

Thanh bảo:

- Chị tưởng Kim lấy chớ không có thì thôi.

Lúc đó mợ Tân bước xuống hỏi Kiam:

- Kim à! Hồi nãy con có lấy hộp tiền của má để trong tủ không?

Kim trả lời:

- Con đâu có lấy, nãy giờ con ở sau vườn mà.

Cậu Tân bước ra cửa bảo Kim mau mau đi đám giỗ kẻo trễ.

Cha con Kim đi rồi, mợ Tân quay sang hạch hỏi Thanh. Bà nhìn thau đồ Thanh đang giặt rồi la lên:

- Trời! Lúc nãy mày vô buồng lấy đồ dơ của mấy đứa nhỏ rồi thấy cửa tủ mở mầy lấy chớ gì?

- Thưa mợ, thật tình con không có lấy, đừng nghi oan cho con.

Mợ Tân hét lên:

- Nghi oan cho mầy? Mầy không lấy thì còn ai vô đây nữa? Nè! Nếu có lỡ lấy thì đem vô đây trả tao, xin lỗi tao tha cho. Còn nếu chối, tao nói trước, bữa nay tao cho mầy chết đó.

Đôi hàng lệ rơi dài trên má Thanh, em khẽ lắc đầu.

Mợ Tân tức giận lấy cây tre nhỏ quất xối xả trên mình em. Chưa lần nào trong đời Thanh bị hành hạ một cách thái quá như vậy. Mợ Tân thấy đánh mãi mà Thanh không nhận, mợ đánh một lúc nữa đến mỏi tay rồi đuổi Thanh:

- Đi ra khỏi nhà tao đi, đừng bao giờ vác mặt ăn cắp trở về nhà này nữa, đi đi... quân ăn cắp...

Thanh đầu cổ rối nùi, quần áo xơ xác, mặt mày bầm tím vì những lằn roi tàn nhẫn đành bỏ chạy ra sau vườn dừa đứng gục mặt bên một gốc cây. Thanh không khóc được nữa. Hình như bao phũ phàng của cuộc đời làm cạn khô suối lệ của em. Em gọi lên nho nhỏ những tiếng thân yêu mà từ lâu em chưa được gọi lại: Ba ơi! Má ơi! Chị ơi! Các em ơi!...

Lồng ngực em muốn vỡ ra vì đau khổ, nghẹn ngào, uất hận... Thanh ngồi như thế cho tới khi trời đã gần tối. Em đưa mắt nhìn lên. Qua những kẽ trống của tàn dừa, em thấy mây đen u ám vần vũ trên đầu. Thanh muốn mình tan biến thành mây, thành gió, thành cây cỏ... miễn sao tránh được niềm đau khổ hôm nay.

Thanh nghĩ rằng sao trời lại nỡ phụ lòng em. Bao thiện chí của em đối với cậu mợ chẳng được bù đắp chút nào, mà trái lại có cảnh hôm nay. Rồi ngày mai ra sao? Liệu Thanh có trở về căn nhà ấy được không?

Trời đã sẫm tối nhưng Thanh vẫn còn nằm trong vườn dừa với nỗi đau buồn nặng trĩu. Bỗng một cơn gió lạnh lùa qua, mưa rơi lấm tấm trên mình em. Thanh như sợ hãi điều gì vụt ngồi dậy, cắm cổ chạy về nhà cậu mợ. Cậu Tân và Kim đã về, mấy đứa nhỏ ngồi học trên bàn. Thanh nép ở mé hè để tránh cơn  mưa xối xả.

Bỗng Thanh nghe cậu Tân hỏi:

- Mình đuổi con Thanh đi hồi trưa rồi à?

Mợ Tân to tiếng trả lời như còn chưa hả lòng căm tức:

- Ừ! Tôi đuổi nó đi sau khi đập một trận nhừ tử.

Lòng Thanh se thắt khi nghe câu nói ấy. Trên bàn, đứa em của Kim đang học một bài thuộc  lòng:

"Con chim non rũ cánh, đi tìm tổ bơ vơ!
"Trên con đường sương lạnh, đi về đâu chim ơi!
"Con chim non không tổ, trẻ mồ côi không nhà...
"Hai bên cùng đau khổ, cùng bơ vơ, bơ vơ!"

Thanh nghe mấy câu đó vội bịt tai lại, lảo đảo ngồi xuống đất, cắn chặt môi để ngăn tiếng nấc. Nhưng em bỗng giật mình nghe tiếng mợ Tân la hoảng:

- Trời ơi! Mình oi! Kim ơi! Sao vậy nè? Trời ơi!

Thanh hoảng hốt nhìn vào thấy cậu Tân và Kim mặt xanh như tàu lá, hai tay ôm bụng, ói mửa linh láng. Còn mợ Tân mặt cắt không còn chút máu, chạy tới chạy lui không biết làm sao. Ngoài trời thì mưa đổ ào ào, gió rít từng cơn, trời tối đen như mực. Thanh nhìn cảnh ấy muốn để mặc kệ mợ Tân, chẳng vào giúp đỡ. Nhưng em nghe văng vẳng bên tai như có tiếng nói của thầy Xuân: "Muốn cho mọi người yêu thương con, trước hết con hãy mở lòng thương yêu họ". Thanh không còn ngần ngại gì nữa, đẩy cửa bước vào. Mợ Tân nhìn Thanh ngạc nhiên, Thanh dịu dàng nói:

- Mợ hãy phụ cùng con thoa dầu cho cậu và Kim, rồi lấy nước trà nóng cho uống. Con sẽ chạy đi rước thầy thuốc ngay.

Làm những công việc ấy xong, Thanh băng mình trong mưa to gió lớn, không nề sấm chớp đang gầm thét liên hồi. Mợ Tân nhìn theo, ánh mắt tràn đầy ngạc nhiên. Độ nửa giờ sau, Thanh dẫn thầy thuốc đến. Sau khi bắt mạch cho uống thuốc, ông bảo bệnh nhân trúng thực. Một lát sau, cơn bệnh của hai người dịu dần và đỡ hẳn. Thanh chỉ kịp thay bộ đồ ướt dính vào người, rồi gục xuống bộ ván sau nhà. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, Thanh ngạc nhiên khi thấy Kim ngồi kế bên và đang đưa tay sờ trán mình. Thấy Thanh mở mắt, Kim vội reo lên:

- Kìa chị đã tỉnh! Chị nóng quá làm em sợ ! Chị à! Xin chị tha lỗi cho em, hôm qua chính em đã ăn cắp tiền của má, không chịu nhận để cho chị bị đòn oan. Thế mà... lúc em bị bệnh, chị không ghét lại chạy trong mưa gió để rước thầy cho em... chị ơi! Chị có lòng tốt quá!

Nói xong, Kim khóc nức nở, nước mắt rơi xuống tay Thanh. Thanh vuốt tóc Kim dịu dàng nói:

- Thôi, em đừng khóc nữa, em đã biết thương chị thì chị cũng đủ vui rồi. À! Mà em thật hết bệnh chưa?

Lúc đó, cậu mợ Tân từ nhà trên cũng chạy xuống chỗ Thanh nằm. Cậu mợ Tân cùng nói một lúc:

- Thanh, cháu tha lỗi cho cậu mợ nhé!

Thanh sung sướng quá chưa kịp nói gì thì mợ Tân âu yếm ngồi xuống bên em, vừa vuốt tóc em vừa nói:

- Thanh! Cháu ngoan yêu quý của cậu mợ! Từ đây mợ hứa sẽ thương yêu cháu như con của cậu mợ...

Vừa nói, nước mắt hối hận của mợ lại trào ra. Thanh xúc động mãnh liệt, không ngờ cái ngày mong đợi cậu mợ hồi tâm đã đến. Thanh siết chặt tay cậu mợ, lắp bắp:

- Con cám ơn cậu mợ!

Thầy Xuân vừa về, bắt gặp cảnh ấy ngạc nhiên quá. Sau khi nghe Thanh kể chuyện, thầy nói:

- Đó là phần thưởng xứng đáng cho con, một đứa bé ngoan hiền đầy nghị lực. Con ban tình thương thì ngày nay, tình thương lại về với con. Con thật xứng đáng với hiệu quả tốt đẹp ấy.

Mắt Thanh sáng ngời, chan chứa niềm vui vô tận.


VÂN TRANG        
(Cholon)            

(Trích từ tuyển tập truyện ngắn Tuổi Hoa "Đêm Kinh Dị")
 

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2020

Người Đàn Bà Đau Khổ


Tùng về quê nghỉ trong vụ hè năm nay. Tùng ra bến xe thật sớm nhưng mãi đến chiều mới tới nhà chú thím tám.

Tùng vừa xách va-ly bước vào đầu ngõ thì con vện từ trong nhà chạy ra sủa vang. Các em túa ra mừng rỡ. Chú thím Tám cũng chạy ra đón Tùng. Cả nhà rối rít hỏi han. Lâm đỡ chiếc va-ly trên tay Tùng hỏi:

- Sao? Phải ở đây nghỉ đúng 3 tháng hè nghen Tùng! Anh hứa trong thơ như thế mà về sớm em không chịu à.

Tùng cười:

- Anh hứa thì giữ lời mà, đừng có lo. Đã mấy năm rồi anh không về đây, bây giờ về thì phải ở lâu chớ?

Vào đến nhà, Tùng thấy một người đàn bà lạ đang ngồi đưa võng kẽo kẹt, miệng nhai ngốn ngáo một quả chuối. Tùng hỏi Lâm:

- Ai vậy? Sao anh không biết?

Lâm cười:

- Anh biết sao được mà biết! Đây là bác Hiền, nhà ở xóm trên chớ không phải xóm này.

Tùng nhìn kỹ bác Hiền, đó là một người đàn bà trên 40 tuổi. Đầu cổ rối nùi, quần áo thì rách xơ xác và dơ bẩn hết sức. Bà ta đưa võng kẽo kẹt, ngước đôi mắt lờ đờ nhìn Tùng rồi la lên:

- Làm cái gì mà nhìn người ta dữ vậy? Lạ lắm hả?

Nói xong bà ta phá lên cười ngặt nghẽo. Tùng ngạc nhiên chưa kịp nói gì thì chú Tám nói:

- Ối! Đi thay đồ đi con. Bà Hiền này mất trí lâu rồi, bả ăn nói bậy bạ như vậy đó.

Đến bây giờ Tùng mới biết bà ta điên, hèn nào quần áo, đầu cổ chẳng như thế.

Lâm cười, chỉ vào Tùng, nói với bà Hiền:

- Đây là anh Tùng nè! Bác lại ôm anh Tùng lại đừng cho ảnh đi.

Đôi mắt lờ đờ của bà ta bỗng sáng lên, ngước nhanh về Tùng rồi hỏi:

- Tùng hả? Ai là Tùng đâu?

Lâm chỉ Tùng:

- Anh Tùng đứng đây nè! Mau lại bắt ảnh đi, để ảnh chạy vuột bây giờ.

Bà Hiền bỗng vụt đứng dậy, chạy đến phía Tùng, làm Tùng hoảng hốt núp sau lưng chú Tám.

- Chú Tám! Chú Tám! Bả bắt con!

Chú Tám đẩy bà Hiền ra rồi rầy Lâm:

- Lâm! Con bày đặt xúi bà bắt anh Tùng chi vậy? Tùng à! Coi vậy chớ bả hiền lắm, không phá hại ai hết. Con đừng sợ.

Tùng xách va-ly bước vào buồng thì bà Hiền định chạy theo nhưng chú Tám cản lại. Bà ta đưa mắt buồn rầu nhìn theo Tùng và miệng kêu lảm nhảm:

- Tùng ơi! Đừng đi! Ra đây con! Ra đây!

Lâm cười khi nghe giọng nói đầy vẻ trìu mến của bà Hiền:

- Ai là con của bác đâu mà bác gọi như thế?

Thím Tám ở nhà sau bước lên:

- Lon gạo đây nè bà! Về lo nấu cơm ăn đi, đói bụng rồi mà còn ở đó.

Bà Hiền đổ lon gạo ra chiếc mo rồi buồn rầu lững thững ra về.

Buổi chiều đó Tùng đang chơi đùa với Lâm và các em ngoài sân thì thấy bóng bà Hiền lảng vảng dưới gốc cây đàng xa. Một lúc sau bà ta bước đến gần bọn Tùng rồi bỗng nhiên bà chạy sấn đến ôm chặt Tùng vào lòng. Tùng hoảng hốt dãy dụa dữ dội bao nhiêu thì bà ta lại ôm chặt Tùng thêm bấy nhiêu. Đôi mắt bà ta đỏ ngầu, long lên thật dễ sợ. Tùng la lên:

- Lâm! Lại phụ gỡ tay bả ra với anh!

Lâm lúc nãy còn cười, bây giờ thấy bà Hiền làm dữ quá cũng sợ vội vàng chạy lại gỡ Tùng ra. Bà Hiền miệng nói lảm nhảm, chân đá tứ tung:

- Đừng con, đừng! Ở lại đây! Ở lại đây!

Tùng đẩy mạnh bà ta ra nhưng không thoát nổi, bà ta nhào đến kéo Tùng trở lại. Cả hai người đều nhào lăn xuống đất. Mấy móng tay của bà Hiền quấu chặt vào tay Tùng đau điếng. Tủng hoảng la lên:

- Lâm! Vào kêu ba ra, mau lên.

Lâm vừa chạy vừa la:

- Ba ơi, ra mau cứu anh Tùng!

Chú Tám chẳng biết chuyện gì vội chạy ra. Chú gỡ mạnh tay bà Hiền, kéo Tùng ra trong lúc bà ta cố giữ chặt lấy. Chú Tám gằn giọng hỏi bà Hiền:

- Bà làm cái gì vậy? Lúc trước tôi thấy bà hiền nên mới cho xuống đây chơi, bây giờ tôi không cho xuống đây nữa! Đi về đi!

Bà Hiền hình như sợ chú Tám, quay mình bước đi còn gọi tên Tùng nho nhỏ, dáng điệu thật khổ sở. Tùng nhìn theo bỗng thấy ghét bà ta kỳ lạ. Bà vừa làm cho Tùng trải qua một cơn mất vía!

Mấy hôm sau bà Hiền vẫn xuống chơi. Bà ta hễ thấy Tùng là nhìn chòng chọc làm Tùng sợ hãi phải lẩn tránh. Lòng Tùng cứ nơm nớp lo sợ bà Hiền nổi cơn bất tử.

Chiều hôm nay chú Tám và Lâm lên xóm trên thăm ngoại của Lâm bệnh. Trời đã tối mà mưa to ào ạt đổ xuống mãi. Cha con chú Tám vẫn chưa về. Từng lằn chớp sáng lòe trước mắt rồi nổ một tiếng lớn như xé không trung.

Đợi chú Tám và Lâm mãi không được, Tùng định đi ngủ thì thím Tám cứ ra vô ngóng trông:

- Tùng à! Thằng Út bỗng nhiên nóng quá! Mấy hôm nay nó cảm sơ sài sao bây giờ như lửa đốt! Thím sợ quá mà chú con chưa về nữa!

Tùng vội chạy lại thăm Út thì thấy Út nóng quá. Đôi mắt nó nhắm nghiền, nằm thiêm thiếp trên giường. Thím Tám lo sợ đến ngồi kế bên. Bỗng thằng Út lăn lộn rồi tay chân co giựt lại. Thím Tám hoảng hốt ôm lấy con và bảo Tùng:

- Trời ơi! Con lấy áo mưa chạy kêu chú Tám về mau! Chú Tám ở cái nhà gần chùa trên xóm trên đó! Thằng Út nóng quá sắp làm kinh rồi! Mau đi con.

Tùng cũng hoảng hốt không kém thím Tám. Quơ lấy chiếc nón lá đội lên đầu và quàng chiếc áo mưa bên ngoài, Tùng chạy băng ra cửa. Mưa vẫn rơi ào ào, gió thổi đập vào những tàu lá chuối hai bên đường lung lay như những cánh tay quờ quạng. Từng lằn chớp chạy ngoằn ngoèo trên  không trung, tiếng sấm nhổ không dứt. Tùng tưởng chừng như mọi vật đều run rẩy sợ hãi trong cơn mưa gió phũ phàng nầy. Lòng Tùng cũng vậy, một nỗi lo sợ lớn lao dâng trong lòng. Tùng cố gắng chạy mau, một phần cho chóng gặp chú Tám, còn một phần cũng vì sợ. Mỗi lần có một lằn chớp lóe lên, Tùng hoảng hốt nghiêng đầu qua như để né tránh. Chiếc áo mưa cũng không cản nổi nước mưa.Nước thấm vào da thịt Tùng, lạnh buốt. Chỉ còn một chiếc cầu nầy là sắp đến chùa. Tùng càng cố gắng chạy nhanh. Qua cầu xong, bỗng nhiên Tùng thấy lóe sáng trước mắt, rồi một tiếng nổ kinh khủng bên tai. Chẳng biết vì sợ quá hay vì vấp phải một rễ cây to, Tùng khụy xuống đất. Gió thổi ào ào, chiếc nón lá mong manh trên đầu Tùng bay đi đâu mất. Tùng gượng đứng dậy định chạy nữa nhưng lại ngồi xuống ngay. Có lẽ vì cái té hồi nãy đã làm chân Tùng bị trặc đi. Tùng lại gắng gượng đứng dậy lần nữa nhưng lại không sao đi nổi. Tùng vừa sợ vừa lo nhưng không sao khóc được. Lo cho bệnh của thằng Út ở nhà và sợ cho hoàn cảnh mình hiện tại. Tùng cố nuốt những giọt nước mưa rơi trên mặt để nhìn kỹ xung quanh. Qua bóng tối lờ mờ, may quá! Tùng thấy có một chiếc nhà nhỏ sát vệ đường. Mừng rỡ, Tùng cố lết vào trước cửa để may ra có ai giúp đỡ cho mình cái gì chăng? Tùng cất tiếng gọi lớn hai, ba lần. Một lúc sau mới có tiếng lục đục phía trong, rồi cửa mở. Một giọng khàn khàn cất lớn:

- Ai vậy? Ướt hả? Vào đi.

Tùng bò vào trong nhà. Người ấy đóng cửa lại rồi bước đến khêu đèn để giữa nhà cho sáng thêm. Bây giờ mới có dịp nhìn kỹ người ấy, Tùng giật bắn người lên, run bây bẩy! Không phải run vì lạnh mà chính vì sợ hãi! Trời ơi! Người đó là bà Hiền, người đàn bà điên đã làm cho Tùng lo sợ bấy lâu nay. Bà ta mặc một bộ đồ đen bạc màu, vá víu chằng chịt. Mái tóc dài rối nùi của bà chảy xuống tới lưng, tung bay mỗi khi có một cơn gió lùa vào nhà. Bà ta ngồi trên cái sạp nhỏ, bỏ mặc Tùng ngồi dưới đất, đôi mắt ngầu đỏ cứ đăm đăm nhìn Tùng. Tùng sợ quá khi thấy đôi mắt đó. Cậu cố len lét thụt lùi lại phía sau để đến gần cửa, định thoát ra ngoài. Tùng thầm nghĩ: thà ngồi ngoài trời mặc cho mưa gió còn hơn là ở trong ngôi nhà nầy với một người điên. Bà Hiền chợt chồm tới nhìn kỹ vào mặt Tùng, rồi la lên:

- Tùng! Con đó hả? Con về đó hả? Lại đây với má con! Tùng ơi!

Tùng chết điếng trong lòng:

- Thôi rồi! Bà ta nhớ ra mình rồi! Nguy quá!

Bà Hiền chạy đến ôm chặt Tùng vào lòng, mặc cho Tùng giãy giụa đấm đá bà ta. Bà lôi Tùng xềnh xệch vào giữa nhà, rồi vừa ôm Tùng vừa khóc:

- Con ơi! Sao lâu nay con đi đâu không về? Làm má nhớ con, má buồn khổ lắm! Con ơi! Con ở đây với má, đừng đi nữa!

Tùng ngạc nhiên quá! Không hiểu tại sao cứ mỗi lần gặp mình là bà ta cứ gọi là con một cách thắm thiết! Tùng vừa sợ vừa bực la lên:

- Trời ơi! Tôi không phải là con của bà đâu! Buông tôi ra cho tôi đi.

Tùng gỡ mạnh tay bà Hiền ra nhưng bà vẫn bấu chặt cứng và bà ta lại vung tay tát Tùng một cái nẩy lửa:

- Mầy không phải con tao hả? Vậy ai sinh mầy ra? Đồ bất nhân, mầy cãi tao đánh chết...

Đôi mắt bà ta đỏ ngầu, trợn trừng thật kinh khủng. Tùng không dám nói gì cả, đưa tay xoa má, nước mắt chảy dài. Thấy Tùng khóc, bà ta nói rối rít:

- Ôi! Má đánh con đau hả? Tội nghiệp con quá! Con đừng cãi má nghe không?

Rồi âu yếm xoa đầu Tùng, bà khóc lóc thảm thiết:

- Tùng ơi! Từ nay con đừng đi nữa nghen. Con đi má khổ lắm, má nhớ con lắm!

Bà ta cứ lặp đi lặp lại những câu nói tương tự mà khóc, hoặc có những cử chỉ trìu mến như mẹ con đối với Tùng. Nhưng hễ Tùng đẩy bà ta ra thì lại bị những cái tát giận dữ lên mặt. Chân Tùng vẫn còn đau buốt nên không chạy được để thoát khỏi đôi tay bà Hiền. Ngoài trời mưa vẫn to như không bao giờ dứt, sấm nổ vang rền. Vài cơn gió mạnh thổi tới như muốn làm bay căn nhà mong manh, xiêu vẹo của bà Hiền. Tùng đành chịu trận trong căn nhà bà ta. Bà ta vẫn khóc, vẫn kể lể lảm nhàm rồi vuốt ve Tùng. Tùng sợ quá, đành nhắm mắt lại cho bà Hiền làm gì thì làm để khỏi thấy dáng dấp ghê rợn của bà ta, lòng rối loạn vô cùng.

Độ một giờ sau thì cơn mưa quái ác mới nhỏ lại dần và tạnh hẳn. Nhưng Tùng vẫn không sao chạy ra khỏi căn nhà bà Hiền được. Bà ta khóc mãi, cái giọng lạnh lùng và khàn đục làm Tùng nổi gai, tim như muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Chẳng biết bao lâu sau thì bỗng thấy, xuyên qua tấm vách lá, từ đàng xa những ánh lửa đỏ lập lòe tiến đến. Tùng mừng thầm trong bụng, cầu mong  chú Tám về nhà không thấy mình nên trở lại kiếm. Quả đúng như vậy, Tùng nghe có tiếng gọi tên mình xa xa. Mừng quá, Tùng cố gỡ tay bà Hiền...

Ánh đuốc tiến đến gần, Tùng thấy lố nhố mấy bóng người. Giọng chú Tám và Lâm gọi thất thanh trong đêm tối:

- Tùng ơi! Tùng con đâu? Tùng ơi! Anh đâu?

Tùng cảm xúc quá, la lớn:

- Chú Tám, con...

Tiếng la nửa chừng bị chặn lại. Bà Hiền đưa tay bụm miệng Tùng, không cho la.

Nhưng hình như chú Tám đã nghe. Ngoài sân, tiếng nói lao xao im bặt. Rồi như một luồng gió, mấy bóng người tông mạnh liếp cửa, nhảy sổ vào trong nhà bà Hiền. Dưới ánh đuốc sáng rực, chú Tám thấy Tùng phờ phạc, đưa đôi mắt lờ đờ nhìn lên không nói một lời vì quá xúc động. Còn bà Hiền đã nín khóc nhưng vẫn ôm chặt lấy Tùng như sợ người ta cướp đi. Chú Tám la lên:

- Trời! Tùng! Sao con lại ở đây? Bả bắt con hả?

Tùng vừa mừng vừa tủi, chỉ nói:

- Chú Tám! Con...

Rồi khóc ồ lên. Chú Tám đưa cây đuốc cho người hàng xóm cùng đi theo để kiếm Tùng, bước đến xô mạnh bà Hiền ra. Bà ta vẫn không chịu dang ra. Giận quá chú Tám đẩy mạnh bà té chúi nhủi xuống đất rồi kéo Tùng đứng lên.

Chú Tám nói:

- Tội nghiệp cháu tôi! Sao vậy con?

Tùng mới vừa đứng lên lại té xuống đất trở lại. Chú Tám hoảng hốt:

- Trời! Sao vậy con? Sao không đứng lên?

Chú Tám và Lâm lại dìu Tùng đứng dậy nhưng Tùng khóc nói:

- Con đứng không được, chân con hồi nãy té trặc đau lắm. À!Thằng Út đã bớt chưa chú?

Lâm vội đáp:

- Ba đã chích cho nó mũi thuốc, bớt nóng rồi, chỉ tại nó mà anh ra nông nỗi nầy, vì hồi chiều nó tắm mưa nên mới bị cảm nặng đó anh Tùng.

Chú Tám cõng Tùng trên vai nói:

- Thôi đi về để Tùng thay đồ kẻo bị cảm nữa. Đâu con kể vì sao mà bị như thế cho chú nghe coi. À, con đừng sợ nữa. Từ rày chú cấm không cho bà ta xuống xóm mình nữa đâu.

Mọi người đi ra, bà Hiền đứng tựa cửa nhìn theo. Bỗng bà la lớn:

- Bớ người ta! Nó bắt con tôi! Bớ người ta... hu... hu...

Giọng bà ta rít lên trong đêm khuya. Tùng rùng mình nói với chú Tám:

- Thôi! Chú đừng cấm bà ta. Vì con hết trặc gân sẽ về Sàigòn ngay. Con sợ lắm!

*

Tùng hết đau chân nhưng không về Sàigòn. Tùng quyết định ở lại nghỉ hết vụ hè. Sau khi hiểu rõ nguyên do vì sao bà Hiền điên loạn, lòng ác cảm của Tùng đối với bà Hiền bỗng nhiên biến mất, thay vào đó, một sự thương hại vô bờ .

Cách đây mấy năm, bà Hiền là người góa chồng nhưng sống êm ấm với đứa con trai độc nhất. Bà thương yêu nó lắm và cưng quí vô cùng. Một hôm, bà cùng đứa con chèo thuyền ra sông cái để đến một cù lao nhỏ nọ đốn củi đem về bán. Bận trở về, thuyền khẳm lại gặp sóng to gió lớn chìm lỉm giữa dòng. Bà Hiền ôm được khúc cây to, người ta chèo ghe ra cứu kịp, còn đứa con thì trôi theo dòng nước chết đuối. Từ khi nguồn an ủi để vui sống độc nhất mất đi, bà buồn rầu vô hạn, khóc lóc suốt ngày đêm. Rồi qua một cơn bệnh nặng, bà mất trí đến bây giờ. Đứa con bà nếu còn sống cũng bằng cỡ Tùng và nhất là nó cũng tên Tùng nữa!

Tùng lẩm bẩm: Hèn gì khi nghe Lâm nói đến tên mình, mắt bà ta sáng lên và cứ khóc, cứ gọi mãi mình là con hoài! Thật đáng thương!

Tùng quyết định an ủi bà Hiền cho bà đỡ khổ. Một bữa trưa, Tùng đang ngồi vừa coi sách, vừa ngủ gà ngủ gật dưới gốc cây ngoài vườn thì thoáng thấy bà Hiền len lén đến. Tùng gấp sách cố can đảm ngồi lại. Bà ta vừa bước đến thì Tùng vui vẻ hỏi:

- Kìa bác! Bác đi đâu vậy? Trưa nắng quá...

Thấy trên tay bà Hiền có cầm hai trái ổi chín thơm ngào ngạt, Tùng cười:

- Cha! Bác có ổi ngon quá! Cho con một trái được không?

Bà Hiền lộ vẻ sung sướng đưa Tùng:

- Nè! Con cầm đi! Má mới hái ngoài kia kìa!

- Nói vậy chớ con không ăn đâu. Bác ngồi xuống đây chơi đi.

- Bà Hiền thật ngoan ngoãn khép nép ngồi xuống bên Tùng. Bà đưa mắt âu yếm nhìn Tùng:

- Con còn ghét má hết? Đừng ghét má tội nghiệp nghen con! Má thương con lắm mà!

Thấy bà ta cứ lầm tưởng mình là con của bà, Tùng suýt bật cười nhưng nói:

- Con không có ghét bác nữa. Nhưng mà bác phải nghe lời con, con mới chịu.

Bà Hiền sung sướng gật đầu:

- Được, được, con bảo gì má cũng nghe lời con hết.

- Tốt lắm! Bây giờ bác đừng đi lang thang ngoài đường nữa, đừng nói lảm nhàm bậy bạ nữa. Bác phải tắm rửa, mặc quần áo sạch sẽ, được hôn?

-Ý! Má có nói bậy bạ lảm nhảm hồi nào đâu? Ờ! Mà thôi được! Má nghe lời con đó!

- Bác giỏi lắm! Thôi bác về đi, nhớ lời con dặn nghen! Mai mốt xuống chơi nữa, con trông bác lắm!

Bà Hiền vui vẻ ra về. Sáng hôm sau, bà ta lại xuống thăm Tùng.

Mọi người ngạc nhiên làm sao! Đầu cổ bà ta chải gỡ suông sẻ, quần áo tuy cũ rách nhưng sạch sẽ chớ không dơ bẩn như trước nữa. Từ đó về sau, mọi điều Tùng nói, bà ta đều nghe lời làm theo. Dần dần, bà vui vẻ trở lại, không còn buồn rầu đi lang thang như trước. Người bà mập ra, trẻ hẳn lại. Không ai có thể ngờ được bà có thể biến đổi mau chóng như thế.

Và mầu nhiệm làm sao! Bà Hiền lại tìm lại được trí khôn của mình đã mấy năm trời lu mất. Tùng sung sướng lắm! Không ngờ mình có thể biến đổi được một người như thế!

Bây giờ mặc dầu biết rằng Tùng không phải là con mình nhưng bà vẫn yêu thương lắm. Hằng ngày bà Hiền vẫn thường kiếm trái cây hái xuống cho Tùng hoặc làm bánh làm trái đủ thứ.

Tùng hết sức từ chối nhưng vẫn không được.

Chiều nay khi nghe Tùng nói sáng sớm phải về nhà để nhập học, bà Hiền giật mình rồi ủ rũ buồn bã không nói một tiếng nào. Tùng phải an ủi vỗ về bà thật lâu.

Sáng sớm tinh sương, bà Hiền đã xuống. Bà quấn quít mãi bên Tùng. Tùng từ giã mọi người rồi mới từ giã bà Hiền. Bà cứ căn dặn:

- Con về trển rồi lâu lâu xuống đây chơi nghen con. Con đi rồi chắc bác sẽ buồn lắm!

- Thôi bác đừng buồn, lâu lâu con sẽ về thăm bác mà, bác phải vui mạnh thì con mới chịu.

Bà Hiền bỗng chạy đến ôm chặt lấy Tùng không nói gì cả. Một lúc sau, bà nói nhỏ:

- Con! Con! Bác thương con lắm!

Rồi bà để tuôn đôi giòng lệ xuống vai Tùng. Tùng cảm động quá, càng ôm chặt lấy bà Hiền, người mà mấy tháng trước đã làm cho Tùng sợ, ghét vô tả.

Tùng không ngờ mình đã hưởng được một mùa hè đầy đủ như thế.

Trở về Sàigòn, Tùng mang theo một kỷ niệm hè, đầy kinh hoàng cũng như thích thú, hơn tất cả những vụ hè đã qua.


TRANG VÂN    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 30, ra ngày 25-7-1965)



oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>