Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuần Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuần Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Quả Lựu Đạn


Thằng Hậu thấy nó rượt theo một tên cướp bịt mặt, tướng tá cao lớn vạm vỡ. Đến sát tên nầy, nó giựt phăng túi bạc hắn quẩy trên vai, đạp cho một đạp té nhào. Cái sức mạnh dị thường của nó bấy giờ hình như quên phứt nó chỉ là một đứa bé con! Tên cướp "trâu cui" lăn lộn đau đớn như xương bị gãy vụn cả.

Nhưng, bất thình lình hắn bật dậy, với một khẩu súng lục trong tay, chĩa vào mình thằng bé:

- Giơ tay lên! Khà khà! Chết rồi nhỏ ơi!...

Bây giờ thì tới phiên thằng Hậu bị rượt. Nó cố chạy thật nhanh. Nhưng quái, hai chân nó cứng đơ như hai khúc củi, nhấc từng bước hết sức khó khăn. Tuy thế tên cướp vẫn đuổi theo không kịp. Hắn tức giận, nổ súng. Lạ quá! Rõ ràng hắn chỉ có mỗi một khẩu súng lục, vậy mà bắn ra nghe hàng loạt hàng loạt không biết bao nhiêu loại súng khác nhau. Đạn bay veo véo trên đầu, thằng Hậu cúi mọp người, kinh khiếp.

Bất chợt, như bị ai kéo chân, nó té lộn mèo, thét to lên một tiếng. Choàng tỉnh, nó mới hay mình đang nằm ngủ trên giường, và những gì vừa thấy chỉ là chiêm bao.

Thường thường khi tỉnh dậy sau một cơn ác mộng, người ta cảm thấy nhẹ nhõm, mừng như thoát nạn thật. Nhưng ở đây, tinh thần thằng Hậu không tìm được sự xoa dịu đó. Tiếng súng! Ồ, tiếng súng vẫn còn, và có phần dữ dội hơn nữa! Nó đã thức hẳn nên không nghe lầm đâu! Thì ra tiếng súng có thật, nỗ ròn rã vang vào giấc chiêm bao của nó, chứ không phải tiếng súng ở trong giấc chiêm bao.

Bỗng, liền đó, chân nó lại bị giựt mạnh:

- Dậy, dậy Hậu! Dậy xuống hầm mau!

Cái giọng quen thuộc, đầy vẻ hoảng hốt, của má nó. Thoáng một giây, nó đã hiểu ngay có chuyện gì rồi. Không đợi giục lần nữa nó chỗi dậy, phóng lẹ xuống đất, theo chân má nó, vội vàng chui xuống miệng hầm tối thui như cái hang chuột, ở cạnh bồ lúa trong góc nhà.

Dưới hầm đã có người, và lần lượt thêm mấy người nữa chui xuống. Có tiếng một bà lão run run hỏi:

- Xuống hết chưa bây?

Giọng đàn ông trả lời:

- Xuống hết rồi má!

Cửa hầm được bịt lại bằng một bao trấu to. Bóng tối thêm dài, ngột ngạt. Thằng Hậu dụi mắt, nhìn soát từng bóng người cao thấp chen chúc ngồi chật trong hầm. Nó hơi yên tâm khi nhận ra đủ mặt cả: Bà Tư, bà nội nó, ngồi góc trong kia ; kế bên bà là thiếm Bảy, má nó, chị Lượm của nó ngồi sát bên trái nó đây ; trấn ở cửa hầm là chú Bảy, ba nó. Im lặng, người nào cũng lo sợ phập phồng.

Đây không phải là lần đầu tiên họ nghe tiếng súng nổ nhiều và gần, song họ vẫn không dằn được sự kinh hãi. Vào những giờ phút nầy, họ cảm thấy con người mình yếu đuối nhỏ nhen quá. Chết chóc tai nạn có thể đến bất cứ lúc nào, vô phương chống đỡ, họ chỉ còn cách là chui rúc vào hầm trú để tránh. Nhưng, ở trong hầm trú, họ có được vững dạ đâu?

Cái hầm trú bom trú đạn của gia đình chú Bảy không hẹp lắm, có thể trải chiếu cả nhà nằm sắp lớp bên trong được. Nó được đào sâu xuống đất, quanh miệng lấp đất sét dày ba bốn tấc, chỉ chừa một cửa ra vào vừa một người chui. Nóc hầm lót một bộ ván gỗ dày, trên chất mấy lớp bao trấu cao nghệu. Hầm xem ra vững chắc như vậy, nhưng chú Bảy vẫn cứ lo, băn khoăn không rõ đạn có xuyên qua nổi không. Còn những kẽ nứt nhỏ, chú tưởng tượng như đạn có mắt, chúng sẽ theo đó mà chui vào. Chú nhặt gạch, gỗ ém mấy chỗ ấy lại, làm như mấy mẩu vụn đó, đạn không làm gì nổi.

Bên ngoài súng vẫn nổ ròn rã, kinh hồn, và càng lúc như càng tiến đến gần nhà hơn. Một loạt súng nổ sát vách, dội tai, dội lồng ngực mấy người dưới hầm. Họ cúi mọp, ôm nhau chết điếng. Đạn bay veo véo lạnh người, chạm tàu chuối tàu dừa lạc xạc, rơi lộp bộp ngoài sân, rớt lõm bõm xuống rạch. Một viên đạn phóng vào nhà trên, không biết trúng vật gì rơi loảng xoảng.

Có mấy tiếng kêu than nho nhỏ. Rồi giọng run run khàn khàn của bà Tư cất lên, với câu kinh cầu nguyện lập đi lập lại. Lời cầu của bà như rên như rỉ, càng làm tăng thêm sự ghê rợn. Nhưng không ai phản đối, phần vì kính nể bà, phần vì đó là điều hợp lý. Phải, trong hoàn cảnh nầy, người ta chỉ còn biết cầu nguyện, trông vào sự che chở của các đấng thiêng liêng mà thôi!

Vụt, tiếng súng im bặt. Đêm quê lại chìm trong sự tĩnh mịch bình thường, như chẳng có việc gì xảy ra cả. Có lẽ trận đánh đã kết thúc. Nhưng chưa ai dám rời hầm trú vội. Sự kinh hãi lắng dịu dần, mọi người thấy phần nào dễ chịu. Và, người ta bắt đầu bàn bạc chuyện trò.

Cô Lượm lên tiếng trước nhất:

- Bây giờ chừng mấy giờ rồi?

Chú Bảy:

- Khoảng một hai giờ.

- "Đụng" ở đâu mà nghe gần quá?

Chú Bảy lại đáp phỏng chừng:

- Hồi đâu nghe đâu ở dưới cầu đúc, rồi lần lần lên tới xóm mình. Chắc "mấy chả" đánh xuống dưới rồi bị lính đánh bật trở lên đa.

- Không biết "họ" rút khỏi đây chưa?

Câu hỏi chẳng được ai trả lời, vì nào ai biết được điều đó. Tiếng súng đã dứt nhưng hiểm nguy vẫn còn quanh quẩn đâu đây.

Bà Tư nói:

- Vái trời cho êm luôn!

Thiếm Bảy chắc lưỡi:

- Rầu quá! Giặc giã gì đâu mà cứ đánh tới đánh lui hoài, làm sao sống nổi!

Im lặng một lúc, thiếm lẩm bẩm:

- Không biết giờ này thằng Hùng nó làm gì? Có phải lội sình lội bùn đi hành quân hay không?

Hùng là con trai đầu lòng của chú thiếm. Anh đi lính trên một năm nay, phục vụ tại một đơn vị xa xôi hẻo lánh ở miền Trung. Thiếm Bảy thương anh lắm. Mỗi khi nghe tin có trận đánh lớn, hoặc mỗi lần có vụ chạm súng trong quận nhà, thiếm lại chạnh nhớ đến thằng lính con mình mà lo lắng không ít.

Nghe nhắc đến Hùng, chú Bảy cũng buồn, nhưng chú bảo:

- Lặn lội đánh trận là chuyện thường trong đời lính, có gì mà má nó băn khoăn? Làm trai thời buổi loạn lạc mà.

- Đành vậy, nhưng làm sao mình khỏi lo cho con được?

Thằng Hậu xen vào:

- Má đừng lo! Anh Hùng tài ghê lắm, có lặn lội, có đánh trận ngày nầy qua ngày khác, đêm nầy qua đêm khác cũng không việc gì đâu! Để rồi má coi, mai mốt anh Hùng ảnh về chơi, mạnh khỏe như thường!

Bà Tư nói:

- Bây nhắc thằng Hùng làm tao nhớ nó quá! Cái thằng chó! Hôm trước nó về phép thấy cái ống ngoáy cây của tao cũ quá, nó nói để lần sau về đem cho tao một cái ống ngoáy làm bằng vỏ đạn. Hổng hiểu sao tới nay lâu quá chưa thấy nó về?

Thằng Hậu lại có dịp tía lia:

- Con biết tại sao rồi nội ơi!

- Tại sao vậy con?

- Tại ảnh muốn kiếm cho nội một cái vỏ đạn thiệt đẹp, đẹp nhứt Việt Nam, đẹp nhứt thế giới, nhưng tới nay vẫn chưa gặp nên ảnh còn đi tìm hoài đó!

Mọi người cười xòa, tạm quên bao sự lo âu. Chú Bảy bảo:

- Coi bộ êm rồi đa! Để tui ra nghe ngóng coi!

Thằng Hậu reo:

- Cho con ra với! Ở trong nầy bực bội thấy mồ!

- Khoan đã mầy! Để tao ra trước một lát đã.

Nói đoạn chú Bảy vẹt bao trấu chận cửa hầm chui ra. Nhưng chú vừa mới ló đầu ra ngoài, thình lình:

- Đoành! Đoành! Đoành! Véo! Véo!...

Súng lại nổ, dữ dội không kém ban nãy! Chú Bảy lại rút vội xuống hầm, bịt kín cửa lại. Sự kinh khiếp hãi hùng lại dâng lên, nghẹt thở.

Sau đó, súng cứ lúc nổ lúc im, không dứt hẳn. Trận chiến gay go kéo dài. Hình như chưa bên nào đẩy lui được bên nào cả.

Nằm im trong hầm trú, thỉnh thoảng mọi người chợt nghe có tiếng chân bước lạo xạo bên hè, tiếng gọi nhau, tiếng còi hiệu lanh lảnh, và cả tiếng rên siết từng hồi ghê rợn. Tưởng tượng cảnh chết chóc đang diễn ra ngoài kia, ai cũng rùng mình: Những bóng đen lăm lăm súng thép, băng mình qua các bụi rậm, chốc chốc lại chồm lên, ria từng loạt đạn kinh hồn ; những thây ngã gục, quằn quại, nhầy nhụa máu me... ôi khủng khiếp!

Người ta trông sáng từng phút từng giờ. Tiếng gà gáy sáng thường khi không ai để ý, bây giờ người ta hết sức đợi nghe. Nhưng đêm hiểm ác như cố kéo dài ra mãi. Và, lũ gà, không biết có kinh khiếp rúc đầu vào cánh hay không, mà quá lâu không nghe gáy một tiếng nào!

Trong đám chen chúc dưới hầm, chỉ có thằng Hậu là có vẻ bình thản hơn hết. Lúc đầu nó cũng sợ ghê hồn, nhưng mãi rồi như quen đi, mặc súng nổ bao nhiêu thì nổ, nó không thèm để ý nữa. Mệt mỏi, nó nằm co dưới đáy hầm, ngủ khò lúc nào không hay.

*

Thằng Hậu thức dậy thì thấy chỉ còn có một mình nằm chèo queo dưới hầm. Nó chui ra khỏi hầm, thấy trời đã sáng bét. Có tiếng lục đục, tiếng chắc lưỡi than vắn than dài trên nhà trên, nó bước lên xem. Bà Tư đang ngồi nhặt nhạnh gì đó trước tủ thờ. Thằng Hậu hỏi:

- Cái chi vậy nội?

Bà Tư run run cầm giơ lên mấy mảnh sứ:

- Cái lục bình! Bể rồi!

Thằng Hậu la lên:

- Chèng đéc ơi! Uổng quá!

Bà Tư rầu rầu:

- Ừ, uổng quá!

Thằng hậu lại ngồi bên bà, phụ nhặt từng mảnh sứ văng tung tóe:

- Hồi hôm mình nghe có cái gì bị trúng đạn rớt bể, chắc nó đó chớ gì, hả nội?

- Ừ!

Bà Tư buồn ghê lắm. Cái lục bình nầy là vật cổ nhất nhà, và được bà quí nhất nhà. Đó là di vật của ông Tư để lại. Nguyên lục bình làm bằng sứ trắng, cao cỡ ba gang tay, hình nhiều mặt, có vẽ mấy ông Tiên ngồi đánh cờ dưới cội tùng, nét vẽ rõ ràng tỉ mỉ bằng mực xanh, nhìn vào cứ tưởng như được sống lại cái thời xa xưa nào ở bên Tàu ấy. Hồi còn sanh tiền, ông Tư cũng quí cái lục bình nầy vô cùng. Ông hay tìm hoa đẹp cắm vào đó, đem đặt lên bàn thờ, rồi cứ xăm xoi ngắm nghía mãi. Nhất là ngày TẾT, cái lục bình, với một cành Mai già cằn cỗi đơm hoa vàng, lơ thơ mấy chiếc lá non, một làn hương ẻo lả bay quyện, đối với ông, thật không có hình ảnh nào đẹp bằng.

Ông Tư mất đi, cái lục bình còn đó. Bấy giờ bà Tư lại hay tưng tiu chăm sóc nó, để gợi nhớ đến ông. Bà đã tìm lại được bóng dáng người xưa, dư vị ngày xưa phảng phất qua cái lục bình nầy. Thế mà, nó đã vỡ nát! Còn gì buồn hơn?

Thằng Hậu hỏi bà nó:

- Cái lục bình nầy bể tiêu rồi, để nói ba con mua cái khác hén nội?

Bà Tư gật đầu:

- Ừ, nhưng làm sao kiếm được cái tốt như vậy?

- Chắc được nội ơi! Hôm trước con đi tỉnh thấy chỗ bán đồ cổ, có bày lục bình đủ thứ hết.

- Vậy hả? Nhưng chắc không có cái nào giống cái nầy đâu!

Phải, trên đời nầy làm sao có được một cái lục bình thứ hai dính dấp đến những chuyện xưa cũ của đời bà như cái nầy. Nó quí ở chỗ đó. Nó "độc nhất vô nhị" ở chỗ đó.

Thằng Hậu hỏi:

- Gom mấy mảnh bể nầy quăng cho rồi hả nội?

Bà Tư gạt ngang:

- Bậy nà! Đi kiếm cho nội một miếng giấy tốt, gói hết lại cất để dành.

Thằng bé hơi ngạc nhiên, nhưng nó cũng vâng lời ngay. Nó nghe người lớn bảo, ai đau ban cua, dùng mảnh sứ cổ lể sẽ hết liền. Có lẽ bà nội nó để dành mảnh lục bình bể dùng vào việc đó chăng?

Tìm được một miếng giấy dầu to, thằng Hậu vừa đem lại cho bà Tư thì nghe có tiếng gọi ngoài cửa:

- Hậu! Làm gì đó mậy?

À, thằng Tiến bạn thân nó. Nó bước ra, giơ tay chào theo kiểu nhà binh:

- Không làm gì hết.

- Vậy đi "quan sát bãi chiến trường" chơi?

Câu nói nghe hấp dẫn.

- Nhưng tao chưa súc miệng, chưa ăn sáng.

- Thì làm lẹ lên, tao đợi!

Lập tức, thằng Hậu bước ra sau sàn nước. Tại đây nó bắt gặp cái khạp nước nhỏ cũng bị trúng đạn, vỡ đôi, nằm khềnh ra đó. Nhìn chếch sang chuồng heo, nó thấy một nhánh sầu riêng bị gãy lìa.

Súc miệng xong, thằng hậu vào nhà lục cơm nguội ăn. Thằng Tiến ngồi kế bên. Hai đứa nói chuyện đánh nhau trong đêm, cãi vã om sòm.

Nồi cơm đã vét sạch, thằng Hậu quăng đũa chén lên vạc, hỏi:

- Mầy thấy ba má với chị Lượm tao đâu không?

Thằng Tiến đáp:

- Chị Lượm thì tao không biết, chắc chỉ đi chợ. Còn ba má mầy ở bên nhà tao á.

- Ổng bả làm gì ở bển?

- Thì cũng xúm bàn chuyện hồi hôm với ba má tao á mà!... Thôi, đi chứ?

- Ừ, đi thì đi!

- Tao muốn tìm mấy cái vỏ đạn to.

- Tao cũng vậy.

- Tao giao, thằng nào thấy trước thì lượm, không được giành giựt nghe!

- Ừ, chơi ngon mà mậy!

Hai đứa không đi đâu xa, bãi chiến đêm rồi chính là khu vườn tược xung quanh nhà, có thể kể cả nhà chúng nữa. Đi qua những gốc dừa, những bụi rậm, những hố trũng, chúng hay bắt gặp những dấu chân, dấu cỏ bị giẫm nát, những vỏ đạn vung vãi. Thằng Hậu ra vẻ rất thành thạo:

- Vỏ đạn cạc-bin nè!

- Vỏ đạn tom-xong nè!

Thằng Tiến hỏi:

- Sao mầy biết?

- Anh Hùng tao chỉ.

Cái gì cũng anh Hùng nó nhất hết! Nó làm thằng Tiến phục lăn anh Hùng nó, phục lăn nó luôn.

Đi quanh quẩn, xục xạo mãi, chưa đứa nào tìm được một vỏ đạn to ưng ý. Và, chắc chắn là không khi nào chúng tìm ra được. Đây chỉ là một cuộc chạm súng nhỏ, thường thôi, người ta đâu có dùng súng lớn.

Bỗng:

- Ý! Hình như...

Thằng Tiến vụt la lên, khi bước ngang một lối mòn, hai bên xanh rì mắc cỡ. Tiếng la to, kinh ngạc, khiến thằng Hậu đi gần đó giựt mình, chạy lại.

- Cái gì vậy?

- Hình như lựu đạn!

- Đâu?

- Kia kìa!

Theo tay chỉ của bạn, thằng Hậu nhìn thấy ba quả kim khí màu xanh xám to bằng nắm tay nó, nằm kề nhau, ở cạnh một bụi kim quít, trông chẳng khác ba trứng chim to. Đến lượt nó la:

- Lựu đạn! Lựu đạn thiệt!

Thằng Tiến rùn vai, thè lưỡi:

- Ghê quá!

Thoạt nhìn một loại khí giới giết người nào, người ta cũng thấy rờn rợn, vì liên tưởng đến sự sát hại khủng khiếp của nó. Chỉ những kẻ hiểu rõ về loại khí giới đó, mới không sợ hãi thôi. Thằng Hậu chẳng biết có rành lựu đạn hay không, mà tỉnh tuồng bảo bạn:

- Ghê quái gì mậy? Để tao lượm coi chơi!

Nói đoạn nó dợm bước, nhưng thằng Tiến vội níu tay lại:

- Đừng mầy! Nó nổ chết bây giờ!

Thằng Hậu cười ngất:

- Mầy làm như hễ rờ tới nó là nó nổ liền! Nếu vậy làm sao lính dám đeo trong mình? Đừng lo, anh Hùng tao có chỉ cho tao biết về lựu đạn mà mậy!

Tin bạn mình giỏi, nghe nó nói có lý, lại thêm tánh tò mò, thằng Tiến không cản nữa, buông tay cho thằng Hậu bước vào bụi kim quít, nhặt được ba quả lựu đạn đem ra:

- Lựu đạn nầy chắc của "mấy ổng" làm rơi.

- Sao mầy biết?

- Hình dáng nó hơi khác với lựu đạn thường thấy lính mang.

Đưa hai quả cho bạn, thằng Hậu tiếp bảo:

- Cầm bớt giùm tao, để tao chỉ cách làm nổ lựu đạn cho mầy biết.

Thấy thằng Tiến có vẻ ngần ngại, nó gắt:

- Cầm đại đi! Vậy chớ tao cầm đây có sao đâu? Mầy nhát như thỏ!

Thằng Tiến đành tiếp lấy:

- Mầy chỉ cách làm nổ thôi, chớ đừng làm nó nổ thiệt đó!

- Tao đâu có ngu!

Giơ cao quả lựu đạn còn giữ lại, thằng Hậu nói:

- Coi nè! Muốn làm nổ trái lựu đạn nầy, mầy chỉ việc rút cái chốt an toàn nầy ra, buông cái thìa nầy, và, quăng đi. Dễ ợt!

- Rủi mình quăng không kịp, nó nổ ngay tại chỗ làm sao?

- Không có chuyện đó được. Rút chốt, buông thìa rồi, lựu đạn không nổ liền đâu, bốn năm giây sau nó mới nổ. Thời gian đó đủ cho mầy quăng đi xa lắc rồi. Nhiều khi mầy quăng sớm quá, rớt xuống chưa nổ, kẻ địch lượm quăng trở lại mầy, chết queo!

- Úy mẹt ơi, ớn quá!

- Để tránh chuyện đó, người ta không quăng trái lựu đạn đi liền. Bốn năm giây có thể ước lượng được bằng cách đếm từ 331 đến 336. Rút chốt, buông thìa xong, người ta đếm từ 331 đến 333 mới quăng là cách hay nhất... À quên, còn một điều nữa, trái lựu đạn đã rút chốt, nhưng nếu mình cứ kẹp chặt cái thìa không cho bung ra, thì để tới tết nó cũng không nổ.

Thằng Hậu trố mắt, chăm chú nghe. Thằng Hậu dứt lời, nó kêu lên thán phục :

- Cha! Mầy học ở đâu mà rành quá vậy?

- Đã nói anh Hùng chỉ tao mà!

- Thôi, bây giờ đem mấy trái lựu đạn nầy xuống bót nạp chứ hả?

- Không được đâu, cầm đi bất tiện lắm!

- Vậy cứ để lại đây, rồi báo cho lính tới lấy?

- Ừ, nhưng để hai trái thôi.

- Còn một trái?

Thằng Hậu kề tai bạn, bảo nhỏ, như sợ có ai rình nghe được:

- Để tao làm nổ thử chơi!

Thằng Tiến trợn mắt:

- Hả? Mầy nói cái gì? Làm nổ lựu đạn chơi? Thôi, xin can cha nội! Nguy hiểm lắm!

- Nguy hiểm thật, nhưng nguy cho người bị liệng, chớ người liệng có hề hấn gì?... Nè, có dịp sử dụng súng đạn chơi, bỏ qua uổng lắm! Tao còn ước được có cây súng bắn thử chơi nữa à!

- Nhưng làm nổ, rủi người ta nghe được thì có chuyện lôi thôi đó!

- Dại gì mình làm nổ ở đây? Ra tuốt ngoài sau mé ruộng á, quăng xuống cái đầm lớn gần bụi tre gai, kiếm tôm cá luôn. Mầy phải biết, với một trái lựu đạn nầy, bao nhiêu cá tép ở dưới đầm cũng phải nổi lên hết, vớt cho mỏi tay!... Thôi, bỏ hai trái lựu đạn mầy cầm lại chỗ cũ đi, rồi đi mầy!

Sau đó, hai đứa cặp kè đi thẳng ra mé sau vườn, tiếp giáp với ruộng. Ở đây không gần nhà nào, giờ nầy cũng chẳng ai lui tới.

Dừng chân bên bờ một cái đầm rộng, thằng Hậu bảo:

- Mầy coi kỹ coi có ai không?

Thằng Tiến đảo mắt nhìn quanh. Vắng lặng, chỉ có mấy con sóc kêu "cọc cọc", phóng chuyền từ tàu dừa nầy sang tàu dừa kia như làm trò xiếc, lũ chim ríu rít bay nhảy ở trên cây, tiếng nghe quen tai đến tưởng như không có.

- Hổng ai hết. Nhưng... Sao tao ghê quá mầy!

- Sợ thì lại đằng mả đá kia mà núp, xem tao làm, thỏ đế!

Mặc bạn chế, thằng Tiến bước ngay lại cái mả đá to nằm gần đấy, ngồi thụp xuống bên hông, hai tay bịt tai, ló đầu trố mắt theo dõi cái thằng bạn táo gan táo mật, xem nó làm thế nào.

Đằng nầy, thằng Hậu cầm lăm lăm quả lựu đạn, sửa soạn ném đi. Nó đưa mắt nhìn khắp mặt đầm tìm đích nhắm. Đầm rộng, nước trong phẳng lặng, phản chiếu bóng cây bóng cỏ ven bờ. Rau muống lục bình mọc lan khắp nơi. Vài ba con chuồn chuồn nhởn nhơ bay đậu hết chỗ nầy tới chỗ khác. Một con cá lóc to len lén trồi lên ăn mống, rồi quẫy đuôi lặn mất dưới đám rong dày bịt. Thằng Hậu mỉm cười:

- Giỡn mặt hả mậy? Một lát nữa thì giãy tê tê nghe em!

Nó nghĩ đến con cá nướng trui thoa mỡ hành, mà bắt thèm bắt đói, mặc dù trong bụng còn đầy cơm nguội.

Nó lùi ra xa, định ném quả lựu đạn tới giữa đầm. Đưa lên miệng cắn xuôi mấu gài chốt an toàn, nó giựt mạnh chốt an toàn ra. Bây giờ chỉ việc ném mạnh quả lựu đạn tới trước và nằm rạp xuống, không để ngực chạm đất, thế thôi! Nhưng, bỗng dưng nó cảm thấy hồi hộp lạ. Trấn tĩnh, nó bảo thầm:

- Hồi hộp khỉ gì? Còn dễ hơn đốt một cây pháo!

Và, nó buông thìa lựu đạn:

- Ầm!...

Một tiếng nổ kinh hồn. Quả lựu đạn nổ ngay khi thằng bé chưa kịp ném!...


THUẦN GIANG      

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 103, ra ngày 1-4-1969)

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Hành Hạ

Tình ông cháu - Ảnh Th. Lê
Bước xuống xích lô máy, trả tiền xe, ông Ba Cang xách giỏ, quảy dù, tiến lại cửa cổng ngôi nhà trước mặt, nhận chuông. Một đứa bé từ trong chạy ra mở cửa. Vừa nhận ra ông, nó vụt reo lên:
 
- Ủa, ông nội!
 
Và nó quay đầu gọi vọng vào nhà:
 
- Tụi bây ơi! Ông nội!
 
Lập tức, ba bốn đứa nữa, lớn có nhỏ có, túa ra reo tở mở:
 
- Ông nội!
 
- Ông nội mới lên a!
 
- Để con xách giỏ cho ông nội!
 
Tứ quê lên tới đô thành, đường xa, bao nhiêu là mệt nhọc, nhưng giờ đây tự nhiên như tan biến hết, ông Ba Cang cười vui trước sự đón mừng của đám cháu. Ông vỗ đầu một đứa:
 
- Có ba má bây ở nhà không?
 
Bọn nhỏ tranh nhau trả lời:
 
- Dạ có!
 
- Ba má con ở đằng sau á!
 
- Ổng bả mới đi làm về, ông nội!
 
Ông Ba Cang theo các cháu vào đến phòng khách thì gặp vợ chồng thầy Hai Trường, con trai và con dâu của ông, bước ra mừng.
 
Thầy Hai Trường vui vẻ hỏi:
 
- Ba mới lên tới hả ba?
 
Ông Ba Cang gật đầu:
 
- Ừ. Lâu quá không được tin tức gì của hai con, ba lên thăm, xem thế nào.
 
Kéo ghế cho cha ngồi, thầy Hai Trường ngồi đối diện:
 
- Tụi con vẫn như thường ba à, bị công việc bề bộn quá nên không về thăm ba má được.
 
- Vậy sao hổng gởi thơ?
 
- Con sợ thất lạc.
 
- Không đâu. Làng mình tuy xa xôi, nhưng thơ từ ở đâu gởi về cũng tới, tuy có chậm đôi chút. Thỉnh thoảng hai con nên viết thơ gởi về cho ba má biết tin đặng yên trí.
 
Cô Hai Trường đỡ lấy cây dù của ông Ba Cang đem mắc lên móc, đoạn đi làm nước giải khát mời cha chồng. Cô hỏi:
 
- Má con vẫn mạnh hả ba?
 
Ông Ba Cang đáp:
 
- Hôm trước bả bị cảm sơ sơ, nay thì khỏe rồi, chỉ còn rột rẹt sổ mũi.
 
- Để chừng ba về con gởi thuốc má uống nha ba!
 
Thầy Hai Trường:
 
- Sao má không cùng lên chơi ba?
 
- Đi hết bỏ nhà cho con nhỏ ở cũng ngại. Vả lại tối ngày bả làm lặt vặt hổng hở tay, đi đâu cho được? Chính ba đây cũng chẳng ở không, nhưng phải tạm gác công việc ít hôm, lên thăm các con, các cháu.
 
Thầy Hai Trường lắc đầu:
 
- Ba má sao mà cứ thích làm nầy làm kia quá! Nhứt là ba đó, không chịu bỏ những công việc nặng nhọc! Lớn tuổi rồi, con mong ba má nghỉ ngơi tịnh dưỡng cho khỏe.
 
- Tánh ba với má con xưa nay như vậy, ở không chịu đâu được nà! Phải làm việc mới thấy vui. Chính nhờ vậy mà từng nầy tuổi rồi, ba cũng như má con chẳng thấy gì yếu đuối.
 
Thật vậy, năm nay ông Ba Cang đã gần bảy mươi tuổi rồi, nhưng trông hãy còn tráng kiện. Ở nhà, ông vẫn hay làm việc xốc vác: trồng trọt, đào xới đất đai… Mặc dù nhà có ít vườn đất, có thể ở không sống dư dả được, nhưng ông vẫn thích hoạt động, tự tay làm lấy những công việc có thể làm.
 
Sực nhớ tới cái giỏ mình mang lên, ông Ba Cang nói:
 
- À, má các con gởi cho một giỏ đồ đó: Đâu vài lít nếp, dăm ba thứ trái cây, một cặp gà…
 
Mấy đứa cháu nội nãy giờ vẫn đứng ngồi vây quanh ông, một đứa lên tiếng:
 
- Còn có một bọc kẹo chuối nữa ông nội!
 
Ông Ba Cang cười:
 
- Vậy ra bây đã soạn coi kỹ rồi hả? Ừ, có một bọc kẹo chuối, phần đó của ông nội. Qua ngang bến bắc Mỹ Tho, ông nội mua làm quà cho bây đó, chia nhau đi!
 
Bọn trẻ reo cười:
 
- Hê hê! Khoái quá!
 
Ông Ba Cang hỏi con trai:
 
- Tụi nhỏ lóng rày học hành ra sao?
 
Thầy Hai Trường:
 
- Dạ, tụi nó học khá hết ba. Chỉ trừ một đứa.
 
- Đứa nào tệ vậy?
 
- Thằng Hùng, cháu đích tôn của ba chứ ai! Nó thi vô đệ thất trường công rớt lên rớt xuống, phải học trường tư, lại cứ làm biếng, học dở chẳng ai bằng. Lớp năm mươi mấy học trò, ít khi nó vượt khỏi hạng năm mươi! Xem ra nó tối dạ quá, lại thêm tật biếng nhác, rầy mắng thế nào cũng không sửa!
 
Ông Ba Cang ha hả cười:
 
- Cái thằng thiệt!...
 
Vợ chồng thầy Hai Trường có tới bảy đứa con. Hùng là đứa thứ ba, nhưng kể về con trai thì cậu là con trưởng của hai ông bà. Năm nay cậu 14 tuổi, học lớp đệ lục.
 
Thầy Hai Trường hỏi cha:
 
- Ba không bực về chuyện dở tệ của thằng Hùng?
 
- Bực gì mà bực? Nó đã vậy biết làm sao?
 
Thầy Hai Trường bảo vợ:
 
- Ông già kỳ ghê, về vụ học hành, ổng khó với con lại dễ với cháu! Hồi trước tui mà bỏ bê chuyện học thì phải biết, ổng cho ăn đòn nứt đít ra!
 
Ông Ba Cang cười:
 
- Con là con của ba, ba phải lo. Còn thằng Hùng là con của con, do con liệu lấy, nó tốt xấu thế nào thì con chịu, chứ ba lo nữa làm chi cho mệt?
 
- Ba nói phải! Con thiệt tệ quá, chẳng bằng ba chút nào! Ba đã uốn nắn cho con nên người, còn con, với thằng Hùng, lại không sao làm được như vậy!
 
- Nói ngay, ba chỉ có một mình con nên lo cũng dễ. Còn bây giờ khác, con cái đông, làm sao chăm sóc kỹ từng đứa được?... À, mà thằng Hùng biếng học, nhưng có lêu lổng nhập bè nhập đảng với tụi du đãng cao bồi không? Ba nghe nói con nít trên nầy hay có cái đó.
 
- Dạ, chuyện đó thì nó không dám.
 
- Vậy cũng tốt. Chuyện nó học dở, không hề gì đâu!
 
- Sao lại không hề gì ba?
 
- Để ba tính coi nà!...
 
Ngẫm nghĩ giây lát, ông Ba Cang quay hỏi Hùng, nãy giờ vẫn ngồi kế bên ông, cúi gầm đầu, mặt bí xị vì bị chê bai:
 
- Hùng à, con liệu học hành chữ nghĩa nuốt khó vô phải không?
 
Hùng làm thinh, cười gượng gạo. Ông Ba Cang lại hỏi:
 
- Con có muốn về quê ở với nội không? Ở với nội khỏi phải đi học.
 
Hùng sáng mắt:
 
- Dạ… sợ ba má con hổng cho!...
 
Hùng vốn chuộng làng quê, thỉnh thoảng được về quê chơi, cậu đã thấy vui thú lắm. Bây giờ nếu cậu được về ở luôn đấy, thật còn chi thích bằng? Ngoài ra, sống gần ông nội bà nội, hẳn cậu sẽ được sung sướng. Cậu vẫn biết hai ông bà rất thương cậu. Có thể nói là trong đám cháu nội, cậu được hai ông bà cưng nhất. Cháu “đích tôn” mà! Ở nhà, cha mẹ câu cũng yêu thương chăm sóc cậu nhiều đó, nhưng anh em đông, cậu có cảm tưởng như mình bị tranh giành, chia sớt bớt, không được đầy đủ chút nào. Đã vậy, cậu còn hay bị rầy mắng luôn về vụ học hành nữa. Chán ghê! Về ở với nội, nội cái chuyện khỏi đi học, cậu đã thấy khoái. Tuy nhiên, như cậu nói, biết cha mẹ cậu có chấp thuận điều ấy hay không?
 
Quả đúng như Hùng Lo, thầy Hai Trường nhăn mặt nói với cha:
 
- Không được đâu ba ơi! Ba cho nó về quê ở, bỏ học, rồi lớn lên nó làm cái nghề ngỗng gì?
 
Ông Ba Cang:
 
- Vậy chứ ở trên nầy nó không chịu học, rồi tự nhiên nữa lớn nó nên hả? Cứ giao nó cho ba, ba liệu sao được thôi.
 
Cô Hai Trường xen vào:
 
- Thôi, chuyện đó để rồi tính lại. Bây giờ thưa ba đi thay đồ, tắm rửa, nghỉ ngơi cho khỏe rồi dùng cơm. Bữa nay mời ba thử thưởng thức cơm do con Hạnh, cháu nội lớn của ba nó nấu.
 
Ông Ba Cang vuốt râu cười to:
 
- Cha! Cô Hạnh nấu cơm thì khỏi chê rồi! Cơm nấu lớp trên sống, lớp giữa nhão, lớp dưới khê đó phải không Hạnh?
 
*
 
Quới Sơn, ngày 15 tháng 3 năm 1950
 
   Kính thưa ba má,
 
  Con về quê ở với ông nội bà nội lụi hụi đã ngót tháng. Bữa nay con viết thơ nầy gởi về thăm ba má và kể chuyện con ở dưới quê cho ba má nghe.
 
Thưa ba má, lóng này chắc ba má vẫn mạnh? Chị Hạnh, chị Thảo với mấy em con vẫn như thường? Từ lúc con đi rồi, nhà có chuyện chi lạ không ba má? Hổng có con, trong nhà thấy có thiếu vắng chút chi chăng? Điều con biết chắc là ba má khỏi còn mỏi miệng rầy la hoài hoài vì sự phá phách, lỗi lầm của thằng con hư tệ nầy nữa. Nghĩ lại con thấy mình cũng kỳ ghê! Hồi nào tới giờ con sống dưới sự nuôi nấng đùm bọc của ba má, vui vầy cùng các chị các em, nay khi không ưng chịu về ở luôn với nội hà! Ba má, các chị các em có cho con là hổng tốt không? Mọi người có phiền trách, giận ghét con lắm không? Sự thiệt con vui vẻ theo ông nội không phải vì hổng biết thương ba má, các chị các em mình. Cũng không phải con muốn trốn tránh việc học tập đâu. Con nhận thấy như vầy nè: Nếu mình đi khỏi thì ba má được rảnh trí phần nào, các chị các em mình sẽ được nhường lại tất cả những gì mà ba má vẫn dành cho mình thường khi. Bởi vậy, con không do dự nhận lời ông nội biểu liền đó! Xin ba má hiểu cho con mà tha lỗi và đừng có hổng thương con nữa tội nghiệp! Xin chị Hạnh, chị Thảo, mấy em thông cảm giùm Hùng!
 
Ba má ơi, về đây con thấy khỏe lắm! Con không phải lo việc gì. Ông nội bà nội không biểu con làm công chuyện chi hết, thỉnh thoảng chỉ sai vặt chút đỉnh thôi. Con đi chơi thả cửa. Con làm quen được nhiều đứa bạn mới. Tụi nó giúp con tìm được rất nhiều thú vui.
 
Ở vườn thiệt mát mẻ vô cùng. Cây ở trên đầu, cây ở dưới chân, cây ở quanh mình, xúm nhau che ánh nắng. Con nghĩ rằng, miệt nầy là giang sơn của cây cỏ, con người ít xịt, chỉ ở đậu chúng thôi.
 
Cây ăn trái ở đây không thiếu gì, vườn của ông nội thì ít, chỉ có dừa, chuối, chứ vườn của tụi bạn con cả đống đi! Tụi nó rủ con lại nhà tụi nó chơi, đãi trái cây cho ăn đã thèm.
 
Muốn giải khát thì uống nước dừa xiêm. Tụi bạn con thằng nào leo dừa cũng cừ. Muốn leo lên ngọn dừa bẻ trái, tụi nó thắt một cái vòng bằng dây chuối, mắc vô hai bàn chân, bám vô thân dừa leo lên rất mau, rất dễ dàng. Tụi nó bẻ ăn mỗi lần không chỉ một hai trái mà cả quài lận. Dừa xiêm thiệt trái nhỏ, cơm mỏng, nhưng nước ngọt ghê. Dừa xiêm lai không bằng được. Dừa ta thì trái bự cồ, cơm dầy , mà nước lạt, hơi the the, kẹt lắm tụi con mới bẻ xực.
 
Muốn ăn trái ngọt thì có mãng cầu ta, mít… Con khoái nhất là mít. Cây mít có trái đeo từng chùm quanh thân, trông như mang bị. Lúc chín, trái mít bay mùi thơm phức, đi xa đã ngửi thấy. Hái xuống xẻ ra, bên trong trái mít múi chen với xơ, no mướt, vàng tươi, trông dễ thèm. Mít ngon ăn ngọt lịm, xực hết múi, con còn chưa đã, lựa quất luôn mấy cái xơ cái. Mít thường phải ăn với muối gừng mới đúng điệu. Mít ăn rồi còn hột, đem nấu ăn bùi bùi, cũng không kém ngon.
 
Muốn ăn trái chua thì bưởi, ổi, cóc… không thiếu đó. Tụi con ưa làm muối ớt, hay kiếm mắm ruốc, đem ra vườn, thót lên cây hái trái xuống, xúm ăn tại gốc. Thích lắm, vui lắm, ba má ơi!
 
Nhiều khi muốn đổi món lạ, tụi bạn kêu con ra bờ sông, hoặc đi dọc theo mé rạch tìm bần, dừa nước. Bần chua lè, dừa nước lạt nhách, hai thứ nầy hổng mấy ngon, nhưng nhờ vui, tụi con hổng từ, kiếm được bao nhiêu chia nhau ăn sạch bách hết trọi!
 
À, con còn quên một món ăn đặc biệt nữa, đó là tổ ong ruồi. Thường thường ong đóng tổ ở trên tàu dừa cao. Nhưng có khi chúng cũng đóng ở trong bụi rậm dưới thấp. Có lần con theo một thằng bạn lấy tổ ong trong một bụi cây. Nó lượm vỏ dừa khô đốt lên, un khói mù mịt, kê ngay tổ ong. Ong say khói rớt hết, nó dùng dao cắt lấy tổ một cách dễ dàng. Con đứng gần coi nó làm, ai dè bị mấy con ong tỉnh khói bay “đánh”, chạy muốn chết luôn!
 
Còn rất nhiều món quà quê ngon lành nữa, nhưng thôi, con không kể ra hết làm chi, sợ chị Hạnh, chị Thảo, mấy em con đọc thấy, thèm le lưỡi tội nghiệp!
 
Thơ đã khá dài, tuy con còn muốn viết nữa, nhưng nắn nót nãy giờ đã mỏi tay lắm. Vậy con xin dừng bút nơi đây và hẹn thơ sau kể tiếp.
 
   Kính chúc ba má, các chị các em vui mạnh.
 
Kính thơ, HÙNG   
 
T.B. – Ba má đọc thơ con viết thấy thế nào? Khá khiển hôn? Con không ngờ mình viết thơ được dài như vậy. Viết xong đọc lại, con thầm phục mình lắm. Ba má hổng biết chứ con tuy học dở, nhưng riêng về môn luận cũng thuộc vào hạng khá trong lớp. Luận của con thầy thường khen có nhiều ý, tuy lời văn không được trau chuốt. Trong các môn học, con thích môn luận nhất. Phải chi chương trình học chỉ có môn luận không thôi thì con không ngán chút nào! Luận văn nghĩ sao cứ viết ra như vậy, có khó chi? Mấy môn khác thì cần trí nhớ, trí suy nghĩ, rắc rối quá cỡ thợ mộc!
 
*
 
Quới Sơn, ngày 28 tháng 4 năm 1950
 
   Ba má thương kính,
 
  Hôm trước con có gởi về nhà một lá thơ, hổng biết ba má có nhận được không mà chẳng thấy trả lời? Hôm nay con viết thêm thơ nầy kể tiếp vài thú vui ở nhà quê, về đây con được hưởng.
 
Trước hết để con nói về chuyện chim chóc nha! Cây cối ở vườn qui tụ chim chóc đủ các loại, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Từ sáng tới chiều, bất cứ lúc nào cũng thấy chúng bay lượn, nhảy chuyền trên cành cây, đậu trên nóc nhà, bay lên đáp xuống đất. Mỗi thứ chim một giọng, chúng kêu hót vang rân. Tiếng hót của muôn chim, nếu để ý, nghe cũng ồn ào lắm. Nhưng đó đều là những âm thanh êm tai, nên dễ làm người ta quên lửng, tưởng như không có, và không khí thôn quê tựa hồ yên tĩnh hoàn toàn.
 
Có mấy con cu đất gáy “cúc cu” suốt buổi. Con nầy ở đầu nầy gáy, con kia ở đầu kia nghe tiếng tức khí cũng gáy vang lên. Không biết chúng thách thức hay chửi mắng nhau cái quái gì, mà càng gáy chúng càng tức giận, xáp lại gần, đá nhau phành phạch trong chòm lá.
 
Có mấy con trao trảo kêu dòn như tiếng cười vui. Trái cây chín ở đâu là có chúng ở đó hà!
 
Sáo, cưỡng thường bay cả bầy, ca hót líu lo. Có một cặp sáo đóng tổ trên ngọn dừa lão phía trước nhà nội. Con bắt gặp hằng ngày chúng tha rơm rác về đấy. Con cho tụi bạn con biết. Tụi nó bảo cứ để yên, đợi có sáo con trọng trọng rồi leo lên bắt nuôi, lột lưỡi, dạy biết nói. Chiều nào con cũng ra rình xem cặp sáo làm việc. Con nghĩ đến mấy con sáo mai kia mốt nọ con sẽ có để nuôi. Con sẽ dạy chúng kêu “ba ba, má má” như con nít vậy. Con sẽ gởi tặng các em con một con, chắc tụi nó mừng hết lớn!
 
Kẻ thù của gà vịt là diều, ó, quạ… Quạ nhiều nhất, con nào con nấy đen thui, xấu xí như “ma lem”. Chúng cứ lượn quanh nhà, rình rập bắt gà con vịt con. Lũ gà vịt cũng khôn ngoan lắm, nhất là gà. Có một lần con thấy một con quạ sà xuống gần một bầy gà con. Con gà mẹ ré lên mấy tiếng báo động. Lập tức lũ gà con phóng vô mấy đống rác nằm im thin thít. Nhưng con quạ tinh mắt không tha, đâm bổ xuống xớt một chú gà con nằm ngay chỗ trống. Con gà mẹ kinh hoảng quát lên, nhào lại đá “tên mọi chim” tưng bừng. Bấy giờ, con cũng vội chạy ra tiếp cứu mẹ con nó.
 
Chim chóc nhảy múa ca hót suốt ngày, xem ra rất vui vẻ vô tư. Nhưng sự thiệt lúc nào chúng cũng nơm nớp lo sợ, bởi những tai họa bất tử do con người gây cho chúng. Mối kinh mang lớn nhất cho chúng là bọn nhỏ tụi con nè. Hết mang ná thung lùng bắn chim, tụi con lại rủ nhau “gác chim”, bắt sống. Tụi con kiếm mủ mít, nấu lại thành một chất keo rất dính, thoa lên đầu một nhánh cây, đem cắm ở chỗ có nhiều chim nhất. Chỗ đầu nhánh cây có thoa keo, tụi con cột một con chim mồi. Con chim mồi “chít chét” kêu cứu om sòm, chim ở xung quanh bu lại “hỏi han”, và bị dính chân vào mủ mít, như ruồi mắc vào lưới nhện, vùng vẫy cách mấy cũng khó thoát. Tụi con núp ở gần đó, liền chạy ra bắt, khoái chí vô cùng!
 
Bắt chim chán, tụi con lại bày đặt đi đổ dế. Trong vườn có những con dế giồng lớn bằng ngón tay cái, đào hang ở sâu dưới đất. Tụi bạn con la, bắt chúng dồn đậu phọng vào bụng, chiên ăn rất ngon. Con chưa thưởng thức qua món ấy, nhưng nghĩ ăn gì mà ớn quá vậy, con không dám rớ đâu! Con theo tụi bạn bắt dế chỉ để đá lộn chơi thôi. Dế giồng bắt dễ ợt, cứ tìm hang chúng, múc nước đổ xuống. Bị ngộp chúng chui lên, tụi con chộp đầu liền. Có kỳ, tụi con gặp một hang dế to, đoán chắc con dế ở bên dưới phải lớn lắm. Mừng rỡ, tụi con múc nước đổ, và bu quanh chờ. Chỉ một lúc sau, từ dưới hang, một cái đầu ló lên “trình diện”. Thay vì chụp bắt, mạnh đứa nào đứa nấy co giò chạy, hết vía hết hồn: Không phải đầu dế mà đầu con rắn!
 
À, xa xa, phía sau vườn nội là con sông Tiền Giang. Sông lớn ghê hén ba má! Nếu không có những cù lao nổi lên ở giữa sông, chắc sông trông rộng lắm, bờ bên nầy nhìn bờ bên kia mút mắt chứ phải chơi sao!
 
Có lúc sông như nổi giận, dậy sóng nhấp nhô. Sóng xô giữa dòng, sóng vỗ vào bờ, rào rạt. Ghe xuồng xuôi ngược, chiếc nào trông cũng thiệt khẵm, trồi lên hụp xuống theo từng đợt sóng, như cứ chực chìm, thấy sợ ghê! Có lúc sông cũng trôi chảy hiền lành, sóng chỉ gợn nhẹ, đưa những dề lục bình nở hoa tím, dật dờ trôi mãi về phương nào không biết. Nước sông khi thì đục ngầu phù sa, khi cũng khá trong, buổi trưa lấp lánh dưới ánh nắng chói lọi, buổi chiều nhuộm bóng hoàng hôn lạnh lẽo, u buồn. Gió sông lộng thổi hoài hoài, xao xác lùa qua mấy rặng bần xanh, thiệt mát mẻ.
 
Chiều chiều tụi bạn con hay kéo nhau ra mé sông tắm, bơi lội, đùa giỡn với sóng nước. Tụi nó đứa nào cũng lội giỏi như rái vậy. Con không biết lội nên chỉ dám lặn hụp ở trong rạch nhỏ chạy ngang qua nhà thôi, và luôn luôn phải có bẹ dừa nước kẹp bên mình. Sau, tụi bạn con dạy con lội. Con tập hổng bao lâu cũng biết lội chập chũm, mừng hết sức! Ngoài ra, con còn được tụi bạn chỉ cách bơi xuồng nữa. Hồi không biết bơi thì thấy khó, loay hoay cứ làm mũi xuồng đâm bậy bạ, chừng biết rành rồi thì thấy dễ còn hơn đi xe đạp nữa đa!
 
Dưới sông rạch, ao đầm, tôm cá rất nhiều. Buồn buồn con hay xách cần câu ra vườn câu cá bống dừa, với cục mồi to tướng bằng trùng luồn, không có lưỡi câu. Nước lớn thì con ra bờ rạch câu cá lòng tong, với mồi bằng cơm nguội trộn cám và lưỡi câu bằng cây kim gút uốn cong. Tụi bạn con lại rủ con sắm cần câu cắm, tối đến bơi xuồng đi cắm dọc theo bờ sông rồi còn làm “nò”, làm “đó” nhỏ bắt cá nữa. Tụi con chỉ làm với ý vui chơi, nhưng lắm lúc cũng được nhiều tôm cá, có con rất bự. Mỗi lần như vậy, tụi con reo hò, thích thú ghê nơi!
 
Vừa viết đến đây tụi bạn con lại đến rủ đi chơi, con xin tạm chấm dứt. Con không thể bỏ những dịp đi chơi cùng tụi bạn, vì thường thường tụi nó bận luôn: Đứa giữ em, đứa phụ ba má làm lụng ngoài vườn… Những khi rỗi rảnh cho tụi nó cùng con rong chơi như bây giờ không phải là lúc nào cũng có, nên đã có dịp thì bỏ qua cũng uổng lắm.
 
Nhận được thơ con, xin ba má trả lời con mừng nghen ba má!
 
Kính thơ,  
Hùng     
 
*
 
Quới Sơn, ngày 25 tháng 5 năm 1950
 
   Kính thưa má,
 
Con vừa nhận được thơ của má. Trong thơ má rầy con sao cứ thấy kể chuyện ăn chơi suốt ngày hà! Vậy chứ má biểu con làm gì khác hơn? Ông nội bà nội hổng sai con giúp việc chi hết. Nếu tối ngày cứ bắt con ngồi ở không trong nhà hoài, thiệt buồn chán thấy mồ đi! Bởi vậy con phải đi chơi, theo tụi bạn tìm thú vui đó chứ! Má đừng lo, các trò chơi của bọn trẻ dưới quê rất lành mạnh, không làm cho con lậm thói xấu, sinh hư đốn đâu. Tụi bạn con đứa nào cũng ngay thật hiền lành, chơi với tụi nó có chi tai hại?
 
Nhưng thưa má, đó là nói chuyện lúc trước kìa, chứ bây giờ thì khác rồi má ơi! Gần đây con đã có công việc làm, không phải “ăn không ngồi rồi”, vô tích sự nữa. Má biết con làm những gì chăng?
 
Trước hết là việc con phụ giúp ông nội bà nội trong các kỳ vườn dừa tới lứa, có trái khô giựt xuống bán.
 
Giựt dừa vui lắm má! Má không có ở vườn nên không biết, chứ ba thì chắc rất rành. Người ta giựt trái dừa trên ngọn xuống bằng mấy cây sáo dài, đầu có lưỡi câu liêm rất bén. Cây sào rất nặng, quặt quà quặt quại, dễ ngã, phải “nghề” lắm mới sử dụng được. Nội cái làm thế nào đưa lưỡi sào vào ngay buồng dừa nằm khuất trong các bẹ lá đã khó. Dừa giựt xuống văng tứ tung, phải có người lượm gom lại từng đống nhỏ, dọc theo các bờ dừa. Một hai người lãnh gánh dừa đó đem đổ dồn thành đống lớn, cho người lột dừa lột vỏ. Người ta lột vỏ dừa bằng cây nầm to, một đầu cắm xuống đất, một đầu có mũi nhọn bịt sắt sáng trưng, sắc bén, chĩa thẳng lên trời. Dừa lột xong được đập bổ đôi, nước dừa có người xin đem về nấu nước màu. Chủ lò dừa nhận mua dừa đếm dừa đã đập, cho người gánh về lò ngay lúc đó. Dừa bán tính giá theo từng “trăm”, chủ vườn và chủ lò dừa đã thương lượng trước. Mỗi “trăm” dừa có 120 trái.
 
Mọi người rộn ràng làm việc. Tiếng cười nói, tiếng dừa rụng lịch bịch, tiếng đập lốp bốp… rộn rã vui tai. Chim chóc, sóc chuột phải một bữa kinh hoàng!
 
Nãy giờ con chưa nói tới công việc của con. Phần con lãnh lượm dừa sót. Người ta gánh đám dừa gom trên các bờ đất xong hết, con phải đi qua sau một lượt, lùng kiếm mấy trái do người lượm hay người gánh làm bỏ sót lại. Dừa lượm bằng cây chĩa dài, cán tầm vông, mũi sắt. Cây chĩa còn dùng để chống nhảy mương. Mấy người lượm dừa ở đây chống chĩa nhảy mương rất tài. Con bắt chước, bị té lấm lem. Lúc rảnh việc, con lại chỗ người ta đập dừa, xin dừa “trăn ăn”, hoặc mấy cái mộng to, ăn đã thèm. Trái dừa “trăn ăn” là trái dừa gần như hư, nước ít, cơm lồi lõm không đều, nhưng ăn rất ngọt, như có trộn đường vậy.
 
Đó là công việc mỗi tháng chỉ có một lần thôi. Mấy bữa nay ông nội còn bắt con phụ một công việc lâu dài khác, không biết chừng nào mới xong đó má!
 
Số là mé bãi phía sau nhà nội, sông bồi đất phù sa ra thêm được rất xa. Phần đất ấy đến nay coi bộ đã cao và chắc. Ông nội mướn người xẻ mương, đắp bờ, nhưng chưa trồng trọt chi hết, còn để cỏ mọc um tùm. Một chiều, ông nội dẫn con ra đấy thăm. Ông nội nói:
 
- Mai mốt ông cháu mình sẽ dọn miếng đất nầy lập vườn. Công chuyện có thành hay không, cũng trông cậy vào con hết đó!
 
Con cười, tưởng ông nội nói đùa. Ai dè mới đây, ông nội lại làm thiệt, mỗi ngày bắt con phải theo ra đấy làm cỏ, dọn gai góc. Ông nội không biểu con làm nhiều, mệt thì cứ ngồi nghỉ, nhưng không cho bỏ đi chơi đâu. Kỳ thấy mồ!
 
Đó, con đã làm việc như vậy đó, má bằng lòng hay chưa? Sau mấy bữa qua dang nắng chặt cây nhổ cỏ, mình mẩy tay chân con rêm hết rồi nè! Bắt đền má đó!
 
Con của má,   
Hùng         
 
*
 
Quới Sơn, ngày 20 tháng 7 năm 1950
 
  Nhận được thơ nầy, xin ba má xuống rước con về Sàigòn liền thôi! Con không chịu được nữa. Ông nội hành hạ con quá xá rồi đó! Ở đây thêm vài tháng nữa chắc con chết mất!
 
Trong lá thơ con gởi cho má vào hai tháng trước, con có nói chuyện ông nội bắt con sửa soạn miếng đất mới phía sau nhà. Đó rồi, mới làm đâu được vài ngày, con ngã bệnh, phải nghỉ. Bà nội rước thầy coi mạch, hốt thuốc Bắc cho con uống. Hồi nào tới giờ hễ bịnh, ba má cứ cho con uống thuốc Tây, chứ đâu có dùng thuốc Bắc. Bây giờ nếm qua thuốc Bắc, con ngán ngược. Thuốc đen quánh, vừa đắng vừa hôi, mỗi một lần con phải uống cả chén đầy. Hớp vô một hớp thuốc con đã muốn phun ra, nhưng cũng rán uống. Thuốc coi vậy mà hay, nó đẩy lui cơn bịnh của con một cách nhanh chóng.
 
Mạnh trở lại, con tưởng ông nội không nỡ bắt con làm lụng nữa. Ai dè ổng chỉ cho con nghỉ dưỡng sức vài bữa, rồi lại ra lệnh cho con tiếp tục công việc đã giao. Con nói con còn yếu lắm, năn nỉ xin được nghỉ thêm ít lâu, ông nội vẫn gạt ngang, không thương xót. Ba má nghĩ coi, cả một khu đất rộng, cây hoang cỏ dại mọc trạc hà, ông nội chỉ mướn thêm một người phát dọn phụ một ít, còn bao nhiêu thì con với ổng phải dọn cho sạch, con liệu con làm sao cho nổi? Nhưng không nổi bắt buộc phải nổi, ông nội biểu vậy! Càng lúc ổng càng gắt gao với con. Con phải làm việc ngày nầy qua ngày khác. Khi nào làm, con phải làm miết, không được ngừng tay, khi nào ổng cho nghỉ, mới được nghỉ. Trái lời con bị ổng la ó rầy mắng chịu hổng nổi thôi!
 
Dọn sạch miếng đất xong, ông nội lại bắt con bang sửa lại các bờ đất cho bằng phẳng, rồi đem trồng các loại cây ăn trái lên. Nào mãng cầu, sầu riêng, mít, xoài… đủ thứ hết. Loại nào cũng trồng bằng hột ươm lên cây, chứ không trồng cây chiết hay tháp. Ông nội nói, trồng như vậy lâu có ăn, nhưng cây lâu cỗi.
 
Xong chuyện đó, đâu phải là hết việc, hằng ngày con còn phải chăm sóc, bón phân, vun gốc, tưới nước hoài hoài. Cây nào yếu, chết, phải thay ngay.
 
Không chỉ lo lập miếng vườn mới không thôi, ông nội còn ra lệnh cho con phải bồi đắp lại khu vườn dừa đã có từ lâu nữa. Ổng sai con đem dừa con trồng cạnh mấy gốc dừa lão. Ổng định đợi cho dừa con lớn mạnh, sẽ đốn dừa lão đi. Làm như vậy cho khu vườn tránh được sự cằn cỗi.
 
Ngoài chuyện làm vườn, ông nội còn bắt con đóng lại chuồng heo, cất thêm chuồng gà, mua thêm heo gà vịt ngỗng cho con phụ nuôi với bà nội. Thiệt là đủ công việc cho ông nội sai khiến con! Ông nội làm như con là nhân công của ổng không bằng! Ba má coi có khổ cho con không?
 
Bà nội thương con cực nhọc thường nói với ông nội nương tay giùm, nhưng ổng đâu có đếm xỉa. Lắm lúc con muốn bỏ việc, cãi lại ổng. Nhưng phần nể nang, phần trông tướng tá điệu bộ của ổng quá dữ dằn, con không dám hó hé. Con không ngờ ông nội lại xử tệ với con đến như vậy!
 
Con hiểu rồi ba má ơi! Ông nội kêu con về quê ở chung, đâu phải vì thương yêu, muốn có con gần gũi hủ hỉ. Ổng hà tiện, bắt con về làm lụng cho ổng, đỡ mướn người giúp việc tốn tiền đó mà! Hồi trước con thương kính ông nội bao nhiêu bây giờ con ghét ổng bấy nhiêu! Nói ra không khỏi bị má rầy, nhưng thiệt tình lòng con thấy như vậy, con không giấu giếm.
 
Làm lụng cực nhọc, tự nhiên con thấy con có lỗi nặng với ba má. Hồi ở nhà ba má có sai con một việc nhỏ, con cũng vùng vằng không muốn làm, sanh nạnh chị em. Bây giờ thì cho biết chừng!...
 
Con cũng tiếc hồi đi học quá! Đi học sướng biết bao! Ngày lại ngày chỉ có ăn rồi lo chuyện sách vở, không phải làm gì cực thân. Vậy mà con lại không chịu học, mới điên chứ! Ba má cho con trở về Saigon , con sẽ đi học lại, con hứa chăm chỉ cố gắng hết mình!
 
Ba má xuống rước con về liền nghen ba má! Con có thể trốn đi được đó, nhưng sợ ông nội nói với ba má từ con luôn thì chết. Con biết ba má vẫn hay vâng lời ông nội mà!
 
Gởi thơ nầy đi, con trông ba má từng phút từng giờ. Ba má thương con xin xuống gấp!
 
Con dại,    
HÙNG      
 
*
 
Từ Sàigòn đi xe lửa xuống Mỹ Tho, qua bến bắc Rạch Miễu, hai cha con thầy Hai Trường bao xe lôi tới Quới Sơn. Thứ xe nầy gọi là xe lôi thật đúng. Nó là chiếc xe gắn máy, lôi phía sau một cái thùng có hai bánh dùng làm chỗ hành khách ngồi. Người ở đây còn gọi đùa là xe tàu mo, cũng chẳng mấy sai. Nó tương tự như cái mo cau, con nít ở vườn hay lấy chơi trò xe kéo. Một đứa lo ngồi lên tấm mo, một đứa nắm cuống mo kéo chạy.
 
Đường về làng trải đá mấp mô, xe chạy dằn xóc dữ, như cứ chực tung hành khách xuống. Tiếng máy nổ, tiếng thùng xe khua lèn xèn thật inh tai. Bụi lốc phía sau mù mịt.
 
Xe băng qua vùng đồng trống, trời nắng chang chang, gió thổi hiu hiu không đủ xua nóng bức. Từ bác phu xe cho đến hành khách, mặt nhăn lại dưới ánh nắng chói lọi, mồ hôi chảy dài.
 
Xe rẽ vào vườn, mọi người mới thấy dễ chịu. Con đường được cây cối tranh nhau gie tàng che bóng mát. Mặt trời khuất sau ngàn lá, ánh nắng như được lọc bớt, dịu đi nhiều.
 
Dũng, đứa con thứ tư của thầy Hai Trường, nãy giờ ngồi im, mày cau, mắt híp, giờ mới thấy khoan khoái, chỉ trỏ hai bên đường không ngớt hỏi cha nầy nọ. Đây không phải là lần đầu được về quê, nó không lạ gì cảnh trí đang tuần tự diễn ra trước mắt. Nhưng tánh con nít nó hay thắc mắc hỏi han.
 
Phần thầy Hai Trường lại càng quen quá với cảnh vật nơi nầy. Lúc nhỏ thầy sống ở làng với cha mẹ. Sau thầy lên Sàigòn học, đi làm, rồi lập gia đình ở luôn trên ấy. Thầy đã biến thành dân thành phố lâu rồi, nhưng có bao giờ quên được làng quê? Cảnh trí ở đây, thầy xem có cái gì thân thiết lắm, mỗi lần trở về gặp lại, thầy vui thích nhiều. Ngồi trên xe ngắm nhà cửa vườn tược chạy dài hai bên, thầy nhớ chuyện hồi nhỏ, trong lòng chợt nghe sống lại cái thuở còn là một chú bé quê, quanh quẩn trong vùng vườn tược ruộng đồng vui tươi như con chim sáo. Thấm thoát mà thầy đã trọng tuổi, thay đổi nhiều. Trong khi đó, cảnh quê vẫn vậy, tươi mát nên thơ! Con người so với thiên nhiên, thật không ra đám ôn gì! Ngẫm nghĩ, tự nhiên thầy cảm thấy bâng khuâng, mừng mừng, tiếc tiếc thế nào ấy!
 
Về thăm quê, thầy Hai Trường còn nghe lòng vui rộn, vì được gặp cha mẹ thầy, cùng vui vầy sống lại vài ngày dưới mái nhà cũ kỹ thân yêu, đã chứa chấp biết bao kỷ niệm. Từ khi khôn lớn, bận việc làm ăn, bận chuyện gia đình, ít khi thầy được về thăm cha mẹ, lắm lúc nghĩ lại thầy không khỏi buồn. Hồi còn trẻ, thầy vẫn toan tính rằng, nữa sau làm nên sẽ ra công báo hiếu, đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của cha mẹ mới nghe. Nhưng lớn lên, lập gia đình thầy phải lo cho vợ cho con, có giúp đỡ được hai ông bà chút chi nào? Tuy hai ông bà không cần sự giúp đỡ của thầy cũng sống dư dả, nhưng thầy thấy mình chẳng tạo được chi cho cha mẹ thì cũng khó vui. Nhưng biết làm sao hơn bây giờ? Thôi thì ở Sàigòn lâu lâu có món ngon vật lạ nhớ gởi xuống hai ông bà, lúc nào rỗi rảnh thầy rán về thăm nom vậy!
 
Nhưng lần về quê hôm nay, thầy Hai Trường không phải đi với ý định thăm viếng cha mẹ chi đâu. Được thơ của thằng Hùng gởi lên than van, nói bị ông nội hành thân quá, thầy nóng ruột xuống xem sao, xin rước nó trở về Sàigòn đấy. Thầy không biết thằng con của mình có nói thêm nói bớt chi không. Lẽ nào ông già lại hành hạ đứa cháu đích tôn cho đành?
 
Xe tới chợ Quới Sơn, ngừng lại bên nhà lồng chợ. Nhà lồng lợp lá, đổ nát nhiều nơi, mặc tình cho ánh sáng xuyên qua, rơi rớt xuống nền. Mấy cây cột chống làm bằng thân dừa, xiêu vẹo. Bấy giờ chưa mấy trưa, nhưng chợ đã tan mất đất. Xung quanh, nhà cửa hàng quán lèo tèo. Cảnh nghèo nàn buồn vắng làm sao! Tuy nhiên, trong vẻ nghèo, vẻ buồn đó, lại có nét đẹp, nét nên thơ riêng của nó.
 
Xuống xe, hai cha con thầy Hai Trường phải đi sâu vô vườn một đỗi nữa mới tới nhà. Qua mấy cây cầu dừa bắc ngang rạch, thầy phải cõng thằng Dũng, chứ nó sợ cuống chân đi không được. Thằng thiệt tệ! Hồi nhỏ thầy có xem mấy cây cầu nầy ra gì? Muốn qua cầu, thầy chạy te te chứ đừng nói thủng thẳng bước. Nhưng nghĩ cho cùng, con thầy nó dở chuyện đó, thì bù lại, nó biết rất nhiều chuyện khác ở châu thành, mà hồi nhỏ thầy dốt đặc.
 
Qua ngang một khu vườn, thầy Hai Trường nghe có tiếng gọi. Thầy quay nhìn vào: Chú Tư Men, bạn học của thầy hồi nhỏ, đang lom khom phát cỏ. Hai người mừng rỡ chào hỏi lăng xăng. Chú Tư Men trỏ Dũng:
 
- Con của anh đây hả?
 
Thầy Hai Trường gật đầu:
 
- Đứa thứ tư của tui đó đa!
 
- Cha, coi bộ nó giống anh quá! Còn thằng gì ở với bác Ba đó?
 
- Thằng Hùng, con thứ ba của tui, anh có gặp nó hả?
 
- Gặp hoài hà. Cái thằng y hệt anh hồi nhỏ, hiền hậu dễ thương lắm! À, mà sao anh không để nó trên Sàigòn ăn học, lại đưa về quê làm chi cho ông nội nó bắt làm khờ đầu vậy?
 
- Sao? Bộ ba tui bắt nó làm dữ lắm à?
 
- Vậy chứ gì? Ổng bắt nó trồng trọt nầy kia tối ngày đi! Nó là dân châu thành, bắt nó làm vậy thấy cũng tội nghiệp!
 
Kiếu bạn, thầy Hai Trường dẫn con tiếp tục đi. Thầy nghĩ tới lời chú Tư Men. Theo đó thì thằng Hùng nói không sai, ông nội nó bắt nó làm lụng nhiều thật. Sao kỳ vậy cà? Vậy mà ổng nói là ổng cưng nó lắm. Tại “già sanh tật, đất sanh cỏ”, ổng thay đổi tâm tánh đó chăng?
 
Cổng vào nhà ông Ba Cang hiện ra sau một ngõ ngoặc, hai cha con thầy Hai Trường rẽ vào. Theo lối đi quen thuộc, hai bên trồng lan đỏ, thầy Hai Trường và cậu con tiến vào ngôi nhà ngói ba gian quen thuộc, nóc đã rêu phong, vôi tường đã nhạt, cất đâu đã lâu lắm rồi. Một con chó mực xô ra sủa. Bà Ba Cang trong nhà bước ra, reo lên:
 
- Ủa, Hai! Mới về hả con?
 
Thầy Hai Trường cười vui:
 
- Dạ, thì má cũng thấy đó, con mới vừa đặt chân lên thềm đây!
 
Dũng chạy lại ôm bà:
 
- Bà nội!...
 
Bà Ba Cang cúi hôn lên tóc cháu:
 
- Mẹt ơi! Hôi khét nắng quá! Tối ngày ở trển cứ chạy rong ngoài nắng chứ gì?
 
Thầy Hai Trường hỏi:
 
- Ba con đâu rồi má?
 
- Ổng với thằng Hùng cuốc xới gì ở sau vườn á, để má kêu.
 
Nói đoạn, bà Ba Cang bước ra sau hè, gọi lớn:
 
- Ông ơi, có thằng Hai nó về nè!
 
Đang lui cui làm, ông Ba Cang ngưng tay. Phần Hùng, vừa nghe rõ, quẳng cuốc, vụt chạy vào nhà. Cậu mừng vô kể. Cha cậu đã xuống tới, vậy là nay mai cậu sẽ được trở về Sàigòn, rời bỏ những công việc nặng nhọc cậu bắt buộc phải làm mấy tháng nay.
 
Nắm lấy tay cha, cặp cổ em, Hùng tức tưởi kêu:
 
- Ba!... Dũng!...
 
Nước mắt cậu bỗng tràn ra ràn rụa. Làm lụng cực nhọc bấy lâu, buồn tức cậu không biết than vãn với ai. Nay đã có người cho cậu làm nũng, tự nhiên bao nhiêu buồn tủi dâng lên đầy nghẹn. Cậu không nói gì với cha, nhưng những giọt nước mắt đã nói nhiều, bày tỏ tất cả nỗi lòng ấm ức của cậu.
 
Ông Ba Cang thủng thẳng vào sau. Ông cười tươi hỏi thầy Hai Trường;
 
- Về chơi hay có chuyện gì không con?
 
- Dạ… con…
 
Thầy muốn ngỏ ý định rước Hùng về Sàigòn nhưng sao lại thấy ngượng ngập quá! Thầy cho đó là một điều lỗi, như một sự gián tiếp chê trách cha không nuôi con mình đàng hoàng. Thế nên, thầy không biết nói sao cho phải.
 
Ông Ba Cang như đoán biết ý thầy, ông nói:
 
- Có phải thằng Hùng nó viết thơ than với con, ở dưới nầy cực khổ, đòi con xuống rước nó trở về trển đây không?
 
Ông cau mày tiếp:
 
- Con hơi đâu nghe lời nó. Con đã giao nó cho ba thì để mặc ba, đừng có lo gì hết! Ba có làm hại nó bao giờ? Con coi kìa, có phải bây giờ trông nó khác hồi còn ở Sàigòn không?
 
Thầy Hai Trường quay nhìn con. Quả nhiên, thầy thấy nó đen đi nhiều, nhưng có vẻ rắn rỏi mạnh khỏe lắm, không chê vào đâu được. Tuy nhiên, thầy nói:
 
- Con định đưa nó trở về Sàigòn, vì nó muốn đi học lại đó ba!
 
Ông Ba Cang:
 
- Học lại cái gì! Nó đã học dở tệ, mấy tháng nay không rớ tới một cuốn sách, học lại, cố gắng cách mấy cũng trễ, cũng chẳng bằng ai. Thà để nó nghỉ học luôn, phụ làm lụng với ba còn có ích.
 
Im lặng một lúc, ông hỏi tiếp:
 
- Hay là con muốn rước nó về vì cho ba má không biết nuôi dưỡng nó? Vậy chớ hồi trước chắc ba má cũng không biết nuôi con đó hả?
 
Thầy Hai Trường kêu:
 
- Ba! Con đâu dám nghĩ vậy! Thì thôi…
 
Hùng xen vào:
 
- Nhưng, ông nội ơi, con…
 
Ông Ba Cang gạt ngang:
 
- Không có nhưng nhị gì hết, tao nhứt định bắt mầy ở luôn dưới nầy, nghe chưa!
 
Hừng đứng chết đơ, sững sờ. Qua phút đó cậu vụt chạy ra sau hè, khóc to lên.
 
*
 
Chiều xế nắng, rảnh rang, ông Ba Cang và Hùng ra thăm khu vườn mới lập. Ngắm nhìn bao nhiêu cây trồng đều lớn mạnh, tốt tươi, hai ông cháu thấy vui sướng lắm. Mặc dầu còn rất lâu chúng mới đâm bông kết trái được, nhưng sự tươi tốt hôm nay, chúng cho thấy chắc chắn một kết quả tốt đẹp ở ngày mai. Như vậy, công lao vun trồng của hai ông cháu bấy lâu thật không uổng phí chút nào!
 
Ngắm nghía một gốc xoài tơ, Hùng nói với ông Ba Cang:
 
- Ông nội coi cây xoài nầy sao nó lên nghiêng triền vầy nè? Để mai con bứng trồng lại mới được.
 
Ông Ba Cang nói:
 
- Thây kệ nó con, hơi đâu mà sửa cho mệt! Miễn nó lớn mạnh là tốt lắm rồi! Mai mình còn lo công việc khác.
 
- Công việc chi ông nội?
 
- Mướn người đốn mấy cây dừa lão. Dừa tơ mình trồng thay thế chúng đã lớn hết rồi, con thấy không?
 
- Cần gì phải mướn người khác đốn, con với ông nội đốn không được sao?
 
- Thôi đi, làm quá sức có hại con à!
 
- Ông nội lóng rày kỳ quá, cứ tránh việc cho con, không như hồi trước!
 
- Thì chính con cũng kỳ vậy chứ, mấy lúc gần đây ông nội có sai đâu, mà cũng cứ kiếm chuyện làm hoài!
 
Một năm qua, quả nhiên có nhiều thay đổi. Từ sau ngày xin trở về Sàigòn không được ông Ba Cang thuận, Hùng thay đổi thái độ, chịu khó làm lụng, không thèm phàn nàn chi nữa. Cậu nghĩ, cha cậu đã không chịu rước cậu về Sàigòn, ông nội cậu đã quyết bắt cậu ở luôn dưới quê để giúp việc cho ông, cậu có không muốn, cũng không biết làm sao hơn, thôi thì đành chịu vậy! Nhưng nếu cậu nhận chịu cảnh sống nầy với sự buồn chán mãi thì chỉ khổ mình chứ chẳng ích chi. Phiền não là điều cậu không bao giờ thích. Vậy đâu cậu thử vui sống lên coi, thử nhận chịu làm việc theo sự sai bảo của ông nội cậu coi!
 
Thế rồi, Hùng đã cố gắng thực hành điều mình toan tính. Bản tính cậu vốn ham thích hoạt động nên khi đã sẵn sàng làm việc thì chẳng thấy gì khó khăn mệt nhọc quá như lúc trước. Vả lại, cậu nhủ thầm: tại sao bao nhiêu đứa bạn quê của mình cũng thường làm những công việc xốc vác như mình vẫn nổi, mình lại cho rằng không? Mình yếu kém hơn tụi nó lắm sao? Không, mình nhứt quyết không thua thằng nào!
 
Lạ thay! Càng chú tâm làm việc, Hùng càng tìm thấy trong công việc lắm điều vui thú, nỗi vui thú tỏ ra mình hữu dụng, nỗi vui thú hoàn thành công việc… Và cậu đã được vui thật tình. Cũng ngộ! Kể từ đó, ông nội cậu cũng dễ dãi dần với cậu đi. Ông không gắt gỏng rầy rà cậu như lúc đầu nữa. Trái lại, ông còn tỏ ra bao dung với cậu nhiều. Thật ra, ông bảo gì cậu nghe nấy, và lắm lúc còn làm hơn điều ông muốn nữa, thì ông lấy gì để rầy mắng cho được?
 
Kéo cháu lại ngồi trên cái băng gỗ ngó ra sông, ông Ba Cang nói:
 
- Lâu quá rồi con không được về Sài gòn phải không? Được rồi, để mai mốt ông nội cho con về chơi với ba má, các em. Con ở chơi trển luôn đôi ba tháng cũng được.
 
Hùng mừng rỡ reo:
 
- Vậy hả ông nội?
 
Nhưng sau một lúc ngẫm nghĩ, cậu lại nói:
 
- Con về trển năm mười bữa thôi ông nội à. Con đi vắng lâu, rồi lấy ai phụ với ông nội chăm sóc vườn tược, phụ với bà nội trông coi heo gà?
 
Ông Ba Cang cười ha hả, một tay vuốt râu, một tay choàng qua vai Hùng, vỗ vỗ. Cậu trai ngạc nhiên:
 
- Sao ông nội cười?
 
Ông già đáp:
 
- Ông nội quá vui vì đã thành công!...
 
- Thành công chuyện chi ông nội?
 
- Thành công trong chuyện lo cho thằng chó Hùng chứ chuyện gì!
 
Dõi mắt nhìn theo một cánh buồm ở xa xa, ông Ba Cang tiếp bảo cháu bằng giọng nói khàn khàn, nhưng ấm áp lạ:
 
- Ông nội thương con lắm! Thấy con dở học, khó làm nên trong ngành chữ nghĩa ông nội lại muốn xây dựng cho con chuyện khác.
 
Ông nội tu chỉnh vườn cũ, lập vườn mới. Tất cả cây cối mà ông nội cho trồng, bao giờ mới có thể dùng được? Cầu cả mười năm nữa. Tới chừng đó thì ông nội đã già cúp bình thiếc, gần đất xa trời, có hưởng được là bao? Vậy thì ông nội trồng chúng để làm chi? Tất cả cũng chỉ để lại cho con sau nầy đó! Ông nội lập vườn cho con, nhưng nếu không bắt con phụ vào một tay, thì chẳng ích gì. Khi ông nội “trăm tuổi”, con có thể bán nó mất mà bỏ ra châu thành ở.
 
Rồi dần dà, quen tánh ở không ăn xài, con sẽ chết đói. Ông nội buộc con phải đổ mồ hôi vào mảnh đất quê, chịu khó nhọc với những công việc nhà quê, để con biết yêu quê, không có ý định xa quê nữa. Người ta thường yêu mến, không muốn xa rời những gì mà người ta đã đổ vào đó bao nhiêu công khó, phải không con? Đó, bây giờ thì con thấy thế nào? Con có muốn bán bỏ, rời xa mấy gốc dừa, mấy gốc sầu riêng, măng cụt… do chính tay con vun trồng bấy lâu không? Lũ gà vịt mà con đã từng cho ăn hằng bữa, chăm sóc từng li từng tí khi mới nở, có ràng buộc con lắm không? Ông nội chắc chắn là có!... Ông nội vui! Ha ha!...
 
Hùng chăm chú nghe lời ông Ba Cang. Ông nói dứt, cậu ôm siết lấy tay ông, cảm động:
 
- Ông nội!...
 
 
THUẦN GIANG     
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 101, ra ngày 1-3-1969)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>