Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

CHƯƠNG XIV, XV, XVI_MÁI TÓC HUYỀN


XIV

BỨC THƯ VÔ DANH


Một buổi sáng chúa nhựt, khi ở tiệm bánh mì về, Thu Cúc vấp phải một viên đá lúc nó sắp bước qua ngưỡng cửa để vào nhà. Nhìn xuống, nó thấy viên đá ấy có cuộn một mảnh giấy trắng, nó vội nhặt lên xem.

May quá, lúc bấy giờ không có ai. Bụng lo lắng, nó vội giở mảnh giấy ra coi thì thấy có chữ viết bên trong. Trống ngực đập thình thình, nó phỏng đoán đây là một bức thư mà một người bí mật muốn gởi cho nó. Không dám đọc ngoài đường, nó vội bỏ thư vào túi rồi chạy một mạch lên cầu thang.

Bà Tảo chạy ra mở cửa.

- Con dùng thêm chút cà phê sữa nhé?

Bà hỏi với một giọng niềm nở đã thành quen thuộc, nhưng con nhỏ vẫn nhận thấy một cái gì kỳ lạ bên trong..

- Thưa cô thôi ạ, con no rồi – con nhỏ đáp.

Lên tới phòng, nó vội lấy bức thư ra đọc:

- “Nếu cháu muốn biết nội dung bức thư đã giấu dưới mái tóc con búp bê thì chiều mai hồi bốn giờ, cháu tới căn nhà trống đang sửa chữa mang số 123 thuộc hẻm Vân Sơn đường Hùng Vương (Gò Vấp)… Cháu sẽ gặp một người bạn vẫn hoạt động để giúp cháu và sẽ cho cháu những điều chỉ dẫn rất quí báu”

Bức thư đó viết lối chữ in và không ký tên. Thu Cúc đọc lại cẩn thận và thấy cần phải chạy ngay lại nhà ông Hùng mới được. Nhưng trước hết, nó phải tìm một cớ gì để có thể ra ngoài.

Vẻ mặt suy tư, nó liền đi xuống bếp.

- Thưa cô… – nó nói với vẻ rụt rè.

- Gì thế con?

- Con muốn xin phép cô cho con ra phố một lát. Bây giờ trời đẹp và con không có việc gì làm cả.

- Được, được, con đi đi – bà Tảo chấp thuận ngay vì bây giờ bà không dám từ chối con nhỏ một điều gì cả.

Cúc mừng quá chạy vội đi, nhưng cô nó gọi theo:

- Con đi đâu vậy? Vườn Bách Thảo phải không?

- Thưa cô, vâng ; con chỉ đi một vòng rồi về ngay.

- Ừ, được. Cô đợi con về ăn cơm đấy nhé.

Con nhỏ chạy ba chân bốn cẳng tới sạp báo gặp ngay thằng Đức.

- Có gì lạ không? – Thằng nhỏ hỏi.

- Mày đọc coi! – Cúc vừa nói vừa đưa cho nó lá thư.

Đức đọc thật nhanh rồi quay lại hỏi:

- Thế mày tính sao? Mày có định tới chỗ hẹn không?

- Có chứ.

- Mày định đi một mình à?

- Ừ, nếu mày không đi được với tao.

- Mai tao có thể thu xếp đi được. Nhưng trước hết mình phải hỏi ý kiến ông Hùng đã chứ.

- Tao cũng nghĩ như vậy, nhưng tao chưa dám làm gì trước khi đưa mày coi bức thư này.

Thằng nhỏ cảm động về lòng tin cậy của con bạn nó, nên nó vừa mỉm cười vừa nói:

- Tao chưa kiếm được cách gì giúp mày cả, nhưng ông Hùng là một người tài ba : mày phải đi nhờ ông ta giúp mới được.

Cúc vừa nhìn đồng hồ trong sạp vừa nói:

- Đã mười một giờ rồi! Thôi tao phải đi ngay bây giờ, vì tao phải về nhà trước giờ cơm.

Nó cáo từ Đức, vuốt ve con Lu rồi chạy đi. Đáng lẽ nó muốn qua nhà cô Mai trước, nhưng vì sợ trễ giờ, nó vội đi thẳng đến nhà ông Hùng.

Một bà người làm ra mở cửa, Cúc bèn hỏi:

- Thưa, ông Hùng có nhà không?

- Thưa cô, có ; cô cho biết quí danh để tôi vào thưa với ông tôi.

- Em là Thu Cúc, ông chủ đã biết.

Bà già đưa Cúc vào và đi thưa với chủ nhân. Một lát sau, bà ta trở ra và mời Cúc đi theo vào văn phòng ông chủ. Đang ngồi sau chiếc bàn giấy đầy sách vở và báo chí, ông Hùng không giấu được sự ngạc nhiên vội hỏi:

- À Thu Cúc! Em tới đây thật bất ngờ! Có chuyện chi vậy?

Cúc đợi cho bà già lui ra rồi đáp:

- Thưa ông, em xin lỗi đã làm phiền ông, nhưng em đã bắt được vật này – nó vừa nói vừa đưa bức thư ra.

Nhà phóng viên đọc lá thư mà không tỏ vẻ gì ngạc nhiên cả.

- Em thấy thư này ở đâu vậy? – Ông hỏi.

- Thưa ông, em nhặt được dưới đất, ngay trước cửa nhà em.

Ông Hùng gập lá thư bỏ túi.

- Hẻm Vân Sơn đường Hùng Vương không xa mấy, đi xe hơi chỉ mười lăm phút là tới.

- Thưa ông cùng đi với em ạ?

- Chắc thế. Để em đi một mình sao được?

- Vậy, xin ông cho phép Đức cùng đi.

Ông Hùng vừa mỉm cười vừa nói:

- Còn hơn thế nữa kia, ta bắt buộc hắn phải đi. Bây giờ để ta kêu dây nói cho cô Mai ; cô không có gì tiêu khiển, vậy ta mời cô đi chơi luôn thể. Thế mai thứ hai hồi 3g30, em đợi sẵn ở cổng vườn Bách Thảo nhé.

- Thưa ông em sẽ đúng hẹn – con nhỏ đáp và xin cáo từ.


XV

LỠ HẸN


Do ông Hùng cầm tay lái, chiếc xe chạy bon bon trên mấy phố, lúc bấy giờ người qua lại hãy còn thưa thớt. Thỉnh thoảng cô Mai và Thu Cúc trao đổi một vài câu chuyện. Còn Đức ngồi cạnh ông Hùng, nhìn chăm chăm trước mặt. Chẳng mấy lúc, xe đã tới đầu hẻm Vân Sơn, ông Hùng bèn đậu xe ngoài lộ. Bốn người xuống và thả bộ vào trong hẻm. Đi một quãng xa, mọi người thấy nhà cửa thưa thớt dần, nhiều cây cối um tùm che rợp những khoảng vườn vắng lặng. Ở cuối hẻm là một ngôi nhà không lầu bỏ trống mang số 123. vật liệu sửa chữa bỏ lổng chổng ngoài sân, hình như lúc này thợ nghĩ việc. Hùng đẩy cửa bước vào nhà, theo sau là Đức, Cúc và cô Mai. Đây là một phòng nhỏ không có cửa sổ, phía trong có một cái cửa gỗ đóng kín. Ông Hùng mở tấm cửa này và mọi người tiến vào một căn phòng khá rộng, có cửa sổ mở ra khu vườn bỏ hoang. Cô Mai nhìn đồng hồ tay và nói nho nhỏ : “Tới giờ rồi”, còn thằng Đức thì nghĩ bụng : “Chưa có ai tới cả”.

Ông Hùng bước lại gần cửa sổ, cúi người nhìn quanh ngoài vườn, rồi trở lại giữa phòng để quan sát đồ đạc, một chiếc bàn cũ phủ đầy bụi và mấy cái ghế mục. Bỗng ông ta ngửi thấy mùi gì khen khét : ông cúi xuống và thấy trên mặt đất một đầu thuốc lá đang tắt.

“Vô ý quá!” ông vừa nói vừa lấy chân giẫm lên đầu thuốc cho tắt. Rồi suy nghĩ một lát, ông nói thêm : “Thôi, chúng mình có thể ra về được rồi!”

- Sao vậy? – Mọi người ngạc nhiên hỏi.

- Phải, chúng mình ra về mà! – ông Hùng nhắc lại.

- Nhưng mới có bốn giờ hai phút! – cô Mai cãi lại.

- Vâng, nếu cô muốn ở lại đây thì chúng ta sẽ ở lại tới chiều – ông Hùng mỉm cười đáp – nhưng cái người mà chúng ta đang đợi thì đã tới đây từ nãy rồi… và cũng đã đi khỏi rồi!

- Đi khỏi rồi! Sao kỳ vậy?

- Phải, mà tôi còn biết hắn đi lối nào nữa cơ : đây, hắn đã nhảy qua cửa sổ này. Và đúng hơn là hắn đã chuồn mất ngay lúc chúng ta mới vô tới cổng. Đây là một đầu thuốc lá mới vứt xuống đất được vài phút : nó hãy còn đang cháy khi tôi tìm thấy…

- Nhưng…

Thu Cúc muốn nói thì ông Hùng ngắt lời:

- Ta đoán biết em muốn nói gì rồi. Em nghĩ rằng có thể là một người nào khác đã vứt đầu thuốc đó phải không?

- Thưa ông, vâng.

Ông Hùng gật gật đầu:

- Một người không liên hệ đến vụ này, lại tới đây chừng năm phút trước giờ hẹn, mà lại không đi ra đàng hoàng lối cổng chánh? Đó là một sự trùng hợp khó thể xảy ra được! Vả lại, ta không tin rằng những kẻ lang thang trú ngụ ở đây lại hút thứ thuốc lá đắt tiền mà ta vừa thấy.

- Nhưng, thưa ông, tại sao người lạ mặt lại bỏ đi? – Đức hỏi.

- Em chịu khó suy nghĩ một chút sẽ tự tìm thấy câu trả lời.

- À, em hiểu rồi! – Đức nói với giọng đắc thắng – hắn thấy bọn ta đông người, hắn ta bèn chuồn mất.

- Đúng, có gì là khó hiểu đâu? – ông Hùng đáp.

Cô Mai vừa quàng vai Cúc vừa nói:

- Thế nghĩa là chỗ hẹn này là một cái bẫy à? Nếu không thì sao người lạ mặt lại không dám gặp chúng ta?

Ông Hùng vội đáp:

- Hiện giờ, ta chỉ có thể nói được rằng hắn chỉ có ý muốn nói chuyện riêng một mình với Thu Cúc mà thôi, chẳng hiểu với mưu tính gì. Ngoài ra ta chẳng nên đưa ra những giả thuyết quá táo bạo.

Nói rồi Hùng bước ra cổng và mọi người đi theo.


XVI

HÙNG THẮC MẮC


Có một sự bí mật bao trùm quanh Thu Cúc? Đó là một câu hỏi mà Hùng đặt ra với một sự lo âu mỗi ngày mỗi gia tăng, nhất là từ buổi lỡ hẹn với người lạ mặt. Trước khi tới hẻm Vân Sơn, Hùng đã phỏng đoán rằng nơi hẹn có lẽ là một cái bẫy, nhưng chàng vẫn nuôi hy vọng tìm thấy một dấu tích gì để khám phá ra bọn người muốn hãm hại Thu Cúc. Nhưng chàng chẳng tìm thấy gì, ngoài một đầu thuốc lá đang tắt và một điều chắc chắn rằng người bí mật đến đợi Thu Cúc ở đó đã rút lui khi thấy bọn Hùng tới.

Ngồi sau chiếc bàn giấy lớn, miệng ngậm điếu thuốc, đầu ngả trên lưng ghế, nhà cựu thám tử đang suy nghĩ lung lắm. Trước hết, Hoàng thị Thu Cúc là ai? Và tên thật của con nhỏ là gì? Hùng đã gởi bản điều tra lý lịch đến Nam Vang và được trả lời rằng không có tên nào là Hoàng thị Thu Cúc trong sổ hộ tịch của thành phố Nam Vang cả!

Những tài liệu mà bà Tảo đã khai ra cho Hùng đều không đúng và chàng có những chứng cứ để có thể đưa mụ ta vào khám. Nhưng Hùng hãy còn do dự, chưa muốn tố cáo vội, vì sợ rằng sự can thiệp của cơ quan Cảnh sát sẽ làm trở ngại công việc điều tra riêng của chàng. Vả lại, bắt giam bà Tảo lúc này thì có ích lợi gì? Thực ra, mụ chỉ biết rất lờ mờ về Thu Cúc. Mụ đã nhận con nhỏ về nuôi với hy vọng được lãnh một số tiền lớn, còn ngoài ra mụ cũng chẳng cần tìm hiểu con nhỏ từ đâu đến và mụ cũng cần tỏ ra kín đáo để người ta tin cậy. Bây giờ, nếu chất vấn mụ thì chẳng đi tới đâu, mà đem giam giữ mụ thì tất nhiên Thu Cúc phải vào một viện mồ côi. Khi đó, con bé sẽ hết là cái mục tiêu của những kẻ đang tìm kiếm nó và như thế thì điều bí mật sẽ chẳng bao giờ khám phá ra được nữa.

Hùng đập tay xuống bàn với vẻ bực tức và tự nhủ : Không được! Phải hết sức tránh không cho sở Cảnh sát biết vụ này, vì ta nghĩ chỉ có một cách duy nhất để giải quyết sự bí mật là cứ để yên cho hai phe đối lập tới gần con bé. Còn chàng thì phải đứng trong bóng tối để theo dõi, hầu tóm được một dấu tích gì, hoặc tìm ra một đường lối đưa tới điều giải đáp. Và điều giải đáp này chàng nhất định phải khám phá cho kỳ được, vì Thu Cúc mà cũng vì một người nữa : cô Mai.

Lại còn miếng giấy do thằng Đức kiếm ra, có viết địa chỉ của cô Mai, chàng cũng thấy bị nó ám ảnh như một cơn ác mộng. Làm sao cô Mai có thể dính líu vào vụ này được? Cô đã xác nhận rằng không biết một tí gì cả và chàng không thể nào nghi ngờ lời nói của cô được. Tuy nhiên, giòng chữ bí hiểm “đường Phan Đình Phùng, số 29A” vẫn làm chàng phải suy nghĩ đến nát óc.

Hùng nắm hai tay và mắm môi lại như người muốn phát điên lên : dù sao chăng nữa, chàng cũng phải khám phá ra vụ này và chàng quyết phải đi tới cùng với bất cứ giá nào! Nhưng phải lấy khởi điểm từ đâu bây giờ? Làm thế nào để kiếm ra đường đi nước bước khi không có một dấu tích gì? Chàng đã vận dụng khối óc và mánh lới khôn ngoan của một nhà thám tử, nhưng cho đến giờ phút này, chàng vẫn phải tự thú nhận rằng mình hãy còn đang lần mò trong khoảng trống. Những tài liệu thu lượm được thì rất lờ mờ : một chiếc khăn vuông đen, một giọng nói khàn khàn của một bà lão bán hàng rong, hai tên cướp cạn, một người có sẹo ở bên má phải đã lấy lại con búp bê của thằng Oánh và đã đứng ở cửa sổ để thông tin cho Thu Cúc… Từ các sự việc trên, chàng chưa kiếm ra được một điều gì khác : trong thành phố này thì thiếu gì bà lão chít khăn vuông đen, những tay anh chị và những người mang sẹo bên má phải?

Hùng đã tưởng có thể tìm ra tên Xuân là người đã giao Thu Cúc cho bà Tảo và do đó sẽ biết được sự bí mật về con nhỏ. Nhưng tới bây giờ, việc điều tra ở Nam Vang chưa mang lại kết quả nào. Trong sổ hộ tịch, chẳng có ma nào mang tên là Phùng văn Xuân và Hoàng thị Thu Cúc cả. Tòa Đại sứ Việt Nam cũng chẳng biết họ là ai, trong số những người hãy còn sống hay đã chết, hay đã mất tích. Do đó, chàng phải phỏng đoán rằng người ấy đã cho bà Tảo một tên bịa đặt và bây giờ muốn kiếm ra người đó là cả một chuyện đáy bể mò kim.

Hùng thở dài não nuột. Trong trí não của chàng, hình ảnh con Thu Cúc hiện ra, yếu ớt dịu dàng, đầu hơi nghiêng nghiêng bên vai, đôi mắt đượm một vẻ buồn xa xôi mà cô Mai đã diễn tả thật tài tình trên bức tranh do nàng sáng tác. Bỗng chàng cảm thấy bồn chồn nóng ruột. Chàng nghĩ rằng lúc này mà để con bé thiếu sự bảo vệ trong khi bao nhiêu kẻ thù đang rình rập nó là một điều quá khinh suất. Cái bẫy giăng ra tại ngôi nhà ở hẻm Vân Sơn đã thất bại, nhưng kẻ thù có thể giăng một cái bẫy khác. Lo lắng hiện ra nét mặt, chàng nhấc điện thoại hỏi cô Mai:

- Bữa nay cô có thấy Thu Cúc không thế?

- Bữa nay thì Mai không thấy! Sao anh lại hỏi vậy? Có chuyện gì thế anh?

- Không, xin lỗi đã làm rộn cô, để lúc khác sẽ xin gặp cô.

Chàng đặt máy nói xuống, khoác chiếc áo mưa rồi mở cửa ra đường. Lúc này chàng không thể đến thẳng ngay nhà Thu Cúc vì sợ bà Tảo nhận ra. Chàng bèn đi đến vườn bách thảo để hỏi thẳng Đức xem có tin tức gì về con nhỏ không. Nhưng linh tính báo cho chàng biết rằng kẻ thù không xa đâu và chàng phải đề phòng cẩn mật.

__________________________________________________________________________

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

CHƯƠNG XI, XII, XIII_MÁI TÓC HUYỀN


XI

NGƯỜI LẠ MẶT Ở NHÀ BÊN CẠNH


Nửa tháng đã trôi qua. Một buổi sáng kia, trong khi Cúc đang phơi quần áo ở sân thì hình như nó nghe thấy tiếng huýt sáo. Nó vội ngẩng lên nhìn về phía tiếng động thì nó thấy một người đàn ông cúi mình qua cửa sổ lầu hai của nhà bên cạnh. Người đó làm hiệu cho nó và giơ tay như muốn ném cho nó một vật gì. Nhưng, ngay lúc đó, có hai người ở phía sau nhảy ra túm lấy vai hắn và lôi tuột vào trong nhà.

Sự việc xảy ra nhanh như chớp, đến nỗi Thu Cúc không đủ thời giờ để kêu lên. Nó đứng lặng người đi, mắt nhìn chòng chọc vào khung cửa sổ và tự hỏi rằng có phải nó mơ hay không?

Nhưng không phải là một giấc mơ. Chính hai tên gian phi trước đã đánh cướp con búp bê của nó, vừa rồi lại đã cản trở người lạ mặt không cho hắn ném cho Thu Cúc bức thư mà lần trước đã được cất giấu dưới mái tóc con búp bê. Con nhỏ tin chắc là đúng cái thư đó, nên nó rất ân hận rằng chỉ thiếu chút nữa thì sự bí mật đã được khám phá ra.

Bỗng tiếng gọi của bà Tảo làm nó trở về với thực tại : “Mày làm gì trên đó mà lâu thế hả đồ ăn hại? Xuống ngay, không thì chết với tao bây giờ!”

Cúc giật mình đến thót một cái, phơi nốt đống quần áo rồi vội vã chạy xuống nhà.

Sau khi quét tước trong phòng cô nó, làm giường và dọn dẹp bếp nước xong xuôi, nó lấy chiếc hộp để đi bán hàng. Trước hết, nó vội đi kiếm thằng Đức để thuật lại hoạt cảnh mà nó vừa được mục kích ban nãy. Thằng nhỏ chau mày nói:

- Tao đoán người lạ trên cửa sổ, bà lão bán hàng và cái ông đến đòi con búp bê của thằng Oánh chỉ là một người mà thôi, chắc chắn như thế.

- Hoặc giả là ba người khác nhau mà hành động theo chung một kế hoạch.

Cúc đáp lại, vì nó không giàu óc tưởng tượng như bạn nó, nên nó không tin vào sự cải trang đến ba lần như thế.

Đức im lặng xếp những tờ báo, rồi nó gật đầu thở dài nói:

- Lời giải đáp nào cũng thấy hữu lý cả, thật khó mà phân biệt : màn bí mật lại mỗi ngày mỗi dày đặc thêm, bực quá đi mất!

- Hay là chúng mình đi gặp ông Hùng? – Cúc đề nghị.

- Ngay bây giờ tao không thể bỏ sạp báo mà đi được. Vả lại, với tài trinh thám của ông ấy, ông cũng chưa tiến xa hơn tụi mình được bao nhiêu. Dầu sao, mày cũng nên đi báo cho ông rõ sự việc ban sáng, nhưng tao không yên tâm để mày đi một mình.

- Nếu vậy, tao đến nhờ cô Mai đưa tao đi.

- Ừ, ý kiến ấy hay đó! Nhưng khi ở nhà ông Hùng ra, mày nhớ tạt qua đây cho tao biết ông ấy nghĩ sao nhé.

Rồi hai đứa chia tay. Nhà cô Mai ở cách vườn bách thảo không xa mấy, khi Cúc tới thì cô vừa điểm tâm xong.

- Có chuyện chi vậy, em Cúc? – cô hỏi.

Con nhỏ bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện và nhờ cô đưa đến nhà ông Hùng.

- Thôi, để chị kêu dây nói cho ông tiện hơn.

Rồi cô Mai quay số gọi:

- Alô, chào anh Hùng! Anh có thể qua nhà Mai một chút được không? Phải, một báo cáo thượng khẩn. Trong 5 phút hả? Tốt lắm.

Cô đi thay áo và bảo chị Năm mang cà phê sữa cho Cúc, vì sáng nay vội đi nó vẫn còn lòng không dạ đói. Vài phút sau, cô Mai trở lại phòng khách thì ông Hùng cũng vừa tới. Nhà phóng viên rất chăm chú nghe câu chuyện do Cúc kể lại rồi đặt câu hỏi về địa thế căn nhà bà Tảo và hai ngôi nhà lầu bên cạnh trông xuống sân gác nhà Cúc. Con nhỏ cố gắng trả lời thật đúng và nó tiếc rằng lúc này thằng Đức không có đây để giúp nó.

- Thưa ông – nó nói – sân gác nhà em hình chữ nhật, phía trước là bức tường bếp nhà em, phía sau là bức tường ngăn cách một khu vườn, còn bên phải và bên trái là hai ngôi nhà cao.

- Rồi! Thế cái cửa sổ mà em thấy người lạ mặt đứng sáng nay là thuộc dãy nhà nào?

- Thưa ông, thuộc dãy bên phải, dãy bên trái hiện bỏ trống.

- Thế em có biết những người ở dãy bên phải là ai không?

- Thưa ông, có. Lầu nhất có một bà góa, lầu nhì đang bán, còn những người thuê lầu ba thì hiện đang đi nghỉ hè, không có ai ở nhà.

- Em nói người lạ mặt đứng ở lầu nhì phải không?

- Thưa ông, vâng, cửa sổ ở góc nhà, gần sân nhà em nhất.

- Đúng vậy, vì là một căn nhà trống, hắn có thể ra vô dễ dàng. Nhưng vì sao hắn biết rằng đứng ở cái cửa sổ ấy thì trông thẳng xuống sân nhà em?

- Thưa ông, em cũng không rõ, vì khu nhà đó quay ra mặt lộ, nếu từ ngoài lộ nhìn vào thì chẳng ai có thể đoán biết rằng các cửa sổ trông thẳng xuống sân nhà em.

- Vậy thì phải đoán rằng người đó đã nghiên cứu địa thế từ trước rồi – ông Hùng nói nho nhỏ – Này em! Có thể cho ta biết trong thời gian vừa qua, cô em có…

- À, thưa ông, người khách muốn thuê phòng của cô em! Đúng rồi!

- Người nào vậy? – Ông Hùng và cô Mai đồng thanh hỏi dồn dập.

Cúc bèn kể lại câu chuyện thuê phòng mà chúng ta đã rõ và không quên khai rằng sau khi xem xét nhà cửa cẩn thận rồi, người khách lạ đã không trở lại.

- Em có chắc rằng hắn đã đi ra sân không? – Ông Hùng hỏi.

- Thưa ông, chắc ạ, cô em nói thế! Cô em còn nói rằng ông ấy đã đứng ở sân một lúc lâu và nói rất thích hóng mát buổi chiều ở đó.

- Nếu vậy thì chẳng còn phải nghi ngờ gì nữa : ba nhân vật ấy đúng là một người. Nhưng em Cúc, sao em không báo tin cho ta biết sớm hơn? Đáng lẽ ta đã có thể bắt đầu điều tra từ nửa tháng nay rồi.

Con bé đỏ mặt đáp:

- Thưa ông, em không ngờ là việc ấy quan trọng đến như thế.

- Lúc này thì bất cứ điều gì cũng rất quan hệ cho em đó. Vậy ta dặn em : từ nay nếu trông thấy hoặc nghe thấy điều gì mới lạ, em phải báo cho ta biết ngay.

- Thưa ông, vâng – Cúc nói. Và như để tạ lỗi, nó thêm – Bữa trước em không nói vì em không hiểu thế nào cả.

- Thôi được rồi. Không nên than vãn, mất thời giờ vô ích. Ta muốn đây là một bài học cho em về sau.

Nói xong, ông Hùng đứng lên.

- Anh về bây giờ ạ? – Cô Mai ngạc nhiên hỏi.

- Vâng, tôi muốn đi điều tra một lát!

Rồi ông vội vã đi kiếm người gác cổng khu nhà nói trên thì được biết rằng một người đàn ông đã tới đây nhiều lần để thăm thú căn nhà ở lầu nhì, nói rằng định mua.

Lần thăm chót vào buổi sáng hôm nay, và người lạ mặt có một vết sẹo ở bên má phải.


XII

KIỂM TRA LÝ LỊCH


Từ hôm bà Tảo bị gạt trong vụ mướn nhà thì bà ta tỏ vẻ dè dặt với khách hàng. Nếu là người lạ, không phải từ các xóm lân cận tới, bà ta tiếp đãi rất nhạt nhẽo.

Một bữa kia, một ông tay ôm cuốn sổ lớn vào cửa hàng và tự giới thiệu là Thẩm sát viên do quận phái về kiểm tra lý lịch các gia đình. Nghe nói là người trên quận, bất đắc dĩ bà ta phải tiếp đãi ân cần.

Người đó không phải ai xa lạ, mà chính là Hùng, nhà phóng viên kiêm thám tử.

- Xin bà vui lòng cho biết lý lịch – Hùng vừa nói vừa mở sổ trên quầy và sửa soạn viết. Bà Tảo bèn đưa ra tấm thẻ căn cước. Sau khi ghi chép đầy đủ, Hùng hỏi:

- Gia đình bà có mấy người?

- Thưa, tôi là góa phụ không có con.

- Thế bà có người thân thích tá túc ở đây không?

- À có, một đứa cháu gái mồ côi, con người anh họ.

- Tên cháu là gì?

- Hoàng thị Thu Cúc.

- Cháu là con ai?

- Chuyện này đã lâu nên tôi cũng không nhớ rõ tên cha mẹ nó.

- Lạ nhỉ, bà không nhớ rõ tên người anh họ – Hùng nghiêm giọng – có lẽ bà định giỡn tôi hay sao đó?

- Thưa ông không. À… ừ… đó là người chị em họ tên Thu Vân, nhưng tôi không biết tên người chồng là gì.

- Vậy là bà biết tên mẹ con nhỏ. Thế cháu sinh ở đâu?

- Tại Nam Vang.

- Năm nào?

- Tôi chỉ nhớ mang máng vào khoảng 12 năm nay.

Hùng ghi các lời khai của bà Tảo một cách bình tĩnh và hỏi:

- Con nhỏ sinh ở Nam Vang sao bây giờ ở Saigon?

Bà Tảo suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Hồi đó tôi cũng ở Nam Vang. Khi người chị họ tôi mất đi, tôi đem con nhỏ về nuôi vì lòng nhân đạo.

- Hồi đó đứa nhỏ mấy tuổi?

- Độ hai tuổi.

- Có chắc chắn là bà trở về Saigon sau khi người chị họ mất không?

- Vâng, vài tháng sau, vì tôi đã có ý định về đây từ trước rồi.

- Vậy là con nhỏ sanh tại Nam Vang, bà có chắc chắn như vậy không?

Đến đây bà Tảo hơi biến sắc:

- Thưa chắc chắn.

- Bà hãy coi chừng, tôi có thể kiểm soát lại dễ dàng, nếu bà khai man bà sẽ bị liên lụy đó. Vậy tôi khuyên bà nên nói đúng sự thật.

Bà Tảo lấy tay quệt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán và đáp ấp úng:

- Tôi… Tôi… không biết. Ở Nam Vang, họ bảo tôi…

- Ai bảo bà và bảo cái gì? – Hùng trừng mắt hỏi.

- Người đã giao con nhỏ cho tôi.

- Thế không phải là người chị họ à?

- Thưa không, người mẹ con nhỏ đã chết, người giao con nhỏ cho tôi là một người bạn gái.

- Tên người đó là gì? Nhưng thôi, bà cũng chẳng cần mệt óc làm chi : tôi có thể nhắc dùm bà. Đó là một người đàn ông tên Xuân!

Nghe thấy thế, bà Tảo suýt té xỉu và phải bám tay vào quầy hàng mới đứng vững.

- Sao… sao… ông biết? – Bà nói trong hơi thở phều phào.

- À tôi biết chứ. Tôi còn biết rằng tên Xuân đã đưa cho bà một số tiền lớn để bà về Saigon, có đúng không?

Lúc đó bà Tảo như người chết đứng, không nói được lên thành tiếng nữa.

- Đó, bà coi, nói dối có ích lợi gì đâu? Tên con nhỏ không phải là Hoàng thị Thu Cúc và nó cũng không phải là con người chị họ của bà. Vậy tên thật nó là gì?

- Tôi không rõ. Khi tên Xuân mang con nhỏ đến cho tôi, hắn dặn tôi tên nó là Hoàng thị Thu Cúc và nó sinh ở Nam Vang. Đó là sự thật một trăm phần trăm, tôi xin thề với ông.

- Thôi được, tôi tin lời bà. Nhưng còn điều này nữa : tại sao tên Xuân đã giao con nhỏ cho bà và tại sao bà đã đưa nó về Saigon? À, mà trước hết tên Xuân là ai đã?

- Hắn là một người bạn của chồng tôi, tôi biết hắn khi còn ở Nam Vang.

- Thế chính hắn đã giao con nhỏ cho bà hay ai?

- Vâng, chính hắn. Một bữa kia, hắn tới thăm tôi và bảo nếu tôi muốn có một số tiền lớn lại được dọn về Saigon ở mà không tốn kém một xu thì hắn sẽ giúp. Hồi đó ở trong tình cảnh góa bụa, lại túng thiếu nên tôi ưng thuận.

- Tôi nói cho bà biết : tôi đã ghi vào sổ tên tuổi của con nhỏ. Nếu tôi hỏi lại ở Nam Vang mà không đúng như thế thì bà đừng có trách đó.

Bà Tảo sợ quá vội kêu:

- Không, không, tôi xin nói thật hết cả. Vả lại tôi chẳng làm gì nên tội, nếu tôi cứ im lặng mãi thì tôi sẽ tự cho mình là thủ phạm. Vậy, tên Xuân có bảo tôi rằng : người ta có gởi hắn một đứa nhỏ, là con một gia đình giầu lớn tại Nam Vang. Cha mẹ nó muốn cho nó lánh đi xa một thời gian để bọn gian phi khỏi bắt cóc hoặc hãm hại. Vì thế họ muốn giao cho tôi mang con nhỏ về Saigon như một đứa cháu vậy.

- Thế bà đã ưng thuận?

- Lúc đầu tôi từ chối, vì tôi thấy số tiền họ hứa cho tôi sẽ không đủ để nuôi con nhỏ. Hai nữa, tôi rất sợ dính líu vào một chuyện mờ ám, vì chưa bao giờ tôi có gì rắc rối với Sở Cảnh sát, nên tôi đắn đo mãi. Nhưng tên Xuân đã thuyết phục tôi rằng đây là một công việc từ thiện, cha mẹ đứa nhỏ sẽ gởi tiền cho tôi đều đều qua sự trung gian của hắn, và khi họ có thể đón được đứa con về thì họ sẽ thưởng cho tôi một số tiền lớn. Thưa ông, vì tôi muốn làm việc nghĩa và hy vọng được trở về Saigon để dưỡng già ở nơi chôn nhau cắt rốn, nên cuối cùng, tôi đã xiêu lòng và nhận lãnh con nhỏ.

- Ồ, rồi sao nữa?

- Thưa ông, như thế là hết. Tôi đã chuyển về Saigon và sau đó tôi chẳng nhận được tiền bạc gì cả, lại còn phải đèo bồng thêm con nhỏ trên tay. Lắm lúc tôi đã định ra khai việc này với nhà chức trách để thoát cái của nợ này, nhưng rồi tôi lại thôi, hy vọng rằng một ngày kia cha mẹ đứa nhỏ sẽ tới đây để xin con nhỏ về. Ông cũng hiểu cho rằng sau bao nhiêu năm tận tụy, tôi chẳng muốn bị xôi hỏng bỏng không.

- Phải, tôi hiểu.

- Nhưng bây giờ thì tôi đã chán ngấy rồi. Khi nói hết cả sự thật với ông, tôi không ân hận gì cả. Với các tài liệu tôi vừa đưa ra, ông muốn làm chi thì làm, nhưng lương tâm tôi được yên ổn. Tôi đã chịu biết bao nhiêu khổ cực với con nhỏ mà nay phần thưởng của tôi như thế đó, ông nghĩ coi. Thôi cũng đành! Nhưng tôi mà kiếm ra được lão Xuân thì hắn phải biết tay tôi, ông ạ!

Lúc này thì Hùng đã hiểu rõ lý do vì sao mụ này lại ghét bỏ Thu Cúc đến như thế ; chỉ vì con nhỏ đã mang cái tội là không đem lại cho mụ sự giàu sang mà mụ hằng trông đợi từ bấy lâu.

- Bây giờ thì phải tìm cho ra tên Xuân chứ – Hùng nói.

- Thì chính tôi vẫn luôn luôn bận tâm về chuyện đó. Đã bao phen tôi gởi thơ qua Nam Vang cho hắn, nhưng tuyệt vô âm tín, có lẽ hắn đã bỏ đi nơi khác rồi.

Hùng vừa gập cuốn sổ lại vừa nói:

- Chúng tôi có thể biết rõ tung tích của hắn, nhưng xét ra cũng chẳng ích lợi gì mấy. Mà có thể hắn chết rồi cũng nên.

- Chết hay sống thì tất cả đều do lỗi tại hắn. Tôi chẳng làm điều gì ác độc nên tôi không ngại chi hết.

- Về những việc quá khứ thì tôi đồng ý. Nhưng trong hiện tại và tương lai thì bà không nên hành hạ con nhỏ nữa. Sở Cảnh sát tinh lắm đấy, nếu họ hay biết điều chi thì rất phiền cho bà đó.

Nói xong, Hùng xách cuốn sổ bước ra cửa. Bà Tảo nghe câu nói vừa rồi nửa khuyên bảo nửa dọa dẫm thì thấy chột dạ. Một lát sau, hoàn hồn trở lại mụ tự hỏi không biết ông này có đúng là nhân viên của quận hay không.

Rồi mụ lại tự nghĩ : Hay ông ấy là bà con gì với con nhỏ, hoặc là cha ruột nó không chừng. Nên mụ thấy rất hối hận, vì ban nãy mụ đã thốt ra tất cả sự ghét bỏ cảu mụ đối với con nhỏ, rồi đến khi ông ta nói đến vấn đề mụ bạc đãi nó, mụ cũng không hề cải chính gì cả.

Nghĩ đến đây, mụ ngồi phịch xuống ghế, vừa bực tức, vừa lo lắng.


XIII

NỖI LO SỢ CỦA BÀ TẢO


Kể từ hôm đó, Thu Cúc đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nó thấy bỗng nhiên bà Tảo đối đãi rất tử tế với nó. Trước hết bà cất cái hộp hình ảnh đi, rồi bà cười thật tươi vừa nói với nó:

- Con ơi, thôi từ nay con đừng đi bán hình nữa. Con đã lớn rồi, cô muốn con ở nhà tốt hơn.

Thu Cúc trợn tròn mắt, không hiểu ra thế nào cả. Bà Tảo vội nói tiếp : “Cô biết con sẽ rất ngạc nhiên về điều này, nhưng đã từ lâu nay cô vẫn có ý định cho con học một nghề gì, mặc dầu sự buôn bán lúc này cũng khó khăn và gia đình ta ở trong cảnh eo hẹp”.

Bà ngưng một lát rồi nói tiếp : “Nhưng cũng phải cố gắng một tí chứ! Cô sẽ rất khổ tâm nếu cô phải hy sinh tương lai của con đó, con ạ!”.

Nghẹn ngào vì quá xúc động, Thu Cúc đáp run run:

- Nhưng, thưa cô…

Bà Tảo ngắt lời:

- Cô biết là con sẽ hỏi cô định để con ở nhà làm gì? Con khỏi lo, tất nhiên cô phải kiếm cho con một công việc chớ. Thế con có thích học nghề thêu không?

- Thưa cô, con thích lắm.

- Vậy thì tốt lắm. Hàng ngày, cô sẽ mượn người tới đây để dạy con thêu thùa, nếu việc buôn bán của nhà ta được khá hơn một chút, cô sẽ cho con đi học trường.

- Ồ, thật là tuyệt! Cô thương con quá!

Bà Tảo vội lôi con nhỏ lại gần, vừa vuốt ve nó vừa nói:

- Con tha lỗi cho cô nhé! Cô đã già rồi nên sinh ra bẳn tính và nhiều khi cũng hơi quá nghiêm khắc với con. Nhưng con thông cảm cho cô : Suốt đời khổ cực nên tính nết cô hơi cáu kỉnh. Nhưng tính nết là một chuyện mà tấm lòng lại là chuyện khác. Con nên tin rằng tấm lòng của cô đối với con lúc nào cũng như một người mẹ hiền, con ạ!

Rồi bà đưa tay lên vờ quệt mắt như để chùi một giọt lệ, mà người tinh ý đến đâu cũng phải cho là thật. Tuy nhiên, Thu Cúc hãy còn nhớ quá rõ những sự bạc đãi của bà Tảo nên nó chưa dám tin hẳn vào sự thành thật của bà ta. Nó tự hỏi vì lý do gì lại có một sự thay đổi đột ngột như thế, nhưng nó chưa tìm ra được lời giải đáp.

Một lát sau, bà Tảo chạy ra chợ Thị Nghè rồi mang về cho Thu Cúc một chiếc áo kiểu và một xấp vải để may áo dài mới tinh và một đôi dép quai da. Con nhỏ không biết nghĩ thế nào về cử chỉ hào phóng đó và nó tự hỏi : Hay bà ta đã trúng số… Hay bà ta đã hóa điên chăng!

Từ lúc đó, Thu Cúc lại thêm nhiều sự ngạc nhiên khác. Tối hôm ấy nó được ăn một bữa cơm thịnh soạn, đến lúc đi ngủ nó lại thấy chiếc giường của nó được kê ngay trong phòng bà Tảo.

- Cô thấy hồi này con hơi xanh – bà nói – và cái phòng nhỏ mà con vẫn ngủ có lẽ không được tốt lắm. Vậy từ nay con lên ở phòng này với cô, có nhiều ánh sáng và không khí, để sức khỏe con được khá hơn!

Sáng hôm sau bà Tảo kêu cô Lý đến để dạy Thu Cúc thêu thùa, và con nhỏ bắt đầu bước vào một cuộc sống mới.

Bà Tảo xuống mở cửa hàng như mọi ngày, còn Thu Cúc vẫn ở lại trong phòng với cô Lý để học làm rua. Nó cũng quen dần với cuộc sống mới, nhưng một điều làm nó bứt rứt là làm thế nào để đi gặp thằng Đức và cô Mai?

Nhưng tới buổi chiều, bà Tảo như đoán biết ý muốn của nó liền bảo:

- Con đã quen sống hoạt động ngoài trời, vậy chiều mát con nên ra phố chơi một vòng để giải trí.

Thiếu chút nữa thì con nhỏ kêu rú lên vì vui mừng. Chiều ý bà Tảo, nó lấy một chiếc áo mới màu trắng hoa thiên thanh mặc và chân đi đôi dép mới.

Khi trông thấy nó, thằng Đức há hốc miệng ra mà nhìn nó từ đầu đến chân trong sự ngạc nhiên tột độ:

- Thu Cúc, có chuyện gì vậy? Quần áo ở đâu thế?

Con nhỏ vừa cười vừa tiến vào ngồi trong sạp và kể cho nó nghe các tin tức cuối cùng rồi kết luận:

- Mày có thể tưởng tượng được không? Cô tao sắp cho tao đi trường học rồi đó!

- Ừ ừ – thằng nhỏ đáp – không có lửa làm sao lại có khói?

Thu Cúc hỏi nó nói như thế là nghĩa gì, nhưng Đức không đáp. Nó ngờ rằng hành động của bà Tảo có che giấu một cái gì bất thường và nên cẩn thận đề phòng. Nó đưa con nhỏ tới nhà cô Mai và dặn nó nên thận trọng. Cô họa sĩ cũng hết sức ngạc nhiên khi thấy Thu Cúc mặc bộ đồ mới và khi nó kể thay đổi bất ngờ của bà Tảo. Riêng ông Hùng thì coi là sự thường khi cô Mai kể lại cho nghe chuyện của Thu Cúc.

- Anh nghĩ thế nào? – cô hỏi – thật là lạ lùng quá xá!

Hùng gật đầu thầm nghĩ : mụ ta đã hoảng sợ những lời cảnh cáo của ta rồi đó.

- Cô bạn của tôi ơi! – chàng nói với một giọng rất văn vẻ – trong cõi đời này ta phải nên sẵn sàng đón nhận tất cả, vì những việc rất kỳ lạ có thể xảy đến bất cứ lúc nào!

___________________________________________________________________________

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

CHƯƠNG VIII, IX, X_MÁI TÓC HUYỀN


VIII

CUỘC ĐỐI THOẠI VỚI NHÀ THÁM TỬ


Hôm sau, khi đồng hồ sắp điểm 5 giờ, Thu Cúc và Đức đã tới gõ cửa nhà cô Như Mai.

Con bé vẫn mặc chiếc áo vải mầu xanh dương mọi khi. Vì dãi dầu mưa nắng, chiếc áo đã ngả sang mầu xanh nhợt nhạt. Đáng lẽ khi tới gặp ông Hùng lần đầu tiên nó phải ăn mặc chỉnh tề hơn một chút, nhưng nó sợ bà Tảo nghi ngờ nên nó đành phải mặc cái áo cũ.

Còn thằng Đức thì đầu chải bóng và mang một chiếc sơ mi trắng tươm tất vẫn dành cho ngày chúa nhật. Nó cũng không quên rửa sạch sẽ hai bàn tay thường ngày vẫn bị đen vì mực báo. Hôm nay trông nó rõ ra một cậu bé khôi ngô, vẻ mặt chân thật và sự thông minh lộ rõ trong cặp mắt sáng của nó.

- Em là Đức phải không? – cô Mai hỏi nó với một giọng thật dịu dàng – Thu Cúc có nói chuyện nhiều về em! Chị rất vui được quen em hôm nay.

- Em xin cám ơn cô đã cho phép em tới đây – Đức đáp một cách rất lễ phép.

- Nhưng chị biết vụ này đã làm em rất bận tâm, cũng như chị vậy. Chị biết em đã hoạt động ráo riết để tìm cách khám phá ra điều bí mật bao trùm con búp bê!

- Vâng, thưa cô đúng thế, em đã làm tất cả những gì em có thể làm được… nhưng cho đến bây giờ, em thấy vẫn chưa nên cơm cháo gì cả.

Cô Mai đảo mắt nhìn quanh với vẻ thắc mắc rồi hỏi:

- Nhưng con Lu đâu? Sao em không cho nó lại đây? Cúc đã kể rằng nó theo em đi khắp mọi nơi kia mà?

- Vâng, thưa cô đúng vậy, nhưng nó không thể vào một biệt thự đẹp đẽ như thế này.

- Không sao đâu, chị rất yêu chó. Lần sau em cứ cho nó lại nhé.

Lúc đó ông Hùng vừa tới, làm ngưng câu chuyện đang có đà giữa ba người. Ông có một thân hình cường tráng, dong dỏng cao, trán rộng và đôi mắt thật sắc. Đức nhận thấy ngay ông là người mà chẳng dễ gì ai qua mặt nổi. Nhà phóng viên trao đổi vài câu chuyện với cô Mai rồi quay nhìn hai đứa nhỏ.

Cô Mai vội nói:

- Mai xin giới thiệu : đây là Thu Cúc và Đức, hai người bạn nhỏ của Mai. Cúc đang bị liên hệ vào một câu chuyện bí mật mà chính Mai cũng gián tiếp bị dính líu. Vì vậy, tụi này muốn nhờ anh giúp một tay. Bây giờ, xin mời anh ngồi xuống ghế, châm một điếu thuốc rồi nghe tụi này trình bày tự sự.

Hùng ngồi xuống, rút một điếu thuốc châm hút, vì ông thường nói nếu không có thuốc lá thì ông không thể chuyên chú vào câu chuyện được. Đáng lẽ Cúc phải vào đề trước, nhưng vì có ông khách lạ, nó thấy sợ sệt nên nó nhờ thằng Đức kể giùm. Thằng nhỏ bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện con búp bê không thiếu một chi tiết nào. Nó mô tả rất đúng những nhân vật trong câu chuyện kỳ dị này : bà lão bán hàng với chiếc khăn vuông đen, hai người bí mật đã đánh cướp Thu Cúc, thằng Oánh cà nhắc, người đàn ông có sẹo bên má phải và con búp bê, vai chánh của câu chuyện này với lá thư bí mật giấu dưới tóc có mang địa chỉ của cô Mai.

Khi Đức kể xong, ông Hùng chau mày và trầm ngâm kéo vài hơi thuốc. Rồi ông vẫy Cúc lại gần nói với một giọng rất ôn tồn:

- Bạn em đã kể lại câu chuyện rất rõ ràng khúc chiết, ta rất khen ngợi. Nhưng ta cần biết thêm một vài chi tiết mà chỉ có em mới có thể nói rõ được. Vậy em có thể nhắc lại từng câu từng chữ những lời bà lão đã nói với em chăng?

- Thưa ông có ạ. – Cúc đáp nhỏ nhẹ.

- Thế bà ấy nói thế nào lúc tới gần bên em? – nhà phóng viên vừa hỏi vừa sửa soạn để ghi trên sổ tay những câu trả lời của con nhỏ. Đó là một thói quen cũ của Hùng khi còn làm thám tử, ông vẫn thường nói rằng không có gì dễ làm sáng tỏ một bí mật hơn là đọc lại những trang khẩu cung sau mấy giờ suy xét.

Thu Cúc ngẫm nghĩ một lát để nhớ lại đúng các lời nói của bà lão trong cuộc đối thoại ngắn ngủi với nó rồi đáp:

- Thưa ông, bà ấy hỏi em : “Cháu có muốn mua một con búp bê không?”

- Thế em trả lời ra sao?

- Thưa ông, em không trả lời gì cả vì lúc đó em rất ngạc nhiên. Rồi bà ta cúi xuống cái giỏ để lục lọi và bảo em rất nhanh : “Cháu vờ chọn một con búp bê đi. Cháu lấy con mặc áo đỏ ấy”. Em ngạc nhiên hỏi : “Sao vậy hả bà?” Bà ta bèn trả lời : “Im đi cháu, đừng hỏi nữa. Bà bị người ta theo dõi nên không thể nói gì hơn. Cháu cứ cầm lấy con búp bê đi. Khi về tới nhà, cháu hãy lật mớ tóc huyền của nó lên, cháu sẽ thấy một vật rất hữu ích bên trong.”

- Lúc đó thì em cầm lấy con búp bê chứ? – Ông Hùng vừa hỏi tay vừa ghi lia lịa trên cuốn sổ.

- Vâng, em đã lấy con mặc áo đỏ. Rồi bà ta nói với em : “ Trả cho bà vài đồng thôi, để nếu có ai rình rập, họ sẽ tưởng rằng cháu mua của bà”.

- Sau khi bà lão đi khỏi, em vội chạy về nhà. Tới Thị Nghè, khi đi qua một quãng đường tối, hai tên lạ mặt xông tới đoạt lấy con búp bê. Lúc ấy vì trời tối quá, em không thể nhận rõ mặt chúng phải không?

- Thưa ông vâng.

- Họ có nói gì với em không?

- Thưa ông, không, họ không nói năng một lời nào cả.

- Nếu em gặp lại bà lão, em có nhận ra được bà ta không?

- Thưa ông, em cũng không biết nữa. Nhưng em tưởng cũng khó có thể nhận ra được, vì chiếc khăn vuông đã che gần kín hết mặt bà ta.

- Nhưng còn tiếng nói của bà ta thì em đã nghe rõ chứ? Nó thế nào?

- Tiếng nói khàn khàn.

- Như tiếng một người hút nhiều thuốc lá phải không?

- Thưa ông, em cũng không rõ. Nhưng em nhận thấy giống như tiếng một người đàn ông. Vả lại, Đức cũng đoán rằng có thể là tiếng nói của một người đàn ông cải trang.

Nhà phóng viên bèn quay lại hỏi thằng nhỏ:

- Căn cứ vào đâu mà em lại phỏng đoán như vậy?

- Thưa ông, em nghĩ rằng một người phải có đủ can đảm mới dám hành động như thế : bà lão thừa biết rằng làm như vậy rất nguy hiểm và bà sẵn sàng chịu đựng các hậu quả xảy ra. Theo ý em nghĩ thì đàn ông thường có sự can đảm đó.

Ông Hùng nhìn thằng nhỏ qua làn khói xanh rồi đáp:

- Theo lý luận thì em nói cũng phải, nhưng ta cần phải thận trọng trong sự suy luận, nếu không ta có thể bị lầm đường. Không hẳn rằng sự can đảm là một đức tính riêng của người đàn ông. Thí dụ như chính ta có quen biết một thiếu nữ hàng ngày chỉ vẽ những nàng tiên và sống với hoa cỏ, nhưng ta chắc rằng cô ấy chẳng hề run sợ khi phải đối phó với một kẻ có khí giới trong tay, hay với một con hổ dữ.

Chàng nói xong mỉm cười nhìn cô Mai, cô quay đi mặt đỏ bừng vì e thẹn. Nhà phóng viên lại tiếp tục hỏi cung, nhưng những câu hỏi ông đặt ra có vẻ như không mang lại mấy ánh sáng cho vụ con búp bê bí mật. Tuy nhiên, ông vẫn ghi chép cẩn thận các câu đáp. Do đó, ông biết rằng Thu Cúc đã sinh tại Nam Vang và sau khi mồ côi, con nhỏ được bà Tảo – chị em họ với ba nó – đưa về sinh sống ở Saigon. Đột nhiên, ông lại hỏi:

- Bà Tảo đối xử với em ra sao?

Con nhỏ ngập ngừng không đáp và cúi mặt nhìn xuống.

- Ta muốn hỏi – ông Hùng nhắc lại – bà là người thế nào? Bà có tốt không? Có thương mến em không?

- Thưa ông, em cũng không rõ. Cô em lúc nào cũng gắt gỏng và mắng em hoài, thỉnh thoảng bà còn đánh đập em và nói rằng bà chẳng lợi lộc gì khi lãnh em về nuôi.

Nhà phóng viên vừa châm điếu thuốc thứ hai vừa hỏi:

- Nhưng, nếu vậy, tại sao bà ta không tìm cách gởi em vào một viện mồ côi nào đó? – Rồi ông đợi câu trả lời với vẻ mặt lo lắng.

Con nhỏ lắc đầu nói:

- Thưa ông, có một lần đã khá lâu, khi em còn đi học, bà giáo em đề nghị với cô em để gởi em vào một hội từ thiện nhờ người ta trông nom cho. Nhưng cô em từ chối…

- Vậy à? – ông Hùng vừa nói vừa trầm ngâm nhìn theo làn khói thuốc – Bây giờ em cho ta biết : thỉnh thoảng cô em có tiếp khách lạ nào ở nhà không?

- Thưa ông không, đúng ra là em chưa thấy ai những lúc em có ở nhà.

- Vậy tức là chưa bao giờ em bất ngờ được nghe thấy những mẩu chuyện, những câu nói… Bà ta có nói gì khi đang mơ ngủ không?

- Thưa ông, không bao giờ. Nhưng vào mùa hè năm ngoái, bà có bị một cơn sốt nặng và ban đêm bà mê sảng. Bà kêu khóc và dãy dụa, bà muốn nhảy xuống giường và đột nhiên em nghe thấy bà nói : “Anh Xuân, anh Xuân! Còn số tiền để về đây thì sao? Tôi chẳng cần gì hơn, anh đã lừa dối tôi!” Khi cô em khỏi bệnh, em đã định hỏi ông Xuân là ai, nhưng em sợ cô em nổi giận nên em lại thôi.

- Bà ta dữ thế kia à? – nhà trinh thám vừa hỏi vừa mỉm cười – Thế còn câu chuyện con búp bê, em có kể lại cho bà ta nghe không?

- Thưa ông, không, em không nói gì cả.

- Tốt lắm! Im lặng là vàng! Ai biết giữ mồm giữ miệng thì khó bị nhầm lẫn. – ông Hùng kết luận và đóng cây bút máy lại.

Khi đó, cô Mai tiến lại đưa cho ông Hùng miếng giấy còn sót lại trên đầu con búp bê.

- Thế còn sự bí mật của địa chỉ này, anh không có ý định khám phá ra hay sao? – cô hỏi với một giọng bồn chồn.

Hùng không đáp, cầm lấy miếng giấy bỏ vào ví rất cẩn thận.

- Anh định làm gì vậy? – cô Mai hỏi.

- Tôi đem về nhà để có thời giờ nghiên cứu.

- Anh có ý kiến gì không?

Một nụ cười bí mật thoáng trên môi Hùng.

- Cô bạn tôi ơi – chàng nói với một giọng khôi hài – thế cô không dám đãi tôi một tách cà phê tuyệt tác mà cô pha rất khéo chăng?

Cô Mai vội vàng đi pha cà phê, vì cô biết rằng nếu Hùng muốn giữ kín một điều gì thì dù có cạy răng chàng cũng không nói.


IX

BÀ TẢO NHẬN MỘT NGƯỜI KHÁCH TRỌ


Ngồi sau quầy hàng, bà Tảo đang mạng một đôi bít tất. Ngôi hàng vặt của bà hôm đó chỉ có lơ thơ vài người khách vào mua.

Mắt đeo mục kỉnh, bà Tảo vừa đan vài mũi vừa chống chỏi với giấc ngủ trưa, vì lúc đó không khí thật yên lặng và hơi oi ả.

Bỗng nhiên, một người đàn ông lạ mặt tiến vào, chào bà hàng và hỏi:

- Thưa bà cho tôi một miếng xà bông thơm.

Bà hàng lục trong cái hộp để trên quầy và lăng xăng hỏi:

- Thưa ông dùng thứ nào? Chanh, xả hay hồng ạ?

Ông khách đáp:

- Tôi cũng chẳng rõ nữa. Thôi, bà cho tôi một bánh xà bông xả cũng được.

Ông khách cầm xà bông rồi trả tiền, không cần mặc cả, nên bà Tảo thấy hả dạ lắm. Bà mỉm cười hỏi khách:

- Thưa ông có cần chi nữa không ạ?

- Thưa không, như vậy là đủ rồi. Hay là bà có thể cho tôi hỏi thăm một chút được không?

- Thưa được ạ.

- Vậy thưa bà, tôi đương muốn kiếm một phòng trọ có đồ đạc. Bà có thể chỉ giùm tôi một phòng trọ nào cho mướn trong xóm này không?

- Một phòng có đồ đạc ạ? Thưa, tôi không thấy có chỗ nào cả. Ông thử qua hỏi văn phòng địa ốc bên trước cửa kia, có lẽ họ giới thiệu được.

Người khách lắc đầu tỏ vẻ không muốn:

- Không, tôi không muốn qua đó. Tôi chỉ cần một phòng trong một căn nhà tĩnh mịch, mà chỉ nhận một mình tôi ở trọ thôi. Tôi có thể trả thêm tiền để có một không khí gia đình. Tôi không còn trẻ trung gì nữa nên cần có tiện nghi trước hết.

- Ông nói phải lắm – bà Tảo trả lời với vẻ chú ý – Thế ông cần phòng đó trong bao lâu ạ?

- Thưa độ một tháng rưỡi thôi.

- Có lẽ ông ở xa tới đây vì công việc.

- Thưa không, tôi tới đây vì lý do sức khỏe. Chẳng là tôi bị bệnh phong thấp, nên cứ đến mùa mưa là bệnh lại tái phát. Vì nhu cầu chữa bênh tôi muốn kiếm một phòng trọ trong một gia đình có thể lo việc nấu ăn và giặt ủi cho tôi luôn thể.

Bà Tảo thấy có cơ làm ăn được nên bà đáp:

- Tôi hiểu lắm, chắc ông muốn kiếm một nhà nào như gia đình chúng tôi chẳng hạn. Không phải dám nói khoe chứ chúng tôi nấu ăn khéo lắm, còn việc dọn dẹp lau chùi nhà cửa là chuyện quá dễ dàng…

- Vậy đúng là nơi mà tôi đang tìm kiếm, nếu bà có thể giúp cho tôi thì tốt quá.

Bà hàng vội chắp tay và nói với một giọng ngọt như mía lùi:

- Ông có thể hỏi bất cứ ai ở khu này, chưa bao giờ tôi cho ai thuê mướn phòng ở và đây là lần thứ nhất đấy ạ.

- Tôi thật cảm động hết sức, nếu bà chấp nhận tức là bà đã giúp tôi giải quyết một vấn đề rất cần thiết. Tôi không có ai quen thuộc ở đây nên chẳng biết tìm hỏi ai khác được.

Thấy tư cách lịch sự của ông khách, bà Tảo rất vừa ý nên, sau một lát suy nghĩ, bà đề nghị:

- Vậy thưa ông, nêu ông ưng ý căn phòng mà tôi đang ở, tôi sẽ nhường lại cho ông, nó giản dị nhưng sạch sẽ, và căn nhà thì yên tĩnh như một giáo đường ấy!

- Thực vậy ư thưa bà? Nhưng tôi đâu dám để bà thiếu phòng ở? – người khách nói – Thôi, xin bà bỏ qua chuyện này, tôi sẽ ráng đi kiếm nơi khác vậy.

- Không ông ơi, điều đó không có gì là quan trọng cả. Tôi xin dẫn ông đi xem phòng ấy ngay bây giờ nếu ông muốn.

- Thưa vâng – người khách vừa đáp vừa tiến ra cửa.

Bà Tảo bèn nhờ một bà hàng xóm trông hộ cửa hàng để bà đi cùng ông khách.

Đi độ mươi bước đã tới nơi, bà Tảo vừa vặn chìa khóa vừa nói: “Như ông đã thấy, căn nhà chỉ có một tầng lầu và tôi là người thuê duy nhất, ông không ngại phải đụng chạm với ai cả”.

Bà mở cửa, đứng né sang một bên và nói rất trịnh trọng: “Xin kính mời ông vào ạ”.

Lối đi thì hơi tối, nhưng căn phòng có một cửa sổ lớn nên rất sáng sủa. Đứng ở cửa sổ nhìn ra, người ta thấy những mái nhà xung quanh, bên trên có vài khóm cỏ mọc và xa xa một mặt hồ nước trắng xóa.

- Thưa ông coi được không ạ? – Bà Tảo hỏi – Ở đây không khí và ánh sáng mặt trời thật là đầy đủ, lại còn trông thấy cả mặt hồ óng ánh như gương nữa.

- Phòng này đẹp lắm – người khách vừa nói vừa nhìn xung quanh, rồi ông ta lại hỏi:

- Thưa, xin lỗi bà, bà ở đây có một mình, thế bà không có gia đình hay sao?

- Tôi có một đứa cháu gái : nó là một đứa trẻ mồ côi mà tôi nuôi dưỡng vì lòng từ thiện. Cháu đi làm cả ngày và tối về nghỉ ở phòng xép cạnh bếp ; như vậy chẳng bao giờ ông phải gặp nó.

- Dà, một cô cháu gái! – người khách nói với vẻ lơ đãng – Cháu bao nhiêu tuổi rồi?

- Thưa cháu 12 tuổi. Nhưng tôi xin nhắc lại là cháu không dám làm phiền gì ông đâu! Xin mời ông đi coi nhà ạ.

Căn nhà này vỏn vẹn chỉ có một phòng của bà Tảo, một phòng xép tối tăm để Cúc ngủ, một căn bếp và một cái sân nhỏ chen vào giữa hai dãy nhà lầu.

- Tôi thấy nhà bà cũng có cả một cái sân nữa, có phải không ạ? – ông khách hỏi có vẻ ngạc nhiên. Bà Tảo vội đáp:

- Vâng, cái sân này, xin để ông dùng luôn, chiều chiều ông ra đây hóng mát thì tuyệt. Ngoài ra, ông chẳng cần chú ý đến các cửa sổ kia : Ngôi nhà bên phải đang sửa chữa, không ai ở cả. Còn nhà bên trái thì chủ thuê đi nghỉ hè vắng, hiện bỏ không, chỉ có một bà già chẳng bao giờ thò mặt ra đến cửa.

- Như vậy được lắm. Nhưng xin bà đừng nghĩ rằng tôi muốn xa lánh mọi người. – Ông khách mỉm cười đáp. Rồi ông hỏi tiếp:

- Xin bà cho biết giá tiền một tháng là bao nhiêu ạ?

Bà Tảo là một con người rất lý tài, nên bà không đáp ngay mà còn ngắm nghía ông khách. Ông trạc độ tứ tuần, vóc người nhỏ bé, má bên phải có một vết sẹo và trông ra vẻ con người “có tiền”. Khi bà Tảo nói giá hai chục ngàn một tháng, ông khách chịu liền và nói:

- Vâng, thưa bà mai tôi sẽ dọn đến và chồng tiền trọ một tháng trước.

Rồi ông bước vào nhà, sau khi nhìn lại cái sân lần chót và nhất là hai cái cửa sổ của nhà bên cạnh.

- Thưa ông, Vâng ; ông tới lúc nào cũng tiện, hoặc ngay chiều hôm nay nếu ông muốn – bà Tảo đáp với vẻ khúm núm.

Sau đó, hai người xuống cầu thang và bà Tảo trở về cửa hàng, mặt mày rất tươi tỉnh. Người khách đi ra một cách vội vàng, men sát bên tường và mũ kéo sụp xuống, hình như sợ có ai nhận ra mình. Khi đi tới đầu đường, hắn ngoảnh lại thì thấy có hai người đang đi theo hắn. Hắn liền nhẩy lên một chiếc tắc-xi và cho tài xế một địa chỉ vu vơ. Xe vừa khởi hành thì hắn nghe phía sau cũng có tiếng xe chạy tới. Hắn biết ngay là hai tên kia đã bám sát nên hắn phải tìm hết cách để bỏ rơi chúng.


X

NGƯỜI KHÁCH TRỌ KHÔNG TỚI.


- Thưa cô, con đã về – Cúc đi bán hàng vừa về chào bà Tảo.

- Ừ, sao mày về trễ vậy? – bà Tảo vừa khâu vừa đáp, mặt không thèm ngửng lên.

- Thưa cô, con cũng về như mọi ngày đấy ạ.

- Thôi câm mồm đi. Lại tao bảo đây, mày có may được cái riềm này vào tấm màn cửa không?

- Thưa cô, được ạ.

- Vậy làm lẹ đi. Khi nào xong, sẽ ăn cơm – bà vừa nói vừa đưa cho con nhỏ một miếng vải ba-tít trắng. Tiếng nói của bà đỡ sẵng hơn mọi ngày và bộ mặt bà cũng đỡ càu cạu : món “áp-phe” bà vừa lãnh buổi trưa ngày nay làm bà tươi tỉnh hẳn lên. Cúc tiến lại dưới bóng đèn ngồi khâu, im thin thít, không dám hỏi tấm màn cửa này để làm gì. Nhưng bà Tảo đã bắt đầu kể cho nó nghe:

- Mày chưa biết chuyện gì à? – Bà nói với một giọng đắc thắng – Kể từ ngày mai nhà ta có một người khách trọ : tao đã cho một ông quí khách, giàu có lớn, từ xa đến đây mướn căn phòng của tao vì lý do sức khỏe.

- Thế ạ, thưa cô – con nhỏ hỏi một cách chăm chú.

- Phải, sáng mai ông ta dọn đến. Vậy mai mình phải dậy thật sớm để lau chùi căn phòng, rồi treo màn cửa và đánh bóng các đồ đạc.

- Thưa cô vâng – Cúc đáp và hỏi thêm – Nhưng thưa cô, cô sẽ ngủ đâu ạ?

- Thì có khó gì! Tao ngủ phòng mày, còn mày vào ngủ trong bếp, có gì mà phải áy náy!

Con nhỏ không đáp, nhưng có lẽ bà Tảo cũng thấy một vẻ bất mãn thoáng qua sắc mặt nó, nên bà hỏi ngay nó với một giọng ví von rất khả ố:

- Có lẽ nàng công chúa không vừa ý chăng, và nàng công chúa không muốn rời khỏi phòng the chăng?

- Thưa cô, con có dám nói gì đâu – con nhỏ đáp, mặt vẫn cúi gầm xuống món đồ khâu.

- Điều đó là dĩ nhiên rồi, vì mày không có quyền bàn cãi gì về những quyết định của tao cả. Ở nhà này tao là chủ, biết chưa?

- Thưa cô vâng.

Hai người tiếp tục khâu vá trong im lặng, và thời giờ trôi qua một cách chậm chạp, buồn bã. Cúc khâu rất cẩn thận, cố gắng cho đường kim mũi chỉ được nhỏ nhắn, đều đặn. Nhưng nó cảm thấy một nỗi buồn vô tả tràn ngập tâm hồn. Để khuây khỏa được phần nào, nó mường tượng lại những sự việc đã xảy ra ngày hôm qua, nhất là những câu hỏi rất tỉ mỉ mà ông Hùng đặt ra. Nhà cựu thám tử có thể vén bức màn bí mật lên chăng? Điều đó chưa ai có thể đoán trước được. Và nó thở dài nhè nhẹ, sợ cô nó nghe thấy.

Khâu màn cửa vừa xong, Cúc đi dọn cơm. Hai cô cháu ăn xong vội thu xếp đi ngủ, vì đêm đã khuya.

Khi nằm xuống giường, Cúc nghĩ đến tối mai nó phải nằm ở một xó bếp, nhưng nó tặc lưỡi với thái độ dửng dưng. Thôi chẳng có gì quan hệ! Tối về nó đã mệt nhoài thì ngủ đâu mà chẳng được. Thật vậy, lúc nó vừa đặt mình xuống thì nó đã ngủ say rồi. Nó mơ thấy con búp bê đi nhè nhẹ tới gần nó, cúi chào nó rồi đưa hai tay lên đầu lật mớ tóc ra. Cúc nhỏm dậy để định bắt lấy nó, nhưng con búp bê đã ù té chạy vừa lắc đầu như có ý bảo nó hãy chịu khó kiên nhẫn ít lâu nữa.

Hôm sau, bà Tảo đánh thức Cúc dậy từ bốn giờ sáng. Con nhỏ bắt tay vào công việc trong lúc hãy còn ngái ngủ. Nó chải, rửa và lau chùi cật lực. Căn phòng bóng lộn như một tấm gương và sau đó Cúc được tẩm bổ bằng một khoanh bánh mì cũ còn thừa từ hôm trước. Trong khi đó cô nó đã mang bày ra giường một chiếc mền thật đẹp, múc một bình nước, sửa soạn một chiếc khăn bông và một bánh xà bông thơm để ông khách dùng. Sau bà ta mở hé cửa sổ, đưa mắt nhìn quanh một lượt và lấy làm đắc ý lắm, rồi bà ta xuống nhà để mở cửa hàng. Một lát sau, Cúc cũng xuống lấy chiếc hộp rồi chào cô nó để đi bán hàng.

Đứng sau quầy hàng, bà Tảo đợi ông khách trọ.

Mong suốt cả buổi sáng, đến khi đồng hồ điểm 12 tiếng mà bà Tảo vẫn chưa thấy ông khách dọn đến. “Chắc chiều nay ông ta mới lại”, bà tự nhủ như thế để nén bớt sự lo âu. Đồng hồ lại đánh 2 tiếng, rồi 3 tiếng, rồi 4 tiếng! bà Tảo đứng ngồi không yên, hết ra cửa ngóng bà lại đi ra đến tận đầu đường, nhưng vẫn chẳng thấy tăm hơi ông khách đâu cả.

Trời đã tối, Cúc về tới nhà, vô tình hỏi thăm ông khách đã tới chưa. Bà Tảo đang bực tức, nhân được dịp này bèn quát lên để trút bớt cơn giận lên đầu đứa cháu vô tội:

- Câm ngay, mày đừng tưởng đã thoát được một cách dễ dàng như thế đâu ; mày vẫn phải nằm dưới bếp, dù người ta tới hay không, hiểu chưa?

Vậy là xong chuyện. Như nó đã biết trước, con nhỏ vừa đặt mình trên manh chiếu rách trải dưới đất là ngủ ngay. Còn bà Tảo thì chẳng làm sao chợp mắt được. “Tại sao hắn nói xạo như vậy? Bà tự hỏi. tại sao hắn làm cho ta tin tưởng là hắn định thuê căn phòng này? Chính hắn đã khẩn khoản và gần như buộc ta phải cho hắn xem nhà đấy chứ! Tại sao hắn lại không lại?” Quá bực mình vì không tìm thấy câu trả lời cho ngần ấy câu hỏi, nên lúc tảng sáng, khi trở dậy, bà vội vơ lấy tấm màn cửa và xé tan tành ra tùng mảnh cho hả giận.

__________________________________________________________________________
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>