Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

Phải Biết Chế Ngự Bản Thân

 

Ba chục năm trước, hồi tôi là một y sĩ trẻ ở Londres, trong số thân chủ của tôi có một cựu giáo viên bị một bệnh nan y. Ông ta mướn một phòng trong căn nhà một gia đình thợ thuyền nọ ở khu Paddington. Ông già tội nghiệp đó có một vẻ gì đặc biệt làm cho tôi cảm kích. Phải chăng là cái niềm vui bình tĩnh, cái nét thanh thản nó tỏa ra từ thân hình già nua mảnh khảnh và từ cặp mắt sáng ngời màu hạt dẻ của ông? Thành thử tôi lại thăm ông thường, cả những khi ông không cần tôi săn sóc.

Đầu mùa hè, tôi xin được một cơ quan từ thiện cấp cho ông 20.000 quan để ông thoát khỏi cái không khí ngột ngạt trong thành phố mà ra biển nghỉ mát một tháng vì tôi biết ông thích biển lắm. Mười ngày sau tôi thấy ông mệt mỏi, tiều tụy. Ngạc nhiên, tôi hỏi ông tại sao không đi. Ông làm thinh một chút rồi mới thú thực rằng ông không đi nghỉ mát, mà cho hai đứa trẻ của thím chủ nhà đi. Tôi cự ông, ông làm thinh, sau cùng mỉm cười một cách gượng gạo:

- Bác sĩ ạ, đôi khi cũng nên… nhịn tiêu đi.

Một tu sĩ vô danh Đức ở thế kỷ XV, Thomas a Kempis sống cô liêu trong tu viện, đã viết câu thâm thúy này, tóm tắt được cả vấn đề đó: "Chúng ta không thể hưởng được một sự tự do hoàn toàn nếu chúng ta không hoàn toàn hy sinh bản thân". 

Sự thực, khả năng tự chủ đó là căn bản của mọi đức hạnh, nguồn gốc của mọi tự do. Muốn được tự do về tinh thần thì con người phải làm chủ được bản năng của mình đã. Thánh kinh có câu: "Thà làm chủ được lòng mình còn hơn là chiếm được một châu thành".

A, nếu chúng ta hiểu được điều ấy? Không tự chủ được thì không rèn được nhân cách, không làm được một sự nghiệp gì có giá trị cả. Những công trình lớn lao, những cuộc đời vẻ vang không phải dễ dàng mà có đâu; phải nghiêm khắc kiểm soát bản thân, thắng được mình và hoàn cảnh rồi mới được hưởng những thành công đó. Nhạc sĩ nổi danh về piano, Paderewski, tóm tắt những gắng sức không ngừng của ông trong câu cô đọng này: "Trước khi thành bậc thầy, tôi đã phải làm nô lệ".

Người nào tự kiểm soát được mình thì có được cái sức mạnh tự chủ; người đó đã biết lựa chọn giữa hai thứ tự do: một thứ ngụy tự do, tức là hành động theo thị hiếu bất thường của mình; một thứ chân tự do, tức là tự do lựa chọn bổn phận. Muốn đạt sự chân tự do đó thì phải theo con đường nào? Nhà vật lý học Nikola Tesla cho ta biết ngay từ hồi nhỏ ông đã tự rèn luyện ra sao:

- Nếu tôi có một món ăn gì mà tôi thích lắm như bánh hay kẹo, thì tôi đem cho liền, dù là như vậy khổ tâm lắm đấy; nếu tôi có một bài làm hay bài tập nào mà tôi ghét lắm, thì tôi làm liền. Nhiều năm như vậy thì sự xung đột dịu xuống; rốt cuộc sở nguyện và ý chí của tôi không chỏi nhau nữa mà cùng hướng về một điểm.

Triết gia William James thì "không ai đáng thương hại bằng con người việc gì cũng do dự, dù là đốt một điếu thuốc, uống một ly rượu, định mấy giờ đi ngủ, mấy giờ thức dậy, hay làm một công việc nhỏ nhặt nào cũng phải đắn đo, suy tính".

Hết thảy chúng ta đều có một tật nào đó, lâu thành thói quen: hút thuốc nhiều quá, uống rượu nhiều quá, phí nhiều thì giờ quá trước màn ảnh truyền hình. Trước hết chúng ta hãy bỏ điếu thuốc lá quá số nhất định đó đi, bỏ ly rượu thứ hai, thứ ba đi. Nếu chúng ta mê coi truyền hình thì hãy khoan đã, đợi làm xong một công việc gì ích lợi rồi hãy coi. Chúng ta ăn nhiều quá ư? Thỉnh thoảng cần nhịn một bữa, có lợi cho sức khỏe, và ta sẽ được hưởng ngay phần thưởng của sự nhịn ăn đó, vì ta sẽ thấy dễ chịu trong người: ăn nhiều quá thì làm hại cơ thể. Khi ta thực sự làm cái việc tự chinh phục mình đó thì lý tưởng của ta cao hơn lên, mở rộng ra.

Chẳng hạn ta quyết tâm làm công việc một cách chuyên cần hơn, không làm phật ý ai, mà nếu người khác có làm thương tổn lòng tự ái của ta thì cũng không nổi quạu lên. Thắng được những việc nhỏ nhặt, thì chắc chắn sẽ thắng được những nỗi khó khăn lớn hơn; rồi một ngày kia sẽ thấy rằng, tinh thần mình mạnh lên lúc nào mình không hay, mình đã bỏ được những thói quen hồi trước làm cho mình tự khinh mình. Epictète bảo: "Anh nên sống một đời đạo đức, tập quen gắng sức thì sẽ thấy vui thích".

Không sao tả được cái nỗi vui khi mình đã khó nhọc tự thắng được mình. Chỉ có mỗi một con đường đưa tới hạnh phúc hoàn toàn là tự mình làm chủ được mình.

Mà nhân loại thì lại tin - điều này là một ảo tưởng nguy hiểm nhất - rằng càng có tiền nhiều càng sung sướng, chỉ có của cải mới làm cho ta giàu có, phong túc. Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy thời nào cũng vậy, những người đi tìm những hạnh phúc chân chính luôn luôn có một chủ trương hoàn toàn ngược lại. Thi hào Horace nói: "Càng sống thanh bạch thì càng được thần thánh ban nhiều phúc"; ông cho sự xa hoa, phóng đãng, ích kỷ của dân La Mã là những dấu hiệu báo trước sự suy sụp của đế quốc mênh mông đó.

Những kẻ nào bị thị dục chi phối, chỉ nghĩ tới chuyện hướng lạc thì ở cuối đường đời chỉ thấy sự chán chường, chết rồi thành tro bụi hết. Vậy mà thời đại chúng ta có biết bao nhiêu người coi mục đích chính ở đời là hưởng lạc. Họ miễn cưỡng làm việc và cho sự vui chơi mới là việc quan trọng trong đời người.

Thế giới ngày nay xáo động trầm trọng; không phải là nhờ sống xa hoa, chơi bời cho thỏa thích, có đủ những tiện nghi vật chất - cái đó chỉ làm cho cơ thể suy yếu, tâm hồn nhu nhược đi thôi - mà nhân loại được cứu rỗi đâu, chính là nhờ tâm hồn và nghị lực của mỗi người. Loài
người được trời ban cho cái khả năng tự tạo vận mạng cho mình - theo cái hướng tốt hoặc theo cái hướng xấu - từ trước tới nay đã chế ngự được các thú dữ và thiên nhiên, đã chinh phục được biển cả và không trung, nhưng chỉ khi nào tự chế ngự được bản thân thì lúc nào đó mới được biết sự tự do đích thực và nguồn hạnh phúc chân chính.

 
A.J.Cronin   
 

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

Cuộc Đời Của Đôi Bít Tất

 

Một buổi chiều mưa lạnh... Trong chiếc tủ kính tại một cửa hàng tạp hóa nàng "Bít-tất" (vớ) kể chuyện đời mình cho chàng "May-ô" nghe.

- Thân em nếu không có chất tơ làm gì được óng ả mịn màng thế này!

Nàng ngừng lại như moi sâu vào dĩ vãng, rồi chép miệng khẽ nói:

- Cách đây 4000 năm, Hoàng hậu Tiểu Lệ Chi, dạo chơi vào một buổi sáng mát trời tại vườn Ngự Uyển với các cung nữ.

Hoàng hậu chợt nhìn thấy cây dâu nặng chĩu quả lung lay trước gió. Một con bướm tằm óng ả tuyệt de;95 đậu trên một trái dâu bay ra. Trái này trông như một cuộn chỉ trắng, có thể kéo dài hàng trăm thước tơ.

Hoàng hậu Tiểu Lệ Chi về tâu Hoàng đế Hoàng Ti hạ chiếu cho dân chúng phải khai thác tơ tằm, sáng chế khung cửi để nhân dân dệt áo quần mặc.

Công việc phải tuyệt đối giữ bí mật. Nếu ai để cho người ngoại quốc học nghề sẽ bị tử hình.

Tuy vậy, năm 550 sau Thiên Chúa giáng sinh, vua Justinien xứ Byrance phái hai sứ giả Ba Tư sang Trúng Quốc học lỏm được nghề dệt.

Hai vị này lấy được ít ngài cho vào hai chiếc gậy tre mang về nước. Nghề nuôi tằm ươm tơ được truyền bá sang Âu Châu. Tại Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha dâu mọc rất tốt.

Thế rồi, từng đoàn lữ hành cưỡi lạc đà qua Ba Tư và Syrie đã mang tơ lụa để bán cho vua.

Mãi về sau người ta mới có sáng kiến chế ra bít tất.

Cổ nhân đã biết lấy vải và da quấn chân. Thời Trung Cổ người ta chế ra quần nịt. Từ thế kỷ thứ năm tại nhà thờ Milan (Ý) bít tất trắng chỉ để riêng cho các giám mục dùng.

Năm 1564, người Anh tên là William Rider chế ra thứ bít tất đan.

Độ ấy "phong trào" đan được phái thiếu nữ ham chuộng. Mục đồng vừa đan vừa chăn cừu, các cô gái tỉnh ngồi trông hàng, tay đan thoăn thoắt. Các bà mệnh phụ vừa đan vừa nói chuyện gẫu.

Giáo sĩ William Lee quen một thiếu nữ mê đan đến nỗi quên ăn quên ngủ. Ông là người đầu tiên nghĩ ra chiếc máy dệt bằng tay và chân vào năm 1580, dệt máy nhanh hơn đan sáu lần.

Nhưng máy này không chế tạo được thứ bít tất lụa đẹp để dâng nữ hoàng vì thế giáo sĩ không được cấp bằng sáng chế.

Giáo sĩ William Lee, không vì thế mà thất vọng ; ông ra công sửa chữa máy dệt vào năm 1587, hoàn thành được đôi bít tất lụa rất mỹ thuật để dâng Nữ hoàng.

Lần nầy "Ngài Ngự" có vẻ hài lòng, cảm tạ giáo sĩ nhưng vẫn không cấp bằng sáng chế.

Giáo sĩ cho rằng tại Anh-Cát-Lợi không phải là đất dựng sự nghiệp, William Lee sang lập nghiệp tại Rouen (Pháp).

Tại đây, Lee gặp nhiều sự may mắn vì vua Henri VI hứa sẽ cấp bằng cho nhà sáng chế.

Nhưng sau vua Pháp bị ám sát, William ôm hận xuống tuyền đài vào năm 1610.

Người anh của Lee là Jaques trở về Anh-Cát-Lợi với một nửa số máy dệt ; còn vài người Anh vẫn ở lại tiến hành công việc xưởng dệt của William Lee. Mãi đến năm 1865 họ phải rời nước Pháp vì họ là tín đồ đạo Tin Lành.

Họ sáng lập nghiệp tại Đức quốc, về sau nghề dệt lan tràn sang Áo và Ý. Những đôi tất lụa của vua Henri II dùng vào việc lễ cưới công chúa đã làm cho phái thượng lưu rất ưa chuộng.

Tại Pháp, nghề dệt lụa được chú trọng. Vua François đệ nhất đi đánh trận ở Milan về có mang trứng ngài và cho trồng 20.000 gốc dâu tại vùng thung lũng sông Rhône.

Về sau thượng thư Colbert phái Jean Claud Hindret sang Anh học nghề bít tất lụa.

Khi Hindret về nước, nhà vua cho lập 200 máy dệt tại lâu đài Madrid trong rừng Bologne và ra lệnh cho nhân dân không được mua bít tất ngoại quốc. Riêng nước Y, hàng năm đã mua 25.000 tá bít tất. Các tỉnh Lyon, Amiens, Nêmes và nhiều tỉnh khác cũng lập xưởng dệt. Mỗi năm trong nước có tới 50.000 người dùng bít tất lụa.

*

Cho đến năm 1818, người Mỹ mới mua "lậu" được một chiếc máy dệt của Anh giấu vào chiếc tàu buôn muối mang về Boston.

Ngày nay, bít tất "Nylon" được thông dụng nhứt.

Tại hội chợ quốc tế năm 1939, Du-Pont de Nemour đã quảng cáo rùm beng làm cho mọi người lác mắt, nào là mỗi đôi tất có 50.000 mắt lưới, phải 45 phút mới dệt xong. Máy dệt trị giá 50.000 "đô la" (dollar) và có 188.000 bộ phận!

Sau trận Trân Châu Cảng, Mỹ đã treo tại tòa Bạch Cung một lá quốc kỳ làm toàn bằng "ny lông".

Ngày 15-5-1945, đôi bít tất "ny lông" đầu tiên bán tại một cửa hàng tạp hóa lớn ở Nữu Ước (New York). Trong ba tiếng đồng hồ 50.000 đôi bít tất bán chạy hết veo.

Cảnh binh khó nhọc mới giữ nổi trật tự, kết quả mười bốn thiếu nữ phải đi nằm nhà thương vì chen lấn ẩu đả trong khi mua bít tất.

Năm 1954, Mỹ Quốc sản xuất được 700 triệu bít tất, cân nặng 10.000 tấn.

Rồi chưa biết nghề dệt còn tiến đến mực nào.

*

Mưa đã tạnh, cơn gió lạnh có phần dìu dịu, trai thanh gái lịch lũ lượt kéo nhau vào cửa hàng mua sắm.

Nàng "Bít tất" hẹn chàng "May ô" sẽ có dịp kể lại nhiều chuyện lý thú hơn...


HÀ HOÀI AN (Huế)    

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 14, ra ngày 25-2-1964)

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Cánh Lim Xẹt Rưng Buồn

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trời cao trong xanh quá
Mây lờ lững về đâu
Tiếng trưa buồn ray rứt
Bóng nắng rải trên đầu

Tháng hai sao tĩnh lặng
Những ngày tết thoảng mơ
Êm êm theo gió lướt
Đọng buồn lên trang thơ

Tiếng chim gù khe khẽ
Uể oải gánh hàng rong
Võng nhà ai kẽo kẹt
Lim xẹt vàng hư không

Giậu hoa vàng đổ gục
Nhung nhớ dáng xuân qua
Đàn gà con chiêm chiếp
Mắt xoe tròn thiết tha

Cô bé ngồi lơ đãng
Xích đu chẳng buồn đưa
Mái tóc dài đen rối
Gió qua rặng lá dừa

Tháng hai xuân bịn rịn
Khuất nẻo cuối làng thôn
Mắt ai như ngấn lệ
Cánh lim xẹt rưng buồn...

                                   Thơ Thơ
                       (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Theo Tháng Ngày Xa Vắng

 

 Cho M. Phụng (Đà-Lạt)

Xe bắt đầu vào thành phố, một vài cơn gió lạnh lùa vào, tôi kéo cao cổ áo lên và cố trườn người ra phía trước. Trong màn mưa mỏng, tôi thoáng thấy bóng dáng dì Hải đang đứng đợi trong đám thân nhân. Tôi nhận hành lý và vẫy tay gọi ríu rít.

Dì Hải đã nhận thấy tôi, cả hai dì cháu ôm nhau mừng rỡ, nỗi xúc động làm tôi nghẹn ngào không nói được lời nào. Mãi một lúc sau tôi mới lấy được bình tĩnh. Suốt quãng đường về nhà tôi kể chuyện như không kịp nghĩ.

Bảy năm rồi chóng thật, dì xa mẹ con tôi để theo chồng lên đây lập nghiệp. Cha tôi mất năm tôi vừa mới lên ba, tất cả chỉ trông cậy vào người em gái mẹ. Dì Hải luôn túc trực bên mẹ an ủi, khuyên lơn. Người thiếu phụ trẻ tuổi từ đây phải chống chọi với tháng ngày cam go trên quãng đường dài cô độc.

Tôi lớn lên trong tình thương người hiền mẫu, mẹ đã cho tôi tất cả lẽ sống. Thế mà nay tôi phải xa lìa khung trời thân yêu đó để lên đây trọ học. Những tháng ngày êm đềm bên mẹ tôi thấy mình như cột chặt trong vòng tay nồng ấm, trong hơi thở ngọt ngào, trong ánh mắt dịu hiền khoan dung. Ngày đi tôi muốn gói trọn tất cả vào hành lý.

Căn nhà hiu quạnh rồi đây sẽ hiu quạnh thêm. Xa tôi mẹ sẽ buồn và nhớ tôi không ít. Nghĩ đến mẹ nước mắt tôi lại ứa tràn ra. Dì Hải lặng lẽ lau nước mắt cho tôi mà không nói lời nào, có lẽ dì cảm thông giờ phút mủi lòng đó.

Căn phòng dì Hải dọn cho tôi cũng tạm ấm cúng, nhưng thích nhất là cái bàn học kê sát cửa sổ. Nơi đó tôi có thể quan sát chung quanh nhà. Dì Hải trồng đủ loại hoa, đặc biệt là giàn hoa thiên lý màu tím nhạt. Chiếc ghế xích đu được đặt bên dưới gốc cây.

Ba ngày trôi qua, mưa vẫn dai dẳng suốt ngày. Buổi sáng dì Hải bận đi dạy, chỉ còn tôi một mình trong căn phòng bé nhỏ, vẻ trống trải làm tôi lo sợ, tôi thấy lòng buồn vời vợi và muốn ra phố. Bức thơ gởi cho mẹ đã viết xong hãy còn nằm trên bàn học. Tôi vẫn ngồi bất động nhìn ra vườn, những cơn gió mạnh làm hoa thiên lý rơi lác đác trên lối đi dẫn vào nhà. Tôi bước ra ngoài, căn nhà thật vắng vẻ, tôi nghe tiếng cây cỏ xào xạc như tiếng nhạc đệm cho nỗi nhớ nhung càng dâng cao. Thả dọc theo con dốc, tôi xuống phố bỏ cái thơ, ghé vào quán sách chọn vài cuốn tiểu thuyết, tôi thấy mình bơ vơ, lạc lõng. Không biết giờ này mẹ đang làm gì. Mười giờ hơn chắc mẹ còn làm việc ở sở. Nhớ thật nhiều những lúc đêm về, tôi ngủ không an giấc, mẹ đến  bên giường vỗ về, đắp chăn lên tận ngực và hôn nhẹ lên trán tôi. Lúc đó tôi muốn ôm chầm lấy mẹ và nói lên tất cả tấm lòng yêu kính.

Giờ tôi lại xa mẹ hàng trăm cây số, tôi thèm nụ hôn quen thuộc của mẹ hiền, nhớ quay quắt mùi bánh lá thơm ngon tôi hằng ưa thích. Ôi! Tất cả hầu như ở tận khung trời xa xôi nào đó.

Nhớ làm sao những hôm tôi bị sốt, mẹ thức trắng đêm lo lắng, vắt từng quả cam, nhỏ từng giọt thuốc. Nhìn vẻ mệt mỏi với ánh mắt lo âu, tôi thấy như có một luồng nhiệt nóng ấm đang thổi vào tận buồng phổi, tim óc, tôi cảm thấy như một tình thương tuyệt vời đang dâng lên trong lòng khỏa lấp tất cả những bịnh tật đang vây kín.

Suốt ngày vùi đầu ở lớp học, trí óc tôi hầu như lơ đễnh, dòng chữ nhạt nhòa trước mắt. Tôi không tài nào học được, tôi linh cảm như mình sắp phạm tội. Tôi mơ hồ nghe tiếng mẹ khuyên nhủ bên tai, tôi bàng hoàng như một kẻ sắp chết đuối, một lữ khách lỡ chuyến tàu. Mẹ ơi: con muốn tìm lại dư ảnh những ngày vô tư, thơ mộng bên mẹ hiền. Mẹ tha lỗi cho con của mẹ nhé.

Tôi nhìn ra cửa sổ, trời lại lất phất mưa. Những giọt sương khuya còn đọng lại trên những đóa cúc vàng đang nở rộ. Thành phố vẫn còn mờ mịt hơi sương. Tôi bước nhẹ vào phòng dì Hải, đặt bức thư từ giã lên trên bàn ngủ, tôi vụt chạy thật nhanh, như sợ những gì xung quanh đây níu kéo lại. Dì Hải vẫn còn say giấc ngủ, mong rằng dì sẽ hiểu và tha thứ cho tôi.


HOÀI BẢO      

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 81, ra ngày 18-3-1973)

oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>