Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

CHƯƠNG VIII_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG VIII


Tại biệt thự Cẩm Hồng, cuộc vui đang tiếp diễn thì một người xô cửa bước vào, quan khách ngạc nhiên quay lại một lượt, nhưng khi nhận ra bác San, có người khẽ ồ lên một tiếng có vẻ khó chịu. Lại giở trò gì đây? Đang lúc người ta vui vẻ, thằng cha nghèo kiết dẫn xác vào, mang theo bọc giẻ lù lù, trông đến tởm. Trong đó, có một người xanh cả mặt vì nhận ra bọc giẻ gói trọn đứa con mình, chỉ chừa đôi mắt xanh trong và mái tóc vàng hoe xinh đẹp. Tấn suýt kêu lên vì kinh sợ. Quan khách dạt cả ra hai bên để nhường lối cho bác San, như thể bác là con tàu đang rẽ sóng. Không ai thốt được một lời nào. Sau, ông Cẩm lên tiếng, giọng hách dịch:

- Cái gì đó? Sao bác dám đường đột đến nhà tôi không báo trước? Bác biết hôm nay là ngày gì chớ? Thế này là nghĩa lý gì?

Mỵ Lan tò mò quá, không để ý là Tấn đang run rẩy cạnh mình. Người thợ dệt nói không ra hơi:

- Tôi cần gặp bác sĩ, gấp! Có người sắp chết!

Mọi người há miệng ra, chưa hết sững sờ. Như sợ họ nghi ngờ bác nói xàm, bác nói giọng rõ ràng, dõng dạc:

- Tôi đã đến nhà ông ấy, nhưng họ bảo bác sĩ Kim dự tiệc ở đây! Có người sắp chết, mẹ con bé này! Xin quí ngài đừng chậm trễ, chỉ bác sĩ cho tôi!

- Tôi đây! Tôi sẽ đi với bác ngay.

Bác sĩ Kim sốt sắng nói và tiến lại gần người khách không ai mời.

- Con bé hay thằng bé thế nhỉ?

- Trông kháu chứ! Này bác San, mẹ nó là ai thế? Làm sao bác biết…?

- Tôi chả biết gì cả, chỉ biết là bà ta sắp chết, nó là con gái đấy, thưa quí bà. Bác sĩ đi với tôi thôi, kẻo trễ.

Bác thợ dệt trả lời vắn tắt, đi trước dẫn lối, bác sĩ Kim theo sau. Chủ nhân nói to:

- Không có gì đáng quan tâm, chẳng việc gì phải gián đoạn cuộc vui, xin quí vị yên tâm.

Các bà, các cô bàn tán lao xao, rồi thì một bà, một bà có địa vị, tên tuổi nhất nhì tại làng tiến tới nói như ra lệnh:

- Này bác San, bác nên để đứa nhỏ đây tốt hơn!

- Bà bảo sao? Để nó lại đây ư? Đừng giỡn chớ! Nó đến nhà tôi, tôi không để nó lại đây hay bất cứ đâu cả. Tôi chỉ trả nó lại mẹ nó thôi, nếu mẹ nó còn sống.

Nói xong, bác cũng ngạc nhiên về lời mình. Cách đó nửa giờ bác chưa biết nên làm cách nào nếu mẹ nó chết đi. Bây giờ thì (quả tình bác không mong cho mẹ nó chết, vì nếu mong thế, bác đã chẳng hộc tốc đi tìm bác sĩ) bác tin là nếu mẹ nó chết thật, bác sẽ nuôi đứa bé, không do dự một ly con!

Thiếu phụ ngạc nhiên về lời lẽ bác thợ dệt, khẽ nói với một bà đứng gần mình:

- Người ngợm ở đâu mà ăn nói ngang ngược, nếu mẹ nó chết thì bác ta lấy gì nuôi nó? Bốc đất chắc? Nuôi thân chưa chắc đã xong!

Một bà khác:

- Hoài của, đang vui mà bác sĩ phải đi, lại lạnh ngắt thế kia, bực thật!

- Bực thật chứ! Cậu Tấn ơi! Cho nhà tôi mượn đôi ủng nhé?

Một người chu đáo hơn, nhắc:

- Phải có ai đi với họ, chắc cần…

- Ai mà đi giờ này?

- Tôi biết phải nhờ ai rồi : bác Vinh. Phi bác ấy thì không xong. Anh Hà, đi gọi bác Vinh ngay!

Thế là mọi việc được cắt đặt xong xuôi. Khi bác sĩ và bác thợ dệt bế đứa trẻ đi ra, cuộc vui tiếp diễn.

Mọi người quên bẵng câu chuyện trong 10 phút. Riêng Tấn, Tấn mất cả vui, chàng sợ là khác. Song trước mặt quan khách, nhất là trước Mỵ Lan, chàng vẫn nói nói, cười cười.

Chàng chỉ ngong ngóng cho tiệc tan để mình có thể đến xem tận mắt tính mệnh mẹ đứa trẻ ra sao. Chàng ao ước nó chết luôn cho xong, nhẹ mình biết bao nhiêu! Nhưng ngộ nó không chết? Chàng sợ quá, cho đến nỗi Mỵ Lan hỏi chàng hai ba câu, chàng vẫn không trả lời, vì ngồi đó mà hồn vía bay bổng đi đâu ấy.

- Anh làm sao thế? Anh mệt phải không? Thôi em về nhé?

- Không, em ngồi lại với anh! Anh không mệt đâu, anh hơi lo ra vì nghĩ đến thằng Phát…

Sự thật chàng cóc nhớ đến em. Mỵ Lan an ủi:

- Thôi, anh bận trí làm gì, anh có lỗi gì trong vụ này, anh đối xử tốt với anh ấy lắm, cụ biết mà…

- Vẫn hay rằng thế, nhưng anh không khỏi áy náy…

Tấn lại bị dày vò vì tiếng khóc, tiếng kêu : “ma ma!” của con chàng. Tội nghiệp, nó ngây thơ vô tội, nó đáng thương biết ngần nào? Vậy mà chàng không dám nhìn thẳng nó, chỉ nơm nớp sợ nó nhận ra mình. Tấn không thể nén tiếng thở dài khổ sở. Mỵ Lan đứng lên:

- Em phải về, em cũng buồn ngủ lắm rồi.

Anh chỉ đợi có thế:

- Thế để anh đưa em về…

Mỵ Lan:

- Anh đừng đi, trông anh xanh lắm, em sẽ về với vợ chồng chị Bích Huệ cũng được.

- Không sao! Anh đưa em về nhân thể tạt qua nhà bác San xem có thể giúp gì cho họ chăng?

- Vâng! Cám ơn anh!

*

Bà Vinh nhìn đôi giày mỏng ướt sũng của Tấn, kêu lên:

- Chậc! Cậu cảm mất! Cậu đã nhường đôi ủng cho bác sĩ, cậu nên về thôi.

- Không sao bà ạ, tôi đi cùng với bà đến đây, chả lẽ lại về. Tôi đứng đây đợi một chốc xem có gì cần, có thể giúp chăng?

- Vâng! Cậu tốt quá! Chúa sẽ phò hộ cậu!

Tấn không nghe bà Vinh nói gì cả, chàng đi đi lại lại giữa lối mòn trước nhà bác San, không sợ ướt giày, không sợ tuyết lạnh, chẳng sợ cảm hàn. Đầu óc chàng chỉ chăm chăm vào có một điều : cái chết – hay sự sống – của thiếu phụ trong nhà bác thợ dệt kia, vì nó ảnh hưởng đến tương lai cả cuộc đời chàng. “Than ôi, sự mù quáng của tuổi trẻ tai hại đến nhường ấy, tai hại thế đấy”. Tấn tự nhủ thầm.

Phải! Lý nên chết đi, phải chết đi, cần chết đi! Có thế tương lai Tấn mới sáng sủa vì không bị bóng tối của ả phủ vây. Có thế, Tấn mới có thể cưới Mỵ Lan yêu dấu, xinh đẹp, nết na, trong trắng. Có thế, chàng mới mong trở nên người đứng đắn, đàng hoàng, không phải nơm nớp lo Lý làm nhục. Có thế, thằng em ma mảnh của Tấn mới hết tống tiền anh.

Còn con bé thì chàng sẽ có cách bảo bọc nó, kín đáo bảo bọc nó, không sao. Nó là con chàng, giọt máu của chàng.

Tấn thấy nhẹ nhõm trong giây lát, nhưng một chốc sau, chàng lại nghĩ : còn nếu Lý sống, Lý không chết thì sao?

Tấn lặng đi vì sợ, chàng biết rõ Lý, ả đến đây giữa đêm khuya thế này với mục đích gì.

Cánh cửa hé mở, bác sĩ Kim xuất hiện, ông kêu lên:

- Tấn, cậu điên đấy à? Cậu đến đây làm gì?

- Thưa bác sĩ, cháu cũng vừa mới đến, cháu không ngủ được, thưa bác sĩ, thưa… người đàn bà, mẹ con bé…

Tấn nuốt nước bọt khó khăn, ngập ngừng không ra tiếng. Bác sĩ Kim:

- Vô ích! Chị ta chết rồi, vô phương cứu chữa.

- Tội nghiệp! Thưa, chị ta ra sao ạ?

- Còn trẻ, nom bệ rạc lắm, tôi ngờ là một gái giang hồ hết thời. Nhưng lại có mang nhẫn cưới hẳn hoi. Thật chả biết ra làm sao cả.

- Hôm qua, cháu có gặp một người đàn bà trên đường, không biết có phải người này không…

Cố giấu vẻ xúc động, Tấn nói. Bác sĩ thản nhiên:

- Thế ư? Cô này tóc dài, người mảnh mai… nhưng thôi, tôi đã làm tròn bổn phận, ta về ngủ, mai sẽ tính chuyện chôn cất cô ta. Đi!

Mặt đỏ bừng, Tấn lắp bắp:

- Bác sĩ đợi cháu một chút, cháu muốn xem mặt bà ta coi có phải người cháu gặp hôm qua không. Cháu ra ngay.

Tấn hấp tấp bước vào. Xác Lý được đặt nằm ngay ngắn trên cái giường gỗ ọp ẹp của bác San, mái tóc dài óng ả buông xuống gối, má hóp, mắt nhắm nghiền, môi tái ngắt, mặt nhợt nhạt; đúng là ả Lý giang hồ xinh đẹp một thời mà chàng say mê một dạo và làm chàng điêu đứng khổ sở mấy năm nay!

Lý đó! Ả đã ngưng thở, không bao giờ nữa, ả còn có thể tác yêu tác quái, dọa nạt chàng, làm khổ chàng. Chàng có thể thách thằng em du thủ du thực nữa…

Tấn quay lại lò sưởi và bếp, nhìn con : nó được bác San ủ trong lòng và trong đôi bàn tay to lớn. Nó còn thức, đã ấm lại được no. Đôi mắt ngây thơ trong sáng mở to đang chăm chú nhìn xác mẹ và hờ hững nhìn cha, nó không biết đó là cha nó (nó còn bé quá mà Tấn rất ít khi đến thăm con).

Trong lúc người cha vui buồn lẫn lộn vì tình cảnh oái oăm của cha con chàng thì nó quay đi rồi ngẩng lên nhìn người bế nó : nó đã quen với bác từ đầu hôm nên bạo dạn lấy tay kéo cổ áo bác và xoa xoa lên đôi má nhăn nheo của bác, nghịch chán, nó buông ra cười khanh khách một cách hồn nhiên.

Tấn, với giọng cố làm ra thản nhiên:

- Ngày mai, chôn xong mẹ nó, bác đưa nó ra nhà việc chứ? Hay bác định giao nó cho ai hở bác San?

Bác San không trả lời câu hỏi, mắt sáng lên vì tức giận, nói dồn một thôi:

- Sao tôi lại phải đưa nó ra nhà việc? Ai dám buộc tôi? Tôi giữ nó lại đây không được à? Ai cấm tôi?

Tấn ngỡ ngàng:

- Thế bác định giữ nó thật đấy ư?

- Tôi có nói giỡn bao giờ đâu? Hay là cậu cho tôi nói bậy?

- Không! Tôi không có ý nói thế, nhưng tôi e bác là đàn ông, lại có một mình…

- Xưa nay tôi vẫn một mình chứ có hai mình bao giờ đâu.

Tấn thấy khó nói rõ ý mình mà khỏi phật lòng bác San, anh lúng túng:

- Bác chưa hiểu ý tôi, tôi muốn nói bác không… đủ sức… nuôi…

Lần thứ nhất trong đời, bác thợ dệt tỏ ra thông minh, vì vậy bác tức giận thêm, gắt to:

- Cậu khỏi lo, tôi tuy nghèo đấy, nhưng tôi cam đoan là tôi nuôi nó được. Với lại, cậu có họ hàng thân thuộc gì với nó mà cậu chen vô việc này? Nó đến nhà tôi thì nó là của tôi, tôi chỉ trả nó cho một người…

Tấn buột miệng:

- Ai?

- Cha nó!

Bác gằn giọng, lập lại:

- Cha nó, cậu nghe rõ chưa? Nhưng người ấy phải trưng đủ bằng cớ kia.

- Phải lắm, bác nói đúng lắm.

Tấn nói mà tưởng như tiếng nói của ai chứ không phải của chính mình, giọng lạc hẳn đi vì ngạc nhiên và xúc động. Thấy Tấn tán đồng lời mình, bác San phấn khởi thêm, giọng bác dịu lại, bác hỏi:

- Này cậu Tấn, cậu có nghĩ là nó có cha không?

- Cái ấy thì đã hẳn, bác hỏi…

Tấn toan nói “bác hỏi ngốc quá đi thôi” song Tấn biết ngưng đúng chỗ, Tấn tự thấy xấu hổ và không có quyền khinh chê con người lương thiện đang bế con mình.

Bác San vội chữa:

- Ý tôi muốn hỏi cậu nó còn cha không đấy, cậu Tấn ạ! Tôi thì tôi nghĩ là cha nó chết rồi, cậu nghĩ có phải không?

Tấn đỏ mặt, gượng trả lời nước đôi:

- Bác nói… cũng có lý, vì nếu cha nó còn thì… Mà cũng có thể là cha nó còn…

Bác thợ dệt chồm lên, gân cổ cãi:

- Tôi không tin, nếu cha nó còn, đời nào cha nó lại bỏ mẹ con nó cầu bơ, cầu bất đến nỗi chết đường như vậy?

Tấn hiểu là cách tốt nhất nên nói xuôi theo bác San, và nom cái cách bác nhìn con mình, Tấn hiểu bác quí nó như trước kia bác quí vàng của bác.

- Bác có lý, chắc thế. Vậy là bác yên tâm giữ con bé, nhỉ?

- Phải, tôi giữ nó! Tội nghiệp nó! Nó bé bỏng, cô độc, tôi thì già rồi nhưng cũng cô độc như nó.

Và bác nhìn ra xa, giọng mơ màng như quên phắt cậu thanh niên con nhà giàu trước mặt mình, nói như chỉ cốt đủ mình nghe:

- Vàng bạc thì đi mất không về, còn con bé này thì tự nhiên từ đâu đến! Thật chả hiểu ra làm sao, nghĩ rối cả óc… chả hiểu gì cả… Như thể là phép lạ.

Tấn cảm động nhìn bác thợ dệt bế con mình, buồn vui lẫn lộn. Sự thể đã như thế, chàng không thể làm gì hơn mà cũng chẳng muốn làm gì, chàng ôn tồn:

- Bác tốt quá bác San ạ! Đây, bác nhận chút đỉnh tiền để may sắm cho nó…

Chàng vừa thò tay vào túi, bác thợ dệt lại chồm lên:

- Chớ! Chớ! Tôi không muốn ăn xin của ai để nuôi con, tôi không nhận tiền cậu đâu.

- Ấy, bác đừng nghĩ thế, chút đỉnh thôi đấy mà. Vả lại bác vừa bị trộm lấy hết vàng, bác quên ư?

Nghe nhắc đến chuyện mất mát, bác San thừ người ra, nhân dịp đó, Tấn đặt vào tay bác ít tiền vừa lấy ra trong ví, đoạn không cả chào hỏi, tất tả quay ra, vì anh sợ còn đứng đó, sẽ bị bác San trả lại tiền.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IX

CHƯƠNG VII_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG VII 


Riêng Tấn, lúc phần văn nghệ bắt đầu anh mới hồi hộp. Đó là lúc những người có tuổi rút lui hay ngồi vào một góc, là lúc thuận tiện để anh trao đổi tâm tình với người anh trộm nhớ thầm yêu.

Cô Mỵ Lan đẹp dịu dàng trong cái áo dài bằng xa tanh mầu ngọc bích, mớ tóc vàng óng ả được cột lại bằng một sợi băng cùng mầu với áo cô. Ngồi bên Tấn, cô lắng nghe và thỉnh thoảng gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Cô ít khi pháy biểu ý kiến, chỉ vỗ tay sau khi Tấn vỗ tay.

- Anh có lầm lỗi thực, Mỵ Lan ạ! Nhưng anh đã biết hối hận, anh hứa với em là anh sẽ cố gắng để xứng đáng với em. Ba anh chỉ bằng lòng cho anh kết hôn với em, chỉ với em thôi…

Mỵ Lan sung sướng, ửng hồng cả mặt. Cô chả kén chọn chi đâu, cô chỉ dè dặt một chút thôi. Được làm vợ Tấn là một điều hay… có lẽ ba cô cũng đồng ý. Cô cảm động vì công tấn đeo đuổi lâu nay, anh ấy thực tình đấy chứ? Cô thỏ thẻ:

- Em cảm ơn anh. Em rất sung sướng được có người chồng như anh, chỉ xin anh đừng như lúc trước… thế thôi.

Tấn choáng váng như vừa cạn cốc sâm banh. Chao! Hạnh-Phúc! Còn Hạnh Phúc nào hơn! Trong thoáng chốc, anh như mê đi, như được du vào một thế giới đầy hoa bướm, xung quanh chỉ có anh và người anh yêu, choán ngợp bởi men rượu và hương thơm.

Tấn quên, quên tuốt hết, sự lỡ lầm đã qua, thằng em tai quái vừa rồi, ngay cả Lý, cô gái mà anh dan díu thầm lén, vẫn không ngừng đe dọa anh… làm anh do dự lâu nay trong câu chuyện đi đến hôn nhân với Mỵ Lan Hiện tại, Lý chỉ còn là cái bóng mờ thấp thoáng trong tim anh, cái bóng mờ làm anh kinh tởm, thù ghét, sợ hãi mỗi khi nhớ đến.

Cùng lúc ấy, Lý lại không quên anh. Ả cũng thù ghét, oán hận anh không kém, chỉ khác cái là anh thì muốn quên Lý, còn cô ta thì không, cô ta nhớ đến anh luôn ; anh muốn chấm dứt sự liên lạc giữa hai người, còn ả thì mong tiếp tục.

Tay bế con, lòng giận dữ, ả vừa tiến bước một cách khổ nhọc trên còn đường đến làng Vệ, vào nhà anh. Ả quyết tâm sẽ làm nhục anh giữa tiệc giáng sinh, mặc kệ quan khách đã tráng miệng chưa, mặc kệ phần văn nghệ mới mở đầu hay sắp kết thúc.

- Mẹ cha chúng nó chứ! Tiệc với tùng, văn gừng với văn nghệ trong lúc bà xác xơ, đói thuốc thế này này…

Ả tức sùi bọt mép khi nghĩ rằng trong lúc ả bồng con lê từng bước cực nhọc trên bùn, co ro cóng róng trên tuyết thế này thì tại biệt thự Cẩm Hồng ở làng Vệ, Tấn đang vui đùa với mọi người.

Càng nghĩ càng căm : Tấn đã, trong một lúc giận dữ nói phăng ra rằng thà chết chứ không đời nào anh có thể nhận ả làm vợ được.

“Mày sẽ biết tay bà” Ả dọa thầm như thế trong lúc đôi chân tê cóng. Ả sẽ đến biệt thự giữa tiệc vui, quần áo rách rưới, dáng bộ tiều tụy, mặt mày nhợt nhạt với đứa con thơ giống Tấn như khuôn đúc, để coi cha Tấn xử trí ra sao? Ha! Tưởng tượng đến lúc mọi người trố mắt nhìn mẹ con ả là ả thấy đủ hả hê rồi.

Lý là một ả giang hồ quá xuân mà sắc đẹp kiêu kỳ đã vào thời tàn tạ. Bây giờ ả không còn cám dỗ được ai, nên bám riết theo cậu con trai nhà hào phú sống lây lất và điều mong mỏi duy nhất là được làm vợ chính thức của cậu ta. Tấn, sau phút lầm lỡ đầu tiên, hối hận thì đã muộn. Ả nhất quyết không buông cậu. Song cậu chỉ chu cấp cho ả chứ không bao giờ tính chuyện đi đến hôn nhân. Vin vào đứa con mà cả hai bên đều không mong có, ả làm tình làm tội cha nó đủ điều.

Ả túng quẩn chỉ vì nghiện ngập chứ không phải Tấn bỏ bê, nhưng ả không tin thế, ả cứ cho là tại Tấn nên ả mới xuống dốc đến mức này (dù là sự thực, ả nghiện từ khi chưa chài được Tấn, mà Tấn thì mãi sau đó ít lâu mới rõ chuyện này).

Vì quá rét, lại không quen vất vả, Lý không thể đi thẳng một mạch đến đích, ả phải dừng lại trong một cái chuồng bò ven đường cho đỡ rét một lát, chờ cho tuyết tan, mưa tạnh. Nhưng ả nấn ná quá lâu vì ngại đi, vì vậy, trời tối sập mà mẹ con ả còn thất thểu trên đường, con đường như dài thêm ra mãi. Ả cũng không quen đường lối đến làng, phần quá nhọc, ả phải ngừng lại lần lưng lấy lọ thuốc ra, dốc hết vào miệng. Lọ thuốc còn rất ít, vì ả cạn tiền từ nửa tháng nay, mà Tấn thì tức ả đe dọa nên không cho thêm tiền nữa.

Lý vứt chai thuốc lăn lông lốc trên mặt tuyết, ả lê chân bước tới trong khi đầu óc lâng lâng, bay bổng… Càng đi, Lý càng cảm thấy đầu óc tê mê. Thuốc đã ngấm… ả không còn muốn gì hơn là được nằm lăn ra đâu đấy, làm một giấc, gác lại hết : sự trả thù, sự tức giận, sự buồn tủi, lòng thương con…

Nhưng ả không thể làm thế, vì ả biết con ả sẽ chết cóng trước khi đến đích. Phải cố gắng một tị, trong đời ả, ả chưa hề biết đến cố gắng lần nào. Phải cố, ít nhất là lần này chứ!

*

Trời quang đãng dần, các vì tinh tú hiện ra, lấp lánh như những viên kim cương đính trên một tấm dạ tím thẫm, mặt đất tuyết loang loáng; nhưng Lý chả thấy gì hết, ả đi như kẻ mộng du, hai gối cơ hồ muốn khụy xuống, nếu không tận lực chống lại. Cho đến một chốc sau, cơ thể mệt nhoài, tứ chi rã rời, ả gục xuống gần bụi cây thấp, đầu gối lên bụi, mình nằm trên tuyết, ả quên hết : cả cái lạnh ngấm vào qua mấy lớp áo cũ mòn, cả con thơ có thể chết cóng. Tuy vậy, trước khi mê thiếp hẳn, ả cũng còn cố gắng để ôm chặt lấy con, ủ nó cho kín.

Rồi cuối cùng, ả trở thành vô tri, cứng ngắc, mấy ngón tay duỗi ra. Đầu đứa trẻ rời khỏi tay mẹ, nó giật mình mở to mắt, hấp háy nhìn ánh sao sáng trên cao. Đứa trẻ kêu lên mấy tiếng bập bẹ “ma ma” và cố bò vào tìm hơi ấm của mẹ, song mẹ nó không nhúc nhích.

Chợt có ánh sáng lóe lên (bác San vừa mở cửa), như vâng theo một tiếng gọi mơ hồ đâu đó, con bé chập choạng đứng lên, tiến về phía có ánh đèn.

Con bé bò lên thềm, vào nhà bác thợ dệt một cách tự nhiên. (Mẹ nó vẫn bỏ nó một mình từ khi mới lọt lòng). Trông thấy lửa ấm, nó rất thích, đến gần bếp lửa, nó ngồi xệp xuống… chỉ trong thoáng chốc, con bé nằm lăn ra, đánh một giấc ngon lành như vừa được về nhà.

*

Bác San như mất trí từ ngày xảy ra vụ mất tiền. Cứ lâu lâu lâu bác lại đi về phía cửa lớn mở toang ra như thể dõi mắt theo số của cải bị kẻ gian lấy đi hay là đứng đợi nó mang trả lại. Cử chỉ đó đã thành thói quen. Nhân một bữa có người nửa đùa nửa thật bảo:

- Này bác San, vào những ngày cuối năm, nên mở cửa ngỏ để đón thần tài và xua sự xui xẻo đi luôn.

Ấy, thế là bác lại càng tin. Thế rồi hôm nay, ngay từ lúc nhá nhem, bác đã mở cửa ra, ngóng đợi, dù bác chả thấy gì, tuyết che mờ mịt bên ngoài. Lần cuối cùng nhìn ra, bác thấy trời tốt nên hơi thinh thích, đứng ngắm hồi lâu. Mắt kém nên bác nom thấy có bóng người đi lại bác cũng không tin là có thực, mà dù có, thì can dự chi đến bác? Đường là để người ta đi lại chứ, bác chú ý làm gì?

Rồi bác trở vào nhà, giơ tay toan khép cửa nhưng nghĩ thế nào, lại thôi. Cứ để cho thần tài đến và xua cái xui xẻo đi, đã sao? Còn gì quí mà kín đáo, mà then cài chốt chặn cho nhọc chứ?

Nghĩ thế, bác để cửa quay vào nhà, đi được bốn năm bước thì bác cảm thấy choáng váng, muốn lê lại giường rồi sẽ nằm, song không kịp nữa, bác chỉ đủ sức tựa vào bức vách, thiếp đi.

Lúc đó chính là lúc con bé bò lên thềm bác, vào nhà, vì bức vách khuất vào góc tối nên con bé không nom thấy bác, chả sợ hãi gì cả, tự nhiên như không.

Khi bác San tỉnh lại, cảm thấy lạnh, bác vội vàng đi đóng cửa. Bác cũng không rõ mình thiếp đi bao lâu, bác không thấy gì ngoài ngọn lửa tàn dần trong bếp. Bác vội vàng châm thêm củi, khi gian nhà tồi tàn sáng lên thì vật đầu tiên mà bác nhìn thấy là mớ tóc vàng óng ả của con bé đáng thương. Trông gà hóa cuốc, bác San suýt reo lên : vàng đã trở về với bác!

Bác lao tới, thò tay sờ vào đó và nhận ra là một cái đầu nhỏ xíu với mớ tóc xinh xinh và khuôn mặt cũng xinh xinh. Vô cùng bối rối, lùi lại một giây rồi người đàn ông cúi xuống nhìn kỹ nhân vật nhỏ bé lạ lùng, tự hỏi nó đã đột nhập vào nhà mình từ lúc nào hay ai đưa đến? Trả lời sự ngạc nhiên của bác chỉ có sự lặng lẽ của đêm sâu, thêm vào đó là tiếng thở đều đặn và nét mặt trong lành, sáng rỡ tựa như nét mặt thiên thần.

Bác thợ dệt dụi mắt hai lần liên tiếp vì tưởng mình mơ, bác lại châm thêm củi như tuồng cầu cứu với bếp lửa để ánh sáng giúp bác nhận định rõ ràng…

Khi ngọn lửa sáng rực to lên, bác nhìn sững con bé rồi lại nhìn ngọn lửa, ngọn lửa có vẻ reo vui, nhảy nhót chia mừng với bác, như thể muốn nói với bác rằng : “Vui lên bác San ơi! Vàng đấy! Vàng đã trở về đấy!”.

Còn con bé, nét ngây thơ vô tội trên khuôn mặt bé bỏng xinh xắn chợt làm bác động lòng. Con tim khô cằn, chôn giấu khổ đau từ bao nhiêu năm qua, thốt nhiên trở lại tươi trẻ trong thoáng chốc! Một thứ tình cảm bỏ quên được đánh thức bất ngờ trong tim bác. Vâng theo một sai khiến vô hình, bác thợ dệt mở rộng vòng tay bế đứa trẻ lên làm nó giật mình mở choàng đôi mắt xanh trong veo và nụ cười tươi hơn đóa hồng trong nắng sớm.

Đột nhiên bác nhớ đến đứa em gái của bác, đứa em gái bé bỏng mà khi bác mới lên mười bác đã bồng bế, nâng niu suốt một năm ròng. Rồi khi nó chết vì bạo bệnh, bác đã khóc thật nhiều, thật lâu và mẹ bác phải dỗ dành bác, hứa hẹn là một ngày nào đó bác sẽ gặp em ở cõi Thiên Đàng.

Bác San hết sức hoang mang : Hay là mình đã chết rồi cũng nên? Phải! Mình có tội lỗi gì đâu mà Thiên Đàng đóng cửa không cho mình vào? Mình lương thiện làm ăn, hết chịu oan nhục kia đến chịu mất mát nọ. Mình cũng chẳng tiếc gì ở cõi trần…

Con bé trong tay bác đã ngủ lại và bây giờ bác nhận thấy nó hao hao giống em mình làm cho bác càng tin chắc là mình chết thật rồi. Bác San không nghĩ ngợi gì cả, những kỷ niệm xa xôi thay nhau ùa tới trong trí nhớ con người chất phác đó rồi con bé cựa mình, quàng tay ôm lấy cổ bác một cách tin yêu. Bác San băn khoăn không hiểu cuộc sống ở thiên đàng sẽ ra sao, nhưng lo lắng thì không, tuyệt nhiên không. Bác lại nghĩ đến cách tìm gặp mẹ, phút chốc, bác mơ màng sống lại hình ảnh mình thuở lên mười, chân không, đầu trần, nghịch tuyết ngoài đồng, bác chợt thở mạnh vì biết rằng cái hồn nhiên của tuổi thơ đã bỏ bác mà đi từ lâu lắm.

Lần này con bé thức dậy hẳn, nó gượng ngồi lên trong lòng bác, ngơ ngác một chút rồi òa khóc. Nó vùng vẫy không chịu cho bác bế nữa, đòi tuột xuống đất, bác phải chìu theo. Chân vừa chạm đất, nó im ngay, chập chững bước đi miệng không ngớt kêu : “ma, ma!” bằng cái giọng chưa sõi, mắt nhìn quanh tìm kiếm. Nó đi chưa vững, bác San phải giơ tay hờ phía sau chực đỡ. Rồi nó ngồi xệp xuống đất, ngẩng nhìn bác, chỉ vào giày, dáng bộ khổ sở. Bác sờ đến thì thấy đôi giày ướt sũng, lạnh ngắt. Tội nghiệp biết chừng nào, vậy mà bác có biết chi đâu? Bác vụng về cởi đôi giày bé xíu ra, con bé ngồi yên có vẻ dễ chịu, nhưng chợt nó nhìn vào mặt bác, khi nhận biết người lạ săn sóc cho mình, nó tỏ vẻ không bằng lòng, mếu máo chực khóc. Bác San dỗ dành nó bằng những lời lẽ mà từ lâu lắm bác không có dịp dùng và hết sức khó khăn mới tháo được đôi vớ ra khỏi chân nó. Bác bế nó lên mình, đem lại gần lửa, sưởi ấm đôi chân nhỏ bé tái đi vì lạnh.

Sự kiện trên làm bác chợt tỉnh, biết rằng con bé vừa đi ngoài tuyết vào và khi nó cất tiếng khóc to lên thì bác hiểu ra rằng bác chưa chết, bác còn sống, đang ở trong nhà tại làng Vệ, khung cửi, soong quánh, bàn giường mọi vật vẫn không suy suyễn chút gì. Chính con bé vào nhà bác, và nó là đứa trẻ lạ chứ không phải bác vừa lên thiên đàng gặp lại em!

Bác San đâm hãi, bác nghĩ đến lúc dân làng kết tội bác bắt cóc con họ thì rầy rà to, nhưng bác biết nó ở đâu, là con ai mà mang trả bây giờ?

Vứt nó xuống thì không nỡ, bác loay hoay khổ sở chưa biết tính sao. Đột nhiên, con bé nhoài mình phía cửa vừa khóc vừa chỉ ra ngoài. Không cần suy nghĩ, người đàn ông bế nó ra ngoài.

Ánh sáng trong nhà chiếu ra cho bác thấy những vết chân nhỏ bé in trên mặt tuyết lóng lánh làm bác xót xa nghĩ đến nỗi bơ vơ khổ sở của đứa bé lạc loài. Con bé vẫn nhoài tới trước, miệng không ngớt : ma ma!

Bác bế nó đi theo hướng nó chỉ, tuyết phủ mịt mờ trắng xóa con đường trước mặt và nhờ vậy bác dễ dàng nhận thấy một thân người trên tuyết cạnh bụi cây, bác chưa kịp có phản ứng, đứa bé đã gỡ tay  bác chạy về phía đó. Lần này tiếng kêu của nó đượm vẻ mừng rỡ vô cùng.

Bác San hết lo sợ người ta ngờ mình bắt cóc đứa bé, sờ vào mình thiếu phụ thì thấy lạnh ngắt, nhưng bác chưa tin là chết rồi, vội vàng bế đứa trẻ chạy về nhà, để nó lại, mặc kệ nó khóc lóc; bác cài cửa phía ngoài rồi trở lại chỗ cũ bồng thiếu phụ về nhà, đặt lên giường.

Con bé không tỏ vẻ sợ bác nữa, nhưng lại khóc. Biết nó đói bác vội vàng cho nó ăn. Nó ăn một cách ngon lành. Bác không thể lo cho mẹ nó khi nó đói được. Và muốn làm gì cũng phải dỗ nó ngủ mới xong.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VIII

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

CHƯƠNG VI_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG VI


Vụ trộm nhà bác thợ dệt làm xôn xao dư luận trong làng. Chỗ nào, lúc nào người ta cũng bàn tán đến tình cảnh khốn đốn của bác ta, người ta tỏ ra thương hại bác ta và phẫn nộ đối với kẻ gian. Nhưng không vì thế mà kẻ gian xuất đầu lộ diện, kể từ tối hôm đó, kẻ gian lẫn vào bóng tối, biến mất luôn..


Bây giờ là lúc nhà chức trách thi hành phận sự. Cán cân công lý ở nơi đèo heo hút gió này rất hiếm khi được sử dụng, giờ đã có cơ hội! Cũng là dịp cho những kẻ có óc trinh thám trổ tài : cùng với nhà chức trách, họ đi lùng vết tích tên gian. Khổ nỗi : mưa to đêm ấy nên mọi dấu tích đều bị mưa xóa hết.

Sau, có người đề nghị nên đến hầm đá mà tìm, may ra. Quả vậy, gần hầm đá người ta bắt gặp một cái hộp đựng đá lửa lẫn trong bùn. Mọi người đều quả quyết cái hộp này có liên hệ với tên trộm nhà bác thợ dệt, mà anh hàng rong thì lại cũng liên hệ đến hộp đá lửa : anh ta có bán cả thứ này. Hương lý, hội đồng xã hợp với cảnh sát điều tra tỉ mỉ thì được biết thêm : cách đó hai tuần, anh hàng rong có tạt vào quán Ngàn sao uống vài cốc.

Một người nhắc lại lời mình đã nói:

- Thằng cha ấy có cái nhìn gian lắm!

Và chỉ có thế thôi, ngoài ra không có gì hơn. Không có một chi tiết gì rõ ràng khả dĩ có thể kết tội một ai. Một vài người thì thào có vẻ bí mật – có điều dáng bộ họ thì bí mật, quan trọng song lời lẽ họ chả có gì đáng gọi là bí mật, quan trọng. Cái mới rầy.

Nhà chức trách đòi khổ chủ đến, hỏi về tên hàng rong thì bác San trả lời:

- Vâng, gã ta có đến nhà tôi, nhưng mời tôi không được, gã đi liền.

- Đích thị! Đích thị!

Hai ba tiếng xì xào nổi lên. Nhà chức trách không dễ tin như thế, nhà chức trách có thể nghi nếu khổ chủ nghi kìa, nhà chức trách hỏi vặn:

- Bác San, hãy trả lời thật thà : nhân danh pháp luật ta hỏi bác, bác có nghi cho gã hàng rong không? Cứ thực tình nói ngay, pháp luật đứng về phía người lương thiện, về phía bác, đừng sợ gì cả. Phải giúp chúng tôi tìm ra thủ phạm…

Mặc dù là đại diện nhà nước có những lời lẽ hùng hồn, hay ho như vậy, nhưng bác San khó mà quên được cái tát nẩy đom đóm mắt do Dân tặng mình đêm xẩy ra vụ trộm, và gã hàng rong là người đứng hàng thứ hai – sau Dân – bác có hơi nghi nghi, bác vẫn trả lời giọng ỉu xìu như bánh đa ngâm nước:

- Thưa, tôi không dám nghi ai cả, mất của thì đi thưa, thế thôi.

Nhà chức trách bực mình:

- Trả lời thế không được! Ta hỏi bác có nghi hay không chứ không có chuyện dám nghi. Bác làm mất thì giờ thêm…

Bác San gãi đầu gãi tai:

- Thưa, tôi cũng chả biết nói sao…

- Gã hàng rong có vào nhà bác và ngồi lâu không? Có vẻ dòm ngó chi chăng?

- Thưa không, tôi nhớ rõ ràng anh ta chỉ đứng ngoài mời một câu, tôi lắc đầu là anh ta đi liền. Anh ta cũng không có vẻ dòm ngó chi cả, nom anh ta vội lắm, vì lúc ấy trời sắp đổ mưa.

Một người vụt góp ý:

- Thưa, tôi nghĩ rằng ngài nên tiến hành cuộc điều tra về gã hàng rong, không tin lời bác San được, mắt bác ấy kém lắm, gã hàng rong có dòm ngó bác cũng chẳng biết nổi.

Một người nữa, nặng óc địa phương nhất làng, nói thêm:

- Làng Vệ ta xưa nay lương thiện có tiếng, nếu không tìm ra thủ phạm thì tôi e mất mặt với thiên hạ. Tôi thì tôi chắc gã hàng rong chứ không ai khác vô đây. Tôi mà đoán sai thì tôi xin cuốn gói, bỏ làng đi xứ khác làm ăn.

*

Thế là nhà chức trách có mục tiêu để theo đuổi, thi hành phận sự : gã hàng rong tung tích rất mù mờ được chú ý từ sau câu chuyện. Cũng chẳng dễ dàng gì : gã quê quán chỗ nào không ai biết, tên không biết, tuổi không biết, nhà cửa cũng không biết, tóc thì đen, da sâm sẩm, không có hình dáng đặc biệt, hai tay hai chân nguyên vẹn, giọng nói cũng thường thường, không què quặt, không ngọng nghịu. Chao ôi! Mà cái nghề hàng rong thì có rất nhiều người làm. Những món của họ bán đều rất giống nhau : đồ trang sức lặt vặt, kim may , kéo, dao cạo, cúc áo v.v… giọng rao hàng giống nhau ở chỗ lanh lảnh kéo dài rồi tắt mất khi họ đi xa. Chuyện đâu phải dễ dàng gì?

Tóm lại, chỉ bác thợ dệt là thiệt thòi trong vụ này. Bác đau đớn không thể tả. Khung cửi, chỉ vải, thoi suốt thì còn trơ ra đấy, vàng bạc, thứ quí nhất thì bị cuỗm mất tăm, biết bao giờ, biết bao giờ nữa, bác San mới có cái thú được sờ đến những đồng vàng? Biết bao giờ bác mới kiếm ra được ngần ấy vàng, vàng lóng lánh rực rỡ, xinh đẹp hơn mọi thứ trên đời…

Vẫn hay rằng bác không thể nhất đán bỏ nghề, mà bỏ nghề thì lấy gì sống? Nhưng sau tai nạn tày trời đó, bác làm việc một cách cầm chừng, không hứng thú, say sưa như lúc trước. Còn có gì để nâng đỡ tinh thần bác nữa, còn gì để làm bác hăng say nữa, kia chứ? Bác nản hết sức là nản, có khi ngủ gục trên khung cửi, một phần vì cả đêm mất ngủ tư tưởng nhớ tới số vàng không cánh mà bay, nhưng phần chính là vì bác buồn bã quá.

Ngồi dệt, thỉnh thoảng bác lại kêu lên những tiếng vô nghĩa, khi thì bác thì thầm như thể bị ma làm. Nhiều đêm bác không đủ can đảm lên giường, cứ ngồi lặng thâu canh, một mình, một bóng bên ngọn lửa leo lét cháy, hai tay bưng đầu, rên rỉ, lầm bầm.

Nhưng trên đời hễ có rủi thì có may : sau vụ trộm, mọi người đâm ra thương mến bác. Vì cứ cung cách bác xử sự sau đó, ai cũng biết bác thực thà chứ không quỉ quyệt như họ vẫn ngờ. Có thể là bác còn ngờ nghệch nữa là khác. Chứ không ư? Không ngờ nghệch ai lại vô ý để mất của dễ dàng thế bao giờ?

Do lẽ đó, mọi người đều tỏ ra sốt sắng, niềm nở đối với bác thợ dệt vận đen. Mỗi người có một cách đối xử riêng với bác : kẻ an ủi bằng lời nói, người thì giúp đỡ bằng hành động. Họ đến tận nhà trò chuyện, hỏi han, họ mang thức ăn đến biếu bác.

Trong số những người cảm tình với bác, có một góa phụ : bà Vinh. Bà là người tốt bụng đối với tất cả dân làng, tuy phải cái nghèo. Lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ xung quanh khi ai cần đến. Chỗ nào ma chay, đau ốm là có mặt bà. Hình như trời sinh bà ra là để an ủi, giúp đỡ kẻ đơn côi, quan quả, khổ đau. Nét mặt phúc hậu, giọng nói dịu dàng, cái nhìn ấm áp. Các con lớn đã ra riêng, bà Vinh chỉ còn đứa con trai út, thằng bé tên Quang, mới lên tám, mặt mũi sáng sủa không hay nghịch  phá như các trẻ cùng trang lứa.

Một hôm vào chiều chúa nhật, mẹ con dắt nhau đến nhà bác San thăm, cắp theo một cái rổ bên trong đựng hai chiếc bánh vàng ngậy, ngon lành. Quang không mấy thích đến nhà bác thợ dệt mặt mũi xấu xí, nhất là chợt nhớ đến tiếng khung cửi rên kẽo kẹt của bác ta. Song không bằng lòng vẫn phải bằng mặt vì mẹ cậu tuy hiền lành đấy nhưng rất cương quyết, khi cần.

Bác San không mấy niềm nở khi tiếp khách, bác chỉ nói khi khách hỏi và trả lời gióng một. Bà Vinh như tuồng không để ý đến thái độ bất lịch sự của gia chủ.

Một chốc sau, bà giờ cái khăn trắng tinh đậy rổ ra:

- Bác San ạ, nhân mấy con gà mái bên tôi đẻ trứng mà không ấp, tôi làm ít bánh sang biếu bác, cho vui.

Bác thợ dệt lúng túng cảm ơn khách, nhận bánh và ghé mắt sát vào nhìn kỹ làm thằng bé hết sức lạ lùng, vì nó không ngờ bác ta kém mắt.

Câu chuyện giữa chủ và khách tiếp tục một cách rời rạc và tận lúc ấy, bác chủ nhà mới để ý đến chú khách nhỏ bé của mình. Bác gọi nó đến gần đưa cho nó một mẩu bánh. Đó là cách làm quen dễ chịu nhất đối với trẻ con. Quang ta, từ nãy giờ dè dặt, thập thò sau lưng mẹ, đưa mắt nhìn quanh, bấy giờ trở thành bạo dạn hơn một tí, nhưng tuy thèm đấy, nó vẫn đứng nguyên một chỗ, dụi đầu vào ngực mẹ, chưa dám đón lấy mẩu bánh thơm lừng.

Người mẹ xoa đầu con:

- Kìa Quang, bác đã cho, nhận và cảm ơn bác đi, nào!

Và bà thoáng nghĩ : tội nghiệp bác ấy, ra vào lên xuống thui thủi có một mình.

Quang đã lấy mẩu bánh, cảm ơn và nhai nhồm nhoàm.

- Cháu hát hay lắm kia, bác San ạ! Để cháu quen với bác, tôi bảo nó hát cho bác nghe.

Quang hát như chim, bất cứ lúc nào, nhưng mới hội diện với ông thợ dệt mà mẹ đã phô tài nó ra. Làm nó ngượng quá đi mất, lại lùi lại, nấp vào ngực mẹ, bà Vinh cười, khuyến khích:

- Con trai gì lại xấu hổ? Phải bạo lên chứ. Nào, con hát cho bác San nghe một bài đi. Chóng ngoan! Mẹ yêu nào! Một! Hai! Ba!... Đừng để bác chờ lâu

Thật là trúng tủ nhé! Quang không có sợ thi thố tài năng trước mặt bác thợ dệt, nhưng cậu bé còn giả vờ e lệ, đưa tay dụi mắt, đoạn nhìn chăm chẳm vào bác San, ý chừng để dò xét coi bác ta có thích nghe mình hát không đã rồi mới trổ tài. Nó còn cẩn thận hỏi:

- Con hát bài gì cơ?

- Bài gì cũng được. Bài gì con thích thì con hát. Bài Con voi

- Không! Con hát bài Bướm vàng, nhé? Mẹ nhé?

- Được, con cứ hát bài Bướm vàng.

Thế là Quang ta trao mẩu bánh còn lại nhờ mẹ cầm hộ, tiến lên một bước cất giọng hát bài Bướm vàng. Cậu nghẽo đầu, giang hai cánh tay, ve vẫy như hai cánh bướm khi đến đoạn : xòe đôi cánh làm mẹ cậu và ông chủ nhà đến bật cười. Thật hiếm khi bác San cười, nhất là sau cái đêm tên trộm bất nhân viếng nhà bác đến nay.

Bà Vinh hài lòng lắm, vì bà cho rằng đó là cách hay nhất để giúp người đàn ông đáng thương khuây khỏa nỗi lòng.

Bác San thì không biết làm cách gì để cảm ơn cậu bé, ngoài cách bẻ thêm cho nó mẩu bánh nữa. Bà Vinh kêu lên:

- Ấy, thôi chứ, bác cho nó hết bây giờ. Ở nhà vẫn còn đấy, bác ạ.

Và bà bảo con:

- Quang, con chào bác rồi về kẻo tối rồi. Hôm khác mẹ lại dắt con đến thăm bác và hát cho bác nghe.

Bác San nắm tay cậu bé đưa ra cửa. Bà Vinh quay lại, ân cần:

- Này bác San, khi nào bác có gì cần, cứ cho tôi hay…

- Cảm ơn bà, chắc không…

- Khi nào bác đau ốm hay cần khâu vá ấy mà. Bác là đàn ông, đơn chiếc… tôi rảnh lắm kia. Tôi có thể giúp bác, người ta phải tương trợ là thường chứ, bác chớ ngại.

Chủ nhà lại một lần nữa, lúng túng cảm ơn khách, song khi bà Vinh khuất dạng, bác San không ngăn được tiếng thở phào nhẹ nhõm trong lòng.

Gần giáng sinh, bà Vinh lại cùng con đến thăm bác San, đem theo ít thịt, khoai và hoa quả. Bà biết là bác không thích đến nhà ai.

Quả thế, dù mọi người có vẻ thân thiện đối với bác, nhưng đâu có ai thực sư chia sẻ nỗi buồn phiền mà bác riêng mang? Có nhiều người ân cần đến tận nhà mới bác giáng sinh đến chung vui với họ, song bác một mực từ chối, không nhận lời ai.

Thui thủi một mình, bác mang thịt ra nấu nướng, dọn lên ăn, lòng buồn bã, nuốt gần như không xuống.

Rồi bác ra trước cửa nhìn trời. Những cuộn mây xám trôi chậm trên nền trời âm u nom cũng buồn bã như lòng bác lúc bấy giờ. Nước mưa ngập hầm đá, tuyết rơi càng lúc càng dày.

Bác San ủ rũ quay vào, không cài cửa sổ cũng chẳng buồn đóng cửa lớn. Bây giờ còn gìn giữ, kín đáo làm chi nữa chứ? Bác cầu nhầu thầm.

Hai tay ôm đầu, nước mắt rưng rưng, bác ngồi như thế cho đến khi lửa tàn, nến tắt không buồn châm đốt.

*

Trong lúc đó, tại các nhà có máu mặt trong làng Vệ, người ta lễ rất trọng thể. Nhất là nhà ông Cẩm, người hào phú nhất làng : ông ta mở tiệc mời đông đủ bà con, láng giềng và không quên mời gia đình người con gái mà con trai ông ngấp nghé.

Tuy vắng mặt Phát, không ai tỏ vẻ trông mong, nhớ tiếc. Tiếng trò chuyện, tiếng cốc tách, dao muỗng va chạm nhau lanh canh, lóc cóc vui tai. Mọi người đều hài lòng và không khỏi ngầm ao ước được như ông Cẩm.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VII

CHƯƠNG V_LƯỚI TRỜI


CHƯƠNG V


Mãi thật khuya Tấn mới ra về, vì tan tiệc chàng còn nán lại để chuyện trò cùng Mỵ Lan giây lát. Mỵ Lan vẫn lối trả lời lơ lửng con cá vàng không thay đổi, nhưng chàng có nhiều hy vọng hơn những lần trước vì cái bắt tay chặt chẽ và nụ cười khá tình tứ của nàng.

Chàng về đến nhà, cởi giày, thay áo, rửa mặt mũi, vừa làm những việc đó vừa ca hát và tin rằng mình sẽ thấy Mỵ Lan trong giấc ngủ đêm nay!

Cầm đèn lên thang gác về phòng mình, đi ngang phòng Phát, chàng gọi to:

- Thằng mảnh! Mày về chưa, hở?

Chả thấy tiếng thưa. Tấn vặn quả nắm bước vào : giường gối trống trơn, lặng lẽ. A! Thằng mảnh chưa về. Nhưng thôi, Tấn muốn mộng đẹp sẽ đến và trong mơ đừng có cái mặt thằng em quái quỉ chen vào, anh quay ra, vừa đi vừa huýt sáo vui vẻ.

Sáng hôm sau Phát vẫn biệt tăm. Rồi trưa và đến tối vẫn chưa thấy bóng Phát. Tấn sốt ruột như cào, sợ cha hỏi đến món tiền thì nguy. Anh tự hẹn sẽ tìm cho ra thằng quỉ, chắc nó có tiền đã vô quán say sưa rồi…

Trời tối mịt, lại lạnh căm. Ra ngoài giờ này thì có là điên, nhưng Tấn không thể nào kiên tâm ngồi chờ nổi, anh sai gia nhân thắng ngựa, đến thẳng quán “Ngàn Sao”

Không có Phát trong quán, mà hỏi thì cũng không ai thấy hắn từ hai hôm nay. Tấn còn nghi ngờ thì một người lanh miệng nói:

- Thực thế cậu ạ, có cậu ấy chúng tôi biết ngay. Vì hai hôm nay ở đây đang xôn xao về một vụ trộm lạ lùng, nếu cậu ấy đến thì chúng tôi có người phải nhớ.

- Vụ trộm?

Tấn tò mò hỏi. Hai ba người tranh nhau trả lời. Tấn cũng kinh ngạc lắm, chàng hỏi tiếp:

- Thế các ông có nghi ai không?

- Trong làng toàn người quen biết và lương thiện, họa có kẻ ở xa thôi… chúng tôi thì chúng tôi nghi anh hàng rong vẫn lui tới.

- Phải, thằng cha ấy có cái nhìn gian lắm!

Một người thêm vô. Tấn không mấy quan tâm đến vụ trộm, vì anh đang rối về chuyện tiền nong của cha mình. Nhưng thấy ai cũng ngờ anh hàng rong, anh góp lời:

- Tôi thì không nghi anh hàng rong, tôi có mua của anh ta con dao rọc giấy, nom người thật thà lắm mà.

Một chốc, chàng quay ra, dặn chủ quán nếu em mình có đến, bảo hộ nó về ngay nhà có việc cần.

- Nếu nó không về – anh dặn thêm – anh cho người tin tôi biết ngay nhé?

- Vâng! Cậu cả tin tôi, tôi sẽ làm đúng lời cậu dặn.

Tấn giục ngựa phi mau trong tối vì đã khá khuya. Bỗng, anh nghe hình như có vó ngựa lại gần mình. Đúng là thằng Phát rồi. Giờ này còn ai nữa? Anh kêu to:

- Mày đó phải không, Phát?

- Chào anh Tấn, tôi đây mà!

- Ơ kìa, Kỳ! Anh đi đâu thế?

- Tôi đi lấy tiền lúa cho cô tôi. Lạnh quá, rẽ vào quán uống một cốc. Lạ quá, anh Tấn nhỉ? Giờ này mà không thấy Phát trong đó…

- Ô! Thằng khốn, tôi đang tìm nó đây…

- Ủa, chú ấy chưa về à? Cho tôi gửi lời chia buồn nhé? Kể ra chú cũng xui quá!

- Hả, anh nói cái gì? Cái gì xui?

Tấn hỏi dồn vì anh lo là Phát ngã ngựa què chân hay bị thương chi đây. Kỳ đáp:

- Thế anh vẫn chưa hay biết à? Hay là chú ấy ăn cắp ngựa anh nên sau khi ngựa chết chú dông luôn?

- Con Công Chúa chết rồi sao?

- Phải! Chết tức thì…

- Anh làm ơn kể cho tôi nghe đầu đuôi…

Bằng vài lời vắn tắt, Kỳ kể câu chuyện cho Tấn nghe, anh cũng không giấu chuyện mình định mua ngựa:

- … Mặc cả xong tôi nghĩ lại, hơi ngờ, vì tôi biết anh quí con Công Chúa đời nào lại bán cho Phát, nên tôi hẹn đến chiều tối. Phát ưng thuận và ở lại dự cuộc đua, nhưng chúng tôi đợi mãi chả thấy anh ta, quay lại thì thấy xác con ngựa nằm còng queo… tội nghiệp quá! Mong là nó không phải đau đớn lâu…

Tấn thở dài. Kỳ tưởng anh ta lo cho em, vội nói:

- Đừng lo, Phát không bị thương tích gì hết…

- Tôi không lo cho nó, tôi biết thằng ấy mà. Nó sinh ra là để làm người khác bị thương, làm người khác đau đớn, chứ nó thì không bao giờ! Tội nghiệp con Công Chúa biết bao nhiêu, lỗi cả ở tôi…

- Vâng! Chính tôi cũng tiếc lắm.

- Cảm ơn anh, anh Kỳ.

- Không có chi. Thôi chúng ta chia tay nhé, tôi mong lần khác sẽ có tin vui cho anh.

*

Tấn cúi đầu, thả lỏng cương ngựa, anh không còn vội về. Vừa đi anh vừa nghĩ đến cách tìm lời lẽ thú thực với cha vào sáng mai. Anh chả còn trông cậy vào tiền bán ngựa, mà con ngựa quí cũng chết rồi! Thằng em trời đánh! Nó chết xó nào không biết nữa. Phải thú hết mọi việc với cha, cả  việc lỗi lầm bậy bạ của mình. Có thể ba sẽ mắng cho một trận hay ông bạt tai cho cũng nên. Không sao! Không thể giấu giếm nữa vì thế nào rồi nó cũng lại về làm tiền mình cho mà xem. Thú thật với ba cho xong. Xưa nay cọp dữ vẫn không ăn thịt con. Phải thú hết, thú hết và chỉ có cách đó là lối thoát duy nhất mà thôi.

*

Tấn ăn điểm tâm sớm hơn mọi bữa, quần áo chỉnh tề, ngồi đợi lũ em ăn xong và tản mát hết, chờ cha vào. Ông Cẩm có thói quen đi một vòng với viên quản lý rồi mới ngồi vào bàn. Tuổi trên sáu mươi song ông vẫn còn cường tráng, khỏe mạnh. Mắt nhìn thẳng, mũi khoặm, môi mím lại, dáng bộ quả quyết khác hẳn các con.

Mấy năm gần đây, ông bớt nuông hai cậu lớn, nhưng riêng Tấn, ông vẫn có phần dễ dãi hơn. Vì ông biết cậu đang tập tu tỉnh làm ăn. Thấy con trai, ông vui vẻ:

- Ăn điểm tâm rồi, phải không con?

- Thưa ba vâng, con đã vô phép ba, nhưng con còn chờ gặp ba để thưa một chuyện.

- Chuyện gì đây? Vui hay bực cho ba?

- Thưa ba, chắc bực, nhưng con xin ba bình tĩnh, con kể đầu đuôi.

“Chuyện gì mà hôm nay nó rào đón kỹ quá thế này kìa?” người cha tự hỏi thầm. Tấn bắt đầu:

- Thưa ba, con Công Chúa của con gặp chuyện rủi quá…

- Thế nào? Con Công Chúa? Gãy cẳng phải không? Tôi tưởng anh biết cỡi ngựa chứ! Ông nội anh ngày xưa không có tiền để sắm ngựa cho tôi đâu, tôi phải cuốc bộ. Các anh bây giờ quá sướng… con Công Chúa! Anh biết tôi mất bao nhiêu tiền không? Nếu anh đã lơ đễnh để cho nó ngã gãy cẳng thì thôi đừng cỡi ngựa nữa. Tôi không có thừa tiền đâu mà cho anh con khác…

- Thưa ba, nó không gãy cẳng, nó chết rồi! Thằng Phát cỡi nó…

- À! Lại càng tệ hơn, nếu anh giao ngựa quí cho thằng Phát. Nếu anh đã ngu dại giao ngựa cho nó thì rán chịu, nói với tôi làm chi? Tháng này tôi không thu được một xu con, thiên hạ không ai trả đồng nào, cả lão Lễ nữa, cái miệng soen soét, chắc chắn tháng này… Chắc lão tưởng tôi quên. Mẹ kiếp! Làm như tiền mình là vỏ sò ấy.

Ông ngừng nói, mắt nhìn xa, mồm nhai tóp tép. Tấn:

- Thưa ba, dù con tiếc con Công Chúa, và từ nay không có ngựa để đi, con vẫn không dám nghĩ đến chuyện xin ba…

- Thế là phải!

Ông Cẩm ngắt lời con trai, đoạn lại tiếp tục ăn. Tấn lựa lời thưa:

- Thưa, con không cho thằng Phát cỡi ngựa đi chơi, con đưa nó cỡi đi bán để lấy tiền. Thưa, nó làm bậy, đã dạm bán rồi, nó lại cỡi ngựa đi săn và bắt ngựa nhảy qua chướng ngại vật, con vật bị cọc rào đâm phải…

- Chao ơi! Tao đây mà không dám xài sang như tụi bay, tao cỡi thứ ngựa xoàng… vậy mà tao cẩn thận không bao giờ gây tai nạn…

Rồi ông chợt nhớ ra, gặng con trai:

- Mày làm gì mà phải bán ngựa? Trả nợ ai đây?

- Thưa ba, trả cho ba, món nợ mười ngàn của bác Lễ, nguyên là bác đã trả cho con rồi, nhưng thằng Phát nó kỳ kèo mãi, con cầm lòng không đậu, đã đưa nó mượn…

Ông Cẩm buông đũa, quát:

- Tiền của người ta trả nợ tao sao mày dám cả gan đưa thằng chết bầm xài? Ra mày thông đồng với nó, có phải không? Có điều gì gian dối đây chớ không phải lơ mơ. Khai ra ngay! Tao có ngờ đâu mày cùng đồng lõa với thằng mất dạy đó…Tao sẽ tống cổ cả hai đứa mày ra khỏi cái nhà này. Có con thì có, không thì thôi. Trời ơi! Mẹ mày mà còn sống chắc bà khổ lắm… May cho bà, bà đã chết rồi…

Tấn cúi gầm mặt, thưa:

- Xin ba bớt nóng, con xin thưa : con biết tội con, con trót nghe lời nó nên phải bán ngựa trả đậy vào, nào ngờ đâu nó làm chết ngựa…

- Quân trời đánh, thánh vật. Mày đi lôi cổ nó về đây ngay cho tao. Trao phải trị tội thằng này, không dung thứ được. Mau!

- Thưa ba, ngựa chết, nó đi luôn hai hôm nay, có biết nó đâu mà kêu nó về cho ba, con đã đi tìm…

- Thế chứ nó đi đâu? Hay là nó cũng gãy cổ chết luôn rồi?

- Thưa ba không, nó vẫn bình yên, không bị thương tích chi hết. Nó bỏ đi rồi, con không rõ nó đi đâu.

- Phải tìm nó về đây! – người cha gầm lên – tôi thề phải nọc nó ra hỏi xem nó dùng mười ngàn bạc vô chuyện gì? Tiền tao là tiền mồ hôi nước mắt, chớ có phải tiền ăn cướp, ăn trộm của ai mà chúng mày xúm nhau phá, thằng kia?

- Thưa ba, tội nghiệp con! Con không…

- Thì mày không phá, nhưng mày đưa tiền cha mày cho nó phá, có khác gì đâu? Đừng làm bộ ngay thật, trả lời tao đây : vậy chứ giữa hai đứa bay có chuyện gì mà mày phải che đậy cho nó, một bụng với nó lấy tiền tao?

- Thưa ba, thật chẳng có gì, con…

- Lại còn chối hẳn? Đừng hòng qua mặt tao. Tao thì tao đi guốc trong tim bay ấy chứ, tao hai thứ tóc trên đầu mà để tụi bay lừa ư? Còn lâu!

Người cha nhìn thẳng vào mặt con trai với vẻ quả quyết, đợi chờ. Tấn ấp a ấp úng:

- Thưa ba, con đã có lỗi, không giao tiền cho ba ngay, vì ba lên quận chưa về, thế rồi nó nài nỉ quá, con…

- À, ra bây giờ anh lại đổ lỗi cho tôi phải không? Nghĩa rằng anh bảo vì tại tôi đi vắng nên anh mới giao tiền cho nó, chứ gì? Anh không có lỗi chứ gì?

- Thưa ba, con không hề muốn nói thế, con muốn nói là nếu con mang tiền về mà gặp ba ngay thì mọi việc đã êm xuôi, nhưng con vẫn có lỗi. Vâng! Con có lỗi, đã làm phiền lòng ba mà mất luôn con ngựa quý…

- Đừng dài dòng, tôi biết phải có gì giữa hai người nên anh mới cả gan đưa trọn số tiền cho nó, đừng nói quanh mà tôi nóng lên thì chết… !

- Thưa ba, quả cũng có chuyện… nhưng là chuyện vặt giữa tụi con, không đáng kể ra làm bận lòng ba. Xin ba tin con, con thề sẽ làm vui lòng ba từ nay giở đi.

- Chuyện vặt là chuyện gì? Đã đến lúc mày ngưng ngay những chuyện vặt kiểu đó, lo tu tỉnh làm ăn, coi sóc nhà cửa, nghe không?

Nhẹ nhõm vì cha không tra gạn thêm về duyên cớ khiến mình đưa tiền cho Phát, Tấn ngẩng mặt lên:

- Thưa ba, con xin nghe lời ba, con vẫn muốn giúp ba đấy chứ…

- Tao có nghe mày nói thế lần nào đâu? Tao chỉ nghe mày tính xin cưới vợ. Cái đó thì tao không cản, mày đến tuổi thành nhân rồi, lêu bêu mãi không được. Nhưng mày ưng ai? Đừng có mà rước mấy con tập thói văn minh rởm, tao từ mày luôn…

- Thưa ba, con đinh cưới con cụ Tú Lâm…

Người cha như quên cả giận hờn, sốt sắng:

- Đám ấy được đó. Nhưng người ta có bằng lòng không? Tao ngờ lắm, ngữ anh em mày có tiếng quá mà, ai gả con gái cho? Con Lan có cảm tình với mày chứ?

Tấn khổ sở, ấp úng:

- Thưa, cũng chưa có gì…

- Nghĩa là cô ấy chê mày, phải không?

- Thưa không hẳn thế, nhưng giữa chúng con chưa có hứa hẹn gì cả, Lan bảo “Để xem”, chỉ có thế…

- Thế là phải, nếu mày không tu tỉnh, chó nó ưng mày. Hay là mày không dám nói với nó? Vậy để tao, tao gặp cụ Tú Lâm…

- Chết, con xin ba, để thong thả…

- Tùy mày đấy, nhưng tao nói cho mày rõ : nếu mày muốn cưới vợ, phải cưới con bé Mỵ Lan, con cụ Tú Lâm, ngoài ra tao không bằng lòng cho mày cưới đứa nào cả. Cưới vợ mà cưới đứa ham chưng diện thì có ngày sạt nghiệp. Coi như tao đây, cơ nghiệp đồ sộ ngày nay là do công lao của mẹ mày. Tội nghiệp bà… nghĩ  mà đau lòng, khi cực khổ có nhau, khi sung sướng thì…

Ông thấp giọng vì xúc động, rồi ngồi dựa ra ghế, mắt lim dim như đang hồi tưởng đến người vợ khuất bóng đã lâu. Tấn bùi ngùi nhìn cha, anh thật lòng hối hận vì những hành động đã qua. Thật ra thì từ mấy tháng nay anh nhất định tu tỉnh, nhưng người phụ nữ mà anh lỡ dan díu cứ bám riết lấy anh. Chúa ơi! Tưởng tượng đến lúc mà cha anh hay được việc này, anh thấy run cả gối. Phải làm cách nào đây?...

Thình lình, ông Cẩm ngồi bật lên, cao giọng:

- Tấn, anh đã biết lỗi anh chưa? Anh có hứa…

- Thưa ba, con hối lắm rồi, và con xin ba tha cho con lần chót…

- Được! Lần chót thật đấy, nhá? Mà không tha anh, chả lẽ tôi róc da anh ra?

- Con đội ơn ba!

- Nhưng còn thằng Phát, anh lôi cổ nó về đây cho tôi trị tội.

- Thưa ba, con e nó trốn luôn. Vì có bao giờ nó đi kiểu này đâu? Nhưng thưa ba, con sẽ làm theo lời ba, con sẽ đi tìm nó về để ba răn dạy…

- Thôi, tao tưởng nó có ở nhà chứ nó đã muốn làm quân du thủ thì mặc xác nó. Tao không dư cơm. Đừng tìm về làm chi, nếu có gặp nó ở đâu, thì nhớ bảo đi luôn, nếu héo lánh về đây, tao nổi điên lên thì khốn. Nói là tao hết muốn nhìn thấy nó rồi, hiểu không?

- Thưa ba, vâng!

- Chưa hết đâu : đem con ngựa khổ của nó bán đi, lấy tiền được bao nhiêu đưa cho tao, rồi sẽ tính sau. Nếu mày tỏ ra xứng đáng, tao sẽ cho tiền mua con ngựa khác, nhưng trước hết, phải đi bộ dăm ba tháng cho biết thân đã, nghe rõ chưa? Anh có cho là cha anh xử nghiệt không, hả Tấn?

- Thưa ba con nghe rõ rồi ạ! Ba xử thế rất công bằng, con biết ơn ba lắm, và con cũng bằng lòng sự trừng phạt của ba. Con cảm ơn ba, con không dám nói nhiều, nhưng con xin hứa sẽ tìm cách chuộc lỗi, con sẽ làm ba vui lòng.

- Vậy thì tốt. Thôi, coi bảo nó thắng ngựa cho tao, trưa rồi đó. Tao phải đi ngay.

__________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG VI
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>