Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

CHƯƠNG I_PHƯƠNG NÀO BÌNH YÊN


CHƯƠNG I


Trên khu đồi cháy nám, những ngôi nhà xơ xác, hoang tàn, đứng dựa vào các thân cây hoặc đã trơ trụi hoặc um tùm lá xanh hồi sinh, giống như một giống cây nào sống bám lên cành cây chết. Ngọn đồi thoai thoải chạy dài và tận cùng bằng một thung lũng cũng xơ xác và hoang tàn không kém. Duy có điều nơi đây, cây lá xanh hơn, dày hơn. Ðiểm sinh động duy nhất của vùng nầy là một con lạch nước đục ngầu phát nguồn từ một nguồn suối nào đó ở tận dãy núi đằng xa. Nước trong băng qua những vùng đất lở lói cuốn trôi chân cát. Vì thế giòng nước tới đây không bao giờ trong trẻo mà như có nhuộm màu.

Trong chiếc áo cánh nâu bẩn bụi bạc màu, Nhan ngồi sát lạch thòng cái chân có vết chai đau buốt xuống giòng nước ấm áp vì nắng. Nước mơn man chỗ đau tạo nên cảm giác dễ chịu. Mặt trời đã ngả về hướng tây. Ngọn đồi trước mắt đổ một phần bóng thẫm mát của nó xuống khu đất đằng kia giấu che những ngôi nhà đổ phía ấy bớt đi vẻ tệ hại thường ngày. Cảnh im lặng làm Nhan hơi rùng mình. Nhan quay ra đằng sau và đột ngột kêu giọng hốt hoảng :

- Lời ơi, Lời, xong chưa ? Lẹ lên, Lời…

Một vài con chim hót e ngại trên cành cây bên kia lạch. Tiếng chân đi sột soạt vội vã. Rồi một thằng bé mình trần, quần đùi ca-rô vá đùm đụp, mình mẩy đầy mồ hôi vạch lá bước tới :

- Bà làm nó thất kinh nó chạy mất rồi. Kêu gì mà kêu hoài vậy ?

Nhan rút một chân lên khỏi lạch nước, quay đầu nhìn em :

- Ghê quá mầy ơi, tao xem như phía nhà dưới đồi kia có người ở.

Thằng Lời đưa mắt nhìn qua, nhổ toẹt nước bọt xuống chân rồi cất giọng khinh khỉnh :

- Người ở, bộ chị mớ hả ? Làm tôi mất con chim rồi. Con chim cu bự quá chừng mà…

Thằng Lời dáng vẫn còn tiếc con chim bẫy hụt. Nó hậm hực gieo người xuống bờ lạch rồi không biết nghĩ sao trườn mạnh người xuống nước, lột thật nhanh qua bờ lạch bên kia. Nhan hốt hoảng kêu lên :

- Lời, qua đó làm gì vậy ? Về đi. Ðừng có qua bển.

Thằng Lời đã leo lên bờ, cái quần đùi sũng nước kéo trễ quá rốn.

- Lời, về đi không tao mét tía mầy chết. Về còn đi hái rau nữa.

- Chớ chị ngồi đó nãy giờ có ai nói không ?

- Tao biểu về mà, lẹ lên.

Nhan đứng dậy, gió đong đưa mấy nhánh tóc vắt ngang dọc qua mặt. Thằng Lời đã lội xuống rạch nhưng vẫn còn chần chờ chưa chịu trở lên. Ðợi Nhan giục một lần nữa, và tỏ ý muốn đi thật, nó mới vội vàng phóng lên bờ lẽo đẽo theo sau chị.

Không xa, khuất những đám cây thấp bên bờ lạch là một khoảng đất trống với hàng trăm loại cây con sát đất. Nhan ngồi phệch xuống nói với em :

- Lựa rau lang thôi nghe mầy. Tao ghét rau dền lắm. Hổng biết sao tía khoái loại đó quá trời. Hái cái ngọn thôi. Sao mầy bứt toàn cỏ không vậy ?

Hai chị em cắm cúi hái rau. Những ngọn rau hiếm hoi lẫn lộn với hằng trăm loại cây cỏ không tên. Những ngọn rau cằn cỗi như đếm được từng lá, nắm từng bó nhỏ trong tay. Nắng chiếu bỏng rát một bên má Nhan. Mồ hôi nhỏ giọt trên trán. Nhan ngừng tay. Thằng Lời cũng lặng im. Bỗng dưng Nhan đứng bật dậy :

- Có tiếng còi xe lửa.

Thằng Lời vểnh tai nghe ngóng. Nhan bước vội mấy bước về phía trước :

- Có xe lửa.

- Em chẳng nghe gì hết. Mà làm gì có xe lửa ?

Bó rau trên tay Nhan rơi xuống :

- Tao nghe mà, xe lửa.

Thằng Lời lắng tai một lúc rồi cúi đầu thản nhiên tiếp tục hái rau :

- Cái chị này bữa nay ăn nhằm gì mà như người ngủ mê.

Nhan rõi mắt về phía đằng xa, sau dãy núi thấp. Nơi đó con đường xe hỏa cỏ cao mọc đầy. Con đường ngày xưa mỗi chiều rục rà rục rịch tiếng xe chạy vang động mặt đất và khói đen bốc cao hơn núi tản mác như mây trên trời. Con đường sắt mà ngày xưa mỗi lần dẫn trâu ăn cỏ, Nhan ngồi thụp lên thanh sắt lạnh chờ chuyến tàu đến từ đằng xa, chờ âm thanh hú dài man rợ lẫn tiếng trâu rống bên bờ bụi cỏ mà ngẩn ngơ nhìn những khuôn mặt xa lạ thấp thoáng bên khung cửa rộng của con tàu.

Ðã lâu lắm rồi không còn những chuyến tàu qua. Ðã lâu lắm rồi Nhan không còn dẫn trâu vượt núi ăn cỏ. Ðường sắt bỏ hoang và trâu cũng không còn. Một trận đánh đi ngang khu xóm hẻo lánh và quét hết những gì nó có. Sau cơn kinh hoàng, đất không hồi sinh, và người bỏ đi gần hết. Xóm vắng lặng không một hoạt động nào khả dĩ làm tươi đời sống, phục sinh cây cỏ. Cây cỏ chết, nhà cửa đổ nát và lòng người cũng chết theo. Xóm còn lại vỏn vẹn sáu gia đình cùng quẫn, chẳng biết đi đâu, đành bám víu mảnh đất buồn mà quen nầy.

- Chị dóc tổ, làm gì có xe lửa. Có Tết Công-gô.

Nhan ngẩn ngơ. Bóng núi đổ thẫm và nền trời mùa hạ xanh ngắt. Không có gì hết, ngoài tiếng gió lao xao. Nhưng trong tận cùng tâm hồn Nhan vẫn có nghe đâu đó tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt.

- Thôi hái lẹ lên đi bà, còn về chớ không tía đợi chết luôn.

Nhan thẫn thờ ngồi xuống nhặt bó rau rơi rớt. Những cọng rau khô trên nền đất nẻ. Tiếng thằng Lời liếng thoắng :

- Mai sớm em ra đây lấy nước tưới đám rau nầy chớ không chết hết. Ờ mà chị Nhan nè, cây chuối bữa nọ em trồng đó sắp sửa trổ buồng rồi đó.

Nhan ngừng tay liếc nhìn Lời bằng một mắt trái :

- Sao mầy biết. Tía đâu có thấy gì.

- Sao em lại không biết, lá ngọn của nó bắt đầu nhỏ lần rồi nè, em để ý thấy nó nhỏ hơn lá trước.

Nhan cười :

- Ờ chắc vậy, nhưng mầy trồng gì không trồng lại trồng chuối sứ.

Thằng Lời đứng dậy vươn vai, bó rau tắm nắng vàng vọt :

- Thôi về, đủ rồi.

Nhan cũng vặn người nhè nhẹ cho đỡ mỏi. Hai chị em đem rau đi ngược dòng lạch rửa sạch lớp đất cát dính. Xong xuôi, thằng Lời trao nắm rau cho Nhan và chạy mất biến sau hàng cây thấp. Nhan chỉ nhìn thấy được tấm lưng đen của nó thấp thoáng khi ẩn khi hiện. Nắng chiếu xiên khoai trên con đường ngoằn ngoèo. Nhan thong thả bước. Chân đùa trên lá, trên cỏ mà óc còn mơ màng nhớ tới tiếng còi xe lửa ngày nào còn văng vẳng như một nhắc nhở thầm về thời nào sung sướng.

*

Những mái nhà đứng đìu hiu trong nắng cũng hoang tàn không kém cảnh vườn tược bao quanh nó. Hiên sụp lủng lẳng như một tấm rơm bện vụng vỗ vào vách trước vang lên từng tiếng kêu ngắn lụp bụp. Mấy ngọn nắng quái chiếu hực vàng một khoảng nhà trống.

Ông già ngồi yên lặng. Bóng đổ thẫm làm Nhan có cảm giác ông đã ngồi đó lâu lắm rồi. Nhan nện bước chân mạnh hơn chút nữa để ông khỏi phải giật mình :

- Tía đói bụng chưa tía ? Ðể con luộc khoai nghe tía.

Ông già vẫn làm thinh. Chỉ có đôi mắt trắng không hồn đảo đi đảo lại như trả lời. Nhan đứng sát bên cha, kéo lại tấm áo cũ rách, cố kiếm vài chuyện để kể :

- Tía à, hồi về gần nhà, con có gặp ông già Bắc. Con hỏi bác đi đâu đó. Tía biết ổng trả lời sao không ?

Ông già đảo cái đầu bạc.

Nhan cười nhỏ một mình. Nàng ngồi phệch xuống đất, hai tay nghịch những cọng rau lang :

- Ổng nói ổng đi làm ruộng, tía ơi.

Ông già khoát một cánh tay. Ðôi môi nhép định nói gì rồi lại thôi. Chỉ có vầng trán nhăn càng nhăn nhiều hơn. Nhan quen với sự im lặng của cha, ngồi im một lát. Nhan định thuật lại với cha tiếng còi xe lửa mà Nhan đã nghe được ở đâu đó vọng lại nhưng rồi thôi. Nhan lần xuống bếp.

Thằng Lời nhai ngấu nghiến một củ khoai sống. Bột trắng trào cả ra ngoài. Thấy Nhan nó bụm miệng bỏ chạy.

- Mày ăn vụng hả Lời ? Có mấy củ khoai để dành.

Nhan hậm hực nhìn theo em. Nàng lại chỗ cất khoai nhìn vào hủ.

Những củ khoai to nhỏ chất đầy, ngồn ngộn, vỏ màu hồng lạt, màu trắng trông vui mắt. Lứa khoai này, hai chị em Nhan mới rỡ tuần trước.

Nhan lựa một số củ đã bị sứt một phần hay lóc vỏ phơi lần bột trắng bên trong để ăn chiều nay. Lương thực chính của những gia đình còn sót lại trong ngôi làng hoang tàn này.

Bóng chiều thẫm mầu. Những tiếng chim núi bay ngang nhà kêu lên khắc khoải. Nồi khoai sôi sùng sục bốc thơm ngát mũi. Ông già đã rời chỗ của mình vịn vai Lời bước xuống bếp. Cả ba cha con đều hít lấy mùi khoai thơm nóng. Ba người quây quần bên bếp lửa. Ngoài tiếng nước réo sôi và tiếng nắp vung tán thành tiếng leng keng trên miệng nồi nhỏ hơn nắp, kỳ dư tất cả đều yên lặng. Mà cũng không có gì để nói, họ chịu đựng cho qua hết một ngày buồn.

Khoai chín. Nhan đổ ra chiếc rá con rồi khởi sự luộc rau. Thằng Lời bốc vội một củ hít hà thảy liên tiếp bằng hai tay vì nóng. Ông già làm thinh, nhưng lồng ngực cũng phập phồng. Nhan quát lên :

- Mầy không lựa khoai cho Tía mà lo ăn trước hả Lời ?

Ông già nói tiếng nói đầu trong ngày, giọng khàn đục run rẩy :

- Kệ nó, em nó đói con cho nó ăn. Tội nghiệp.

- Tội nghiệp ! Tía cứ vậy hoài. Cho nên nó đâm ra hư.

Giọng Nhan kéo dài. Ông già cười nhẹ.

- Không sao đâu con, mà có hư cũng vậy thôi.

Cũng vậy thôi. Nhan đưa củ khoai ngon nhất cho cha. Ừ nhỉ, hư với nên để làm gì trong ngôi làng hẻo lánh này. Nghĩ tới phận mình, Nhan thở dài, nàng lại chợt nhớ đến tiếng còi xe lửa.

Khi củ khoai cuối cùng vào tay thằng Lời thì trời đã tối hẳn. Ông già men theo tấm vách lên chỗ của mình. Nhan bước ra ngoài sân ngồi xuống cạnh em bâng quơ nhìn. Con trăng già nằm lấp lửng lưng trời. Ánh sáng bạc phếch chiếu lấp loáng trên bụi chuối bên hè.

Thấp thoáng đằng xa, bếp lửa muộn của nhà bà Tư què lập lòe như bóng ma trơi. Nhan nhìn mãi ánh lửa đó như điểm sinh động cuối cùng ở quanh mình.

- Cha, nhà bà Tư què bữa này ăn gì mà nấu nướng lâu quá trời.

Thằng Lời vọt miệng :

- Hồi chiều em gặp bả, bả khoe chị Nhỉ bẫy được con chồn.

Nhan gắt nhẹ :

- Chồn thành tinh thì có.

Thằng Lời chép miệng thèm thuồng :

- Thiệt mà chị. Ngó bả vui lắm. Ðể bữa nào em đi núi bẫy chồn nghe chị Nhan.

Nhan trừng mắt nhìn em :

- Tao có chết cũng không ăn cái giống quỷ đó đâu.

- Thì tía với em.

Nhan quyết liệt :

- Tao nói không là không. Mầy đi bắn chim đi. Chim nướng ngon ba chê.

Nhan nuốt nước miếng nghĩ đến miếng thịt chim thơm tho mà thỉnh thoảng nàng được thưởng thức nhờ công của thằng Lời.

- Chim thì được bao lăm, một mình em phải sực hai chục con mới đã. Chồn to nhiều thịt, mà cũng ngon lắm.

Nhan nhìn em nghi ngờ :

- Bộ mầy qua xin ăn chị Nhỉ hả ?

Thằng Lợi trợn mắt nhìn chị :

- Ðừng có nói thêm. Bây giờ bả mới nấu, mà cả chiều đi hái rau với chị chớ đi đâu.

Nhan nhìn qua bếp lửa nhà chị Nhỉ. Bếp đã tắt tự hồi nào. Chỉ còn bóng trăng giải sáng thấp thoáng mái tranh với cái đỉnh nhô nhọn vì một quả đạn pháo kích rớt một bên mái hồi trước xa.

Tiếng dế, tiếng ễnh ương, tiếng côn trùng, tiếng gió rì rầm nghe buồn vô hạn. Bỗng dưng, Nhan thèm nghe một tiếng nói, tiếng cười, một người bạn.

Tiếng còi xe lửa. Nhan đứng dậy. Nhưng không phải. Ðó chỉ là ám ảnh không nguôi của một tâm hồn cô độc.

Nhan nhớ man man ngày xưa êm đềm. Ngày tiếp nối, ngày tiếp nối. Ngôi làng nhỏ tuy thưa thớt nhưng cũng đủ để những đứa bé vui chơi học hành. Dân làng tuy cực nhọc, tuy suốt đời không biết đến phố xá thị thành, nhưng một vài tiện nghi đời sống cũng đã đến từ những chuyến xe đò buôn bán, những chiếc xe lam dẫn vào con đường mòn, len qua những ngọn đồi thấp, những thung lũng hoang dã, chở đủ loại hàng tạp hóa.

Nhan lại nhớ đến những chuyến tàu với những hành khách xa lạ hoặc sang trọng, hoặc lam lũ. Những chuyến tàu ngược xuôi chở đi cái ao ước đầu đời của cô gái nhỏ thôn nghèo.

Nhưng khi Nhan chỉ vừa đủ lớn để bỏ chơi chuyền, chơi sỏi với lũ bạn hàng xóm, để giúp mẹ ra đồng cày cấy trồng trọt, cơm nước thì cũng lúc ấy chiến tranh tới tấp đem tang thương đến vùng nầy.

Cuộc chiến đến bất ngờ như một cơn lốc. Không ai ngờ, vùng đất cằn cỗi, hoang vu và xa xôi nầy mà cũng nằm trong sự tranh chấp. Và cũng bởi vậy nên không ai phòng bị. Sau cơn lốc chiến tranh, ngôi làng không còn là ngôi làng nữa. Tất cả bị tàn phá, kể cả cây cối ruộng nương. Những người sống sót bồng bế nhau, chồng chất nhau lên những chuyến xe lam đi tìm phương khác sinh nhai. Còn lại mấy gia đình đành lần lữa ở vùng đất chết này hầu tìm sự sống.

Mẹ Nhan chết ngay trong đêm đầu khi chiến trận xảy ra. Người chồng mù lòa chôn xác vợ ở một góc vườn rồi nín lặng chờ đợi phiên mình. Nhưng dứt binh lửa, ông vẫn còn sống và ông bám chặt mảnh đất quê hương, nơi đón nhận thân xác của người vợ hiền bao năm hương lửa. Ông nhất định không đi đâu hết và gửi con cho người hàng xóm. Nhưng hai chị em Nhan cũng không nỡ rời cha. Người thân yêu độc nhất còn lại trên đời. Người cha mù lòa cần sự giúp đỡ của con cái hơn bao giờ hết. Lòng hiếu thảo dìm cuộc đời hai chị em Nhan trong cảnh yên lặng hoang tàn này.

Hai năm qua, cánh đồng không người cày cấy đã úa khô cỏ mọc đầy. Chỉ có mấy vườn rau lang bên bờ rạch, những đám mía hoang, và vườn sắn ở tận đầu kia dãy đồi nuôi sống mấy gia đình còn sót lại. Hằng năm, ông già mù lòa rờ rẫm mái tóc dài của mỗi đứa con mà hy vọng :

- Riết rồi dân làng cũng về đây con à. Không ai bỏ làng đi luôn đâu. Tao biết rồi họ cũng về mà. Khi đó hai đứa không lo nữa. Sẽ có trâu, có ruộng, có vườn như hồi mẹ con còn sống. Lúc ấy cha chết mới yên tâm được.

Nhưng mỏi mòn. Ðến nay, tóc Nhan đã dài quá lưng mà không bóng dáng một ai trở về. Không có tiếng xe lửa mỗi chiều hú còi thê thiết. Không tiếng xe lam cà rịch cà tang mang hàng về chợ. Không có ai trở về cả.

- Chị Nhan…

Nhan giật mình. Thằng Lời bỏ đi từ lúc nào giờ chạy về, thở hồng hộc như trâu trưa.

- Gì đó mầy. Hả Lời ?

Thằng Lời đưa một miếng lá gói nhỏ. Ánh trăng chiếu vào như tươm mỡ. Có mùi thơm. Nhan la lên :

- Ðồ chết bầm, mầy qua bển xin ăn đó hả. Tao mét tía mầy chết.

- Thôi Nhan, họa hoằn mới có, tao cho nó một miếng.

Chị Nhỉ đã đi đến đầu ngõ. Thằng Lời cười sung sướng hít gói lá. Nhan tươi cười nhìn chị :

- Thằng hư quá chị ơi. Bà Tư bả la chết.

Chị Nhỉ là con dâu của bà Tư què. Chị khoảng ngoài bốn mươi, trông lam lũ với gương mặt hóp và một vết sẹo dài chạy qua dưới cằm. Mái tóc đẹp nhất của làng chị, ngày xưa dài chấm đất nay xơ xác búi lỏng lẻo lòng thòng ngang cổ. Ðáng lẽ chị bỏ đi khỏi làng, nhưng nghiệt bị bà mẹ chồng què quặt níu kéo. Bà mẹ chồng khóc lóc thảm thiết làm chị xiêu lòng. Chị ở lại với niềm tin duy nhất là người chồng đi lính sẽ trở về đây tìm chị dễ hơn là chị theo dân làng phiêu dạt nơi nào.

Chị là người hàng xóm duy nhất hay đi lại trò chuyện với Nhan. Mặc dù không có chuyện để nói, nhưng họ vẫn nói, nói để đánh tan bao cô độc, bao nỗi buồn triền miên âm thầm đến tuyệt vọng.

- Hồi chiều…

Chị Nhỉ ngồi bệt xuống đất cạnh Nhan và bắt đầu kể lể.

- Hồi chiều, tao băng rạch qua đồi…

Nhan kêu lên :

- Chị băng qua bển mà không sợ hả ? Ông Cả Bửng nói có ma ở bển đó.

Chị Nhỉ nhích môi cười nhạt :

- Ðói thì đầu gối phải bò, ma với cỏ gì. Bên đó có nhà ông Xã Nang, ổng đi còn để lại mấy hủ gạo. Lão Cả Bửng dọa mình để một mình bưng hết. Tao qua đó kiếm được mấy cái bẫy với lại một lưng lúa. Nhưng để lâu, mọt nó ăn, sâu nó ăn còn có vỏ không. Tức mình tao đem bẫy đặt ngoài hang núi, chờ đến chiều mới được một con chồn. Cái giống tanh, nhưng lâu ngày chỉ có khoai với sắn xót cả ruột.

Nhan nuốt nước bọt :

- Hồi chiều tụi em cũng ở đằng rạch. Không thấy chị ?

- Tối mịt tao mới về tới nhà. Về tới nhà tao mới run. Chèn ơi, sao mà nó dễ sợ hơn bên mình nhiều.

Nhan nhìn chị Nhỉ. Ðôi môi còn bóng lưỡng vì chất thịt. Người chị bốc lên một mùi tanh tanh làm Nhan lợm giọng. Nhan giả vờ bị kiến cắn, suýt soa chồm ngồi đối diện với chị Nhỉ :

- Sao hổng biết bà Bảy bán bánh, bà Dự bán chè đi nói yên yên rồi về mà chẳng thấy gì hết. Sao họ không về đây Nhan há ?

Bà Bảy, bà Dự là hai người hàng xóm quen của Nhan.

- Ðâu có ai về.

- Sao yên mà chẳng ai chịu về ?

Nhan thở dài. Ai mà biết được tại sao. Họ chưa về hay họ không bao giờ về nữa. Nhan rùng mình khi nghĩ đến những ngày tháng tới.

Chị Nhỉ nhìn Nhan, trong khóe mắt chị hai giọt lệ trào nhanh.

- Bộ mình cứ như thế này hoài hả Nhan ?

Nhan nghe chị than thở câu này cả trăm, cả ngàn lần rồi. Chị như con chim muốn bay mà mất cánh. Nhan nhìn ra xa. Ngoài tiếng chim đêm khắc khoải, tiếng ếch nhái kêu vang, không còn gì sinh động vui tươi. Cây cối thì có vươn mình, có đơm thêm nhựa sống, nhưng sao chẳng thấy ai trở về, dù là trở lại thăm. Nhan nói với chị Nhỉ mà cũng như nói với riêng mình :

- Rồi họ cũng về chớ chị.

Nhan đột ngột nín thinh. Nhà đâu nữa mà về. Tất cả đã bị tàn phá, tất cả đã nằm bẹp. Ruộng không còn, vườn cũng không, đất đai cằn cỗi. Ai mà mong về.

Bỗng chị Nhỉ đột ngột nắm lấy vai Nhan. Bàn tay chai cứng của chị đè nặng trên lần vải áo :

- Hay mình cũng đi Nhan à. Tao sợ ở đây quá. Không còn ai ngoài mấy người già. Mầy dắt ông già mầy, tao cõng bả ở bên cũng được. Ði đi mầy. Ðâu còn ai ở lại đây nữa. Dễ sợ quá mầy.

Nhan rùng mình. Ði. Ði. Ði tới nơi nào đông người. Nhan mường tượng đến một ngôi làng trù phú xa lạ. Có chợ, có người, có gạo, có quà, có thịt, có cá, có xôi, có đậu. Nhan như muốn thoát bay. Nhưng chỉ một phút thôi lòng đã chùng xuống.

- Mà đi đâu. Chị có biết đâu không ? Lâu rồi, hổng thấy có ai qua lại, cả tàu lửa, cả xe đò, xe lam. Ði đâu chị ?

Chị Nhỉ nhớ tới nơi anh Nhỉ đóng quân, một cái tên lạ hoắc :

- Bạc Liêu. Ði Bạc Liêu.

- Ở đâu chị ?

Chị Nhỉ thờ người. Cái tên nghe mà xa lạ như không biết. Mà chị không biết thật, bởi những ngày yên ấm cũ, chị có bao giờ thắc mắc đến vùng đất trú đóng của chồng. Người chồng thỉnh thoảng gửi tiền, gửi thư, những cái thư hoặc đưa tay hoặc theo mấy chuyến xe lam chở đến tay chị. Những địa danh thay đổi từng thư một chị không màng biết đến. Ðối với chị ngôi làng nhỏ này là quê hương, là vùng đất độc nhất chị ở, chị trao thân gửi phận.

- Không biết.

Nói xong, người chị rủ xuống. Búi tóc xổ tung. Những sợi tóc dài bay bay rã rời. Nhan im lặng nghĩ đến mái tóc chị Nhỉ ngày xưa. Chắc khi tóc Nhan dài bằng chị, Nhan cũng già như chị bậy giờ. Chị Nhỉ vẫn gập người. Chị không còn khóc lớn được nữa. Hằng đêm khóc cho cảnh cô độc đáng sợ trong ngôi làng hoang tàn nầy đã rút hết nước mắt của chị rồi. Nước mắt bây giờ trào ra như những giọt lệ thừa. Nhan biết rồi chị sẽ quên cơn buồn của mình ngay. Cứ để chị ngồi yên.

- Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lỗi nhịp gập ghềnh khó đi


Tiếng thằng Lời nhừa nhựa vang lên từ trong nhà.

Chị Nhỉ ngẩng đầu lên. Nhan cười với chị :

- Cái thằng đỏng đảnh phát ghét.

- Giá chị có một đứa con với ảnh chắc chị không có buồn như vầy.

Nhan cười :

- Chị có con chắc chị bỏ đi lâu rồi. Có đâu ở lại đây mà buồn chi cho mệt. Mình cứ chờ. Biết đâu chưa yên nên dân làng mình chưa dám về. Chớ em chắc ai chớ dì Dự cách gì dỉ cũng về mà.

Chị Nhỉ im lặng một chút rồi gật đầu :

- Ờ, dì đó thì không bỏ ruộng, bỏ làng được đâu. Tội nghiệp, hồi đi, dỉ khóc quá xá. Dỉ còn gửi tao mấy cái lu nước còn nguyên, nói là để hồi cư về khỏi mua.

Nhan cũng nghe hy vọng dâng lên. Một chút vui vui hăng hái. Một ngày nào đó làng sẽ vui như cũ.

Chị Nhỉ nhìn Nhan một hồi lâu :

- Mới đó mà mầy cũng lớn bộn rồi đó Nhan. Tao nhớ hồi chạy, mầy khóc quá trời. Bị ông già mầy thương bà già mầy nên… ừa mà hồi đó mầy đâu có lớn như vầy. E làng mà còn đông đảo cỡ nầy mầy đã lấy chồng rồi.

Nhan bỗng nghe xấu hổ ngang.

Chị Nhỉ vô tình cứ nói tiếp :

- Mầy lớn trông được ra chớ. Cũng mập mạp đỏ da đỏ thịt chớ có gầy gò gì cho cam.

Rồi chị chép miệng :

- Con gái lạ thật. Cứ tới tuổi là phở da, ăn uống kham khổ cũng cứ lớn như thổi. Hồi chị bằng tuổi nầy là anh ấy đi hỏi đó.

Nhan nhìn mải miết lên ngôi sao đêm sáng rỡ giữa trời. Tiếng chị Nhỉ nói râm ran xa vời. Nhan nghe lòng mình là lạ. Hình như có chút gì mơ hồ trong lòng không rõ rệt. Nhưng tình cảm đó chiếm mất những lo âu mà đời sống thực đưa đến. Nhan hầu như ít quan tâm hơn đến những bữa ăn ngon hay dở, ít đòi hỏi chút gạo thay khoai như thằng Lời hay đòi, như Nhan đã đòi hỏi cách đây không lâu. Tất cả như câu chuyện phụ. Nhan mơ hồ thấy mình đổi khác.

- Con nhỏ lớn bộn rồi chớ. Tội nghiệp, vậy mà cứ ở mãi đây. Bằng tuổi nầy là phải có bạn bè chớ. Ở đây còn hơn là ở chốn khỉ ho cò gáy nữa là.

Tiếng chị Nhỉ nói như một âm thanh lạ. Nhan cúi xuống cái bóng mình in trên lằn đất nện. Mớ tóc dài sau lưng quệt một cái đuôi như đuôi con trâu cái của mẹ Nhan hồi xưa. Nhưng Nhan cũng đọc thấy sự khác biệt của hai chiếc bóng. Một còm cõi già cỗi, một no tròn nhẹ nhõm. Nhan mường tượng lại thời gian mấy tháng qua, Nhan thấy mình là lạ làm sao. Hay buồn rầu gắt gỏng, đôi lúc thích ngồi một mình, đôi lúc thèm muốn chỗ đông người. Nhan hay nhìn trời, nhìn mây rồi ao ước vẩn vơ. Những ao ước cằn khô và vu vơ như khu làng hoang vắng nơi Nhan ở.

- Chị Nhỉ à. Sao mấy hôm rày tui hay nghe thấy tiếng còi xe lửa ghê. Hồi chiều này này. Tui nghe rõ ràng có tiếng còi xe lửa.

Chị Nhỉ chồm người lại hỏi :

- Thiệt có xe lửa không ? Dám vài bữa nữa có người về làng lắm.

Câu nói của chị Nhỉ làm Nhan thấy rõ sự tuyệt vọng của chính mình. Nỗi hy vọng của chị Nhỉ làm tấm gương soi thấy sự hy vọng mà Nhan đang có. Từ đó, Nhan thấy mình chỉ nghĩ và mơ hão huyền. Nhan ngập ngừng nói :

- Hổng chắc đâu chị Nhỉ ơi. Có bữa nửa đêm tui nằm ngủ cũng mê thấy xe lửa nữa, thức dậy còn nghe tiếng máy chạy rung rinh cả đất. Nhưng hồi chiều ban ngày…

Nhưng chị Nhỉ hầu như không nghe thêm gì nữa. Cái mấu hy vọng vừa bắt được, chị không muốn bỏ rơi. Chị muốn nuôi nấng nó để sống, để chịu đựng sự vắng lặng im lìm đến dễ sợ của chốn hoang sơ.

Có tiếng gió rít qua gốc tre đằng xa. Chị Nhỉ bỗng đứng bật dậy :

- Tao nghe… đúng rồi, có tiếng còi xe lửa mà. Thế nào cũng có mà.

Nét mặt chị rạng rỡ :

- Mai mốt dân làng về rồi. Thế nào ảnh cũng về. Ra coi xe lửa đi Nhan. Ði đi…

Chị đứng dậy búi vội mái tóc sổ trong khi Nhan ngơ ngác nhìn chị cố ý lắng nghe có tiếng còi nào trong đêm không.

- Làm gì có tàu đi ngang đây ban đêm.

Chị Nhỉ không nghe Nhan nói, chị thoát đi như chạy :

- Ra đón coi xe lửa Nhan.

Bóng chị giải trong màn sương trắng. Nhan sực tỉnh kêu to :

- Chị Nhỉ, tối rồi đi đâu. Không có đâu. Ði dễ sợ lắm, qua núi không được đâu. Chị Nhỉ, không có đâu.

Chị Nhỉ như không nghe vẫn đi băng băng. Bóng chị ẩn hiện sau những khóm cây thưa.

- Cái gì vậy Nhan ?

Ông già lòa nằm trong nhà không ngủ. Tiếng Nhan chới với y hệt tiếng kêu của đêm nào binh lửa dậy ngôi làng nhỏ. Ông già hốt hoảng bật dậy lần vách ra cửa.

Thằng Lời cũng chạy theo đứng sát cạnh cha. Nhan chỉ tay theo hướng chị Nhỉ hốt hoảng nói :

- Chị Nhỉ, chỉ đòi ra ngoài đường rầy coi xe lửa đó tía.

- Trời đất.

Ông già quay quanh chụp vai thằng Lời :

- Lời chạy theo kéo nó về.

Thằng Lời không đợi tiếng thứ hai co giò chạy miết. Ông già dựa vào cột nhà lẩm bẩm :

- Riết rồi tụi nó hóa điên hết. Trời Phật đâu không ngó xuống.

Nhan bước tới lui trước khoảng sân nhà. Gió lành lạnh đầy hơi núi lan tràn khắp thung lũng. Thằng Lời mất dạng. Nhan lại bên cha :

- Thôi tía vô ngủ, chắc thằng Lời đuổi kịp chỉ mà.

Ông già làm thinh nhưng không nhúc nhích. Nhan cũng không giục cha thêm nữa. Nàng thấy cần có người đứng cạnh.

Thế rồi trong tiếng côn trùng kêu, tiếng lá, tiếng gió rì rào, Nhan nghe tiếng cằn nhằn của thằng Lời:

- Chị điên hả, giờ nầy mà ra ngoải, không sợ ma hả. Tàu lửa với tàu bè.

- Không có xe lửa nào đâu cháu ơi. Cây cỏ mọc đầy, mấy khúc rầy có làm lại đâu mà xe lửa chạy, bị gỡ lâu quá rồi, mầy ở đây già đầu mà còn không nhớ.

Nhan lẩm bẩm :

- Bác Cả Bửng tía à.

Mặt ông già vui vui. Ðôi mắt trắng chớp chớp trong cái trũng sâu thấp dưới vầng trán nhăn.

Bóng ba người đã đến ở đầu đường quẹo. Dáng lão Cả Bửng vững chải nhất che lấp cả hai người kia. Nhan rời chỗ đứng, đi ra.

Chị Nhỉ khóc tức tưởi. Chị không nói không rằng, ngồi bệt bên gốc cây vạn thọ cằn cỗi. Thằng Lời lẹ miệng phân bua :

- Xém chút nữa chỉ nhảy qua lạch đó Tía. May mà bác Cả đang đặt nơm cá, chận chỉ lại. Thiệt đàn bà giống nhau hết chỗ nói. Hồi chiều đó Tía, đang hái rau, chị Nhan cũng đứng bật dậy nói là nghe tiếng xe lửa.

Cái đầu thằng Lời ngúc ngoắc vờ làm ra vẻ chán nản như người lớn. Bác Cả Bửng vò đầu nó cười lớn :

- Mày giỏi quá hén.

Nhan nhìn cha. Ông già ngước đầu nhìn ra ngoài như cố dõi mắt tìm người bạn già. Bác Cả Bửng bước lại gần nắm lấy tay ông già giục giặc :

- Anh Hai há, mình già nên chẳng nghĩ gì hết. Tụi nó chắc chịu không nổi quá.

Ông già chép miệng :

- Thiệt tui cũng không biết sao, hồi đó nói nó đi, nó không chịu, bây giờ thì kẹt rồi. Tội nghiệp, mấy đứa còn nhỏ. Nhiều khi tui buồn chỉ muốn chết phức cái thân già vô dụng. Nếu trời không bắt tội mù lòa, chắc tui cũng dẫn nó tìm đường sinh nhai.

Bác Cả Bửng thở dài :

- Ði đâu ? Ði đâu, càng đi càng nhục. Chỉ có đất quê mình mới sống được. Lên tỉnh, lô ngô lố ngố một lũ. Suốt đời tui cũng không dám. Lạ thiệt tui cũng biết thiên hạ đi được mình đi được, nhưng tui không dám rời đất này. Với lại tưởng họ đi năm sáu tháng rồi về, yên rồi về, nhưng sao chẳng thấy ai về hết. Bộ họ không về sao anh Hai ?

- Chắc riết rồi cũng về chớ. Nhớ cái hồi đánh Pháp không ? Tụi mình vô núi rồi nửa năm sau cũng về đó.

Hai đôi mắt già, một sáng một lòa cùng chớp lên một chút hy vọng. Nhan dẫn cha vô nhà. Bác Cả Bửng theo sau. Hai ông già cùng ngả lưng trên chiếc giường tre. Cả hai sẽ nói chuyện với nhau và ngủ ở đây suốt đêm. Thằng Lời thì hí hửng ra mặt vì tảng sáng, thể nào bác Cả Bửng cũng ra rạch lấy nơm, nó sẽ đi theo và chắc chắn cũng được vài con cá nướng trui thơm lừng.

Lời chạy theo hai ông già và ngồi dưới chân giường lắng nghe câu chuyện.

Chỉ còn Nhan và chị Nhỉ ngoài sân. Trăng càng lúc càng lên cao sáng rỡ. Nhưng sương bắt đầu dày bịt trên mấy ngọn cây. Chị Nhỉ đã hết khóc. Chị ngồi bó gối mà nghe cái lạnh của sương đêm thấm vào người, thấm tận vào hồn. Chưa bao giờ chị thấy mình quay quắt với ý nghĩ trốn đi khỏi vùng đầy tiêu sơ hoang lặng này. Quanh chị, cảnh u tịch đến rợn người. Không còn tiếng chân người đi khuya, tiếng học bài của trẻ, tiếng ru con của bà mẹ, tiếng cười đùa của mấy cô gái tụm năm tụm ba. Không cả tiếng chó sủa đêm và tiếng lợn kêu ăn ngoài vườn sau. Ngôi làng hoang lạnh im lìm. Mỗi đêm đến, nghe tiếng kêu khắc khoải của lũ ễnh ương chị lại nằm sát vào bà mẹ chồng què quặt mà không tìm được sự yên ổn hoàn toàn cho tâm hồn mình.

Nhan cũng vậy, nhưng tuổi trẻ nhiều sức sống hơn. Nhan có mơ ước, có giao động và sợ hãi, nhưng Nhan không như chị là sợ quá khung cảnh chết quanh mình.

- Thôi, chị Nhỉ về chớ không bà Tư lại mong. Chị đừng buồn nữa nghe. Mai chị ra lạch với tui, mình câu cá. Chị nhớ đào trùn nghe chị.

Chị Nhỉ đi về rồi, Nhan ngồi bó gối nhìn trời. Mấy sợi tóc dài suông đuột vấn vít trước ngực. Nhan mân mê tóc mình nghĩ đến tiếng còi xe lửa mà chị Nhỉ tưởng tượng. Nhan nghĩ mình cũng như chị Nhỉ và sự thật, không có gì hết ngoài sự trống không, tiêu sơ nầy. Nhan nghe thất vọng. Giá bây giờ có một đứa bạn đồng lứa tuổi cùng chơi, cùng nói chuyện phải hay biết bao nhiêu. Nhan nhớ đến con Tuần, con Vũ, con Dung. Mấy đứa bạn cứ đến đêm là chơi trò ú tìm đuổi bắt. Con Vũ thì đã chết hồi đánh nhau. Mộ của nó chôn ở ngoài khu ruộng sắn. Con Dung, con Tuần theo gia đình chạy loạn. Tội nghiệp trước khi đi, con Dung còn chạy qua nhà Nhan, cổ đeo một túi áo quần, khóc như mưa như gió. Bây giờ chắc nó cũng lớn bộn như mình, nhưng chắc tóc thì không dài hơn được. Không biết bây giờ tụi nó làm gì nhỉ, ở đâu, có nhớ đến Nhan không. Nhan nghe mình thèm quá đỗi bầu không khí vui nhộn rộn ràng giữa đám bạn bè thân thiết.

Bất giác, nước mắt Nhan chảy ra. Nhan biết mình khóc không vì cái gì hết, không vì nhớ mấy đứa bạn mà lòng Nhan tự dưng cảm xúc vì nỗi khắc khoải không tên, không lời trong lòng nàng.

________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG II

Phương Nào Bình Yên



Truyện : KIM HÀI
Loại Hoa Tím
Tủ sách Tuổi Hoa - 1974

CHƯƠNG I 
CHƯƠNG II 
CHƯƠNG III 
CHƯƠNG IV 
CHƯƠNG V 


Sưu tầm và đánh máy : GMC, GOC TROI PARIS

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Cơn Lốc Dữ


1

Thật ra, cũng vì tiếng súng đầu năm mà tôi có dịp được biết cái hội của mẹ tôi… và đâm ra ưa thích. Chả thế này : nguyên hôm mồng bảy Tết, súng đạn vèo vèo vào nhà, lủng tường lủng vách, gia đình tôi kéo nhau chạy không quay lại. Mấy ngày đầu thì chúng tôi ở nhà cậu mợ tôi. Cậu mợ rất mừng – ai chả thế, trong lúc loạn lạc, tai biến, người dưng nước lã với nhau mà còn tử tế huống là thân quyến, họ hàng – Nhưng qua đến hôm thứ ba thì mẹ tỏ dấu bực mình. Ngay cả chúng tôi cũng thế. Nhà cậu mợ là phố, lại là phố lầu bốn tầng. Lên xuống mỏi cả chân. Suốt ngày chúng tôi cứ như là bị giam trong nhà tù, không thở được. Chiều chiều, mẹ nói “đứa nào thở, đi với mẹ, nào!” thế là chúng tôi dạ ran lên, kéo theo mẹ như một nửa tiểu đội đến giờ thay phiên gác, lên tận sân thượng, nghĩa là kéo nhau vượt bốn tầng lầu.

Đến nơi, đứa thì đưa tay chận ngực thở dốc, đứa thì ra bao lơn nhìn xuống đất, nom con người, con vật bên dưới lùn tịt, bé tí và cười vang lên. Rồi chúng tôi bắt chước mẹ vươn vai thở, thở, thở như chưa từng được thở!

Đứa nào cũng vui, khen mát vang lên. Song đến lúc phải xuống, anh nào mặt cũng xìu như lốp xe bị gai đâm lủng.

Suốt ngày chúng tôi bày trò đuổi bắt, nhưng nhà chật, đồ đạc đầy ngập, giăng khắp các lối đi, không có chỗ chen chân. Mẹ tôi bực nhất : bà không có chỗ nào ngồi xuống được để làm việc báo bổ của bà. Chỗ nào cũng tối, mợ biết ý, khuyên mẹ “chị vặn điện lên” nhưng mẹ lắc đầu, kêu “Thôi, thong thả, nóng lắm”. Cái máy chữ được khệ nệ xách từ tầng dưới lên tầng trên, lên tầng nữa, tầng nữa và sau cùng lên tận sân thượng, song rút cục, lại được khệ nệ đem xuống.

Đêm, tụi tôi ngủ trên sân thượng thì gió to chịu không nổi mà ngủ trong các phòng thì lại nóng quá, chịu cũng không nổi. Có một chút xíu ánh sáng và khoảng trời ở phía bếp thì lại được kéo kín bằng những tấm tôn ni lông nên càng bức.

Không phải ở nhà mình nên chúng tôi càng được dịp thả lỏng, ồn ào, ầm ỹ, lộn xộn, vô kỷ luật. Chả lẽ lại đánh mắng chúng tôi sao? Con Bé hơi một tị là khóc, hơi một tị là vòi. Thằng Minh hơi một tí là ăn vạ, hơi một tí là dỗi.

Cho đến ngày thứ năm, mẹ tôi quyết định dời chỗ ở. “Thì chưa về nhà được, hẳn thế, nhưng tôi muốn ở một chỗ nào, tôi có thể yên về con cái mà còn lo việc khác” Mẹ tôi nói với ba, ba tôi ậm ừ nhưng không tán thành. Mẹ tôi rầu giọng tiếp:

- Phải đi, tôi còn nhiều công việc…

Chúng tôi hiểu đây là công việc ngoài các hội của mẹ tôi. Tôi còn nhớ bà nói với chúng tôi:

- Hôm kia đi chợ, ngang đường P.Đ.P. mẹ trông thấy bà T. ngồi trên xe Hồng Thập Tự đang chạy về phía Chợ Lớn. Nom bà có dáng vội vã, mồ hôi đẫm cả mặt… (giọng mẹ tôi nhỏ lại) mẹ phát ngượng…

- Mắc gì mà ngượng?

Chị Thu bộp chộp hỏi. Mẹ tôi cao giọng:

- Ngượng lắm chứ, con! Trong lúc các chị trong hội lo vất vả tìm cách cứu giúp đồng bào thì mẹ chỉ chạy theo các con, tìm đến chỗ an toàn…

- Chứ biết làm sao bây giờ? Có giặc mà!

Con Hà đưa ra một ý kiến mà cái đầu óc bé hạt tiêu của nó cho là rất chính xác, đúng đắn.

- Thì có giặc, chính trong lúc này mới cần có mặt… Nếu chỉ vô hội để lấy tiếng, có mặt trong lúc yên lành thì vô hội làm chi? Các con không biết suy nghĩ gì cả.

- Các con ích kỷ, hãy noi gương mẹ đây!

Tôi nhại giọng mẹ, khôi hài tỉnh. Con Hà và chị Thu cùng la lên:

- Làm trời hả? Mẹ ai?

Tôi nhảy tót lên sân thượng. Ngồi lại thế nào cũng bị bà chị cả cốc cho vài cái lên đầu và con em tai ác mè nheo nhức óc.

Tuy vậy, cho đến ngày thứ sáu, chúng tôi vẫn chưa dời chỗ ở. Tối lại, tôi giật mình giữa hai tiếng súng, thoáng có giọng mẹ bàn tính với chị Thu về chuyện này. Tôi dỏng tai lên nghe. Chị Thu Hỏi:

- Chỗ nào ba cũng chê, vậy giờ mẹ tinh sao?

- Mẹ nghĩ kỹ rồi, khỏi bàn cãi lôi thôi : ngày mai, nhất định cả nhà mình ra Hội ở. Như vậy mẹ yên tâm, giao lũ nhỏ cho con mà lo vài công việc…

Chị Thu nồng nhiệt góp ý:

- Phải đó, mẹ. Ở đây con la tụi nó không nổi đâu. Tụi nó cứ lẻn lẻn lên sân thượng, có bữa té chết, con không…

- Phải rồi, mẹ sợ chuyện đó nhất.

- Lại còn đánh lộn nhau nữa chớ. Chạy giặc cực khổ mà cứ nhơn nhơn, con bực hết sức…

- Ờ… ờ con nói phải, mẹ cũng bực hết sức.

- Bữa nay, con Hà với thằng Vũ kỳ ghê. Dám ra hẻm… tụ tập với tụi…

- Ờ… ờ… mẹ biết… mẹ biết… Bởi vậy, mẹ mới tính ra hội ở đó. Ở ngoài hội, gần nhà, mình có thể đi về coi chừng nhà dễ dàng hơn. Lại có chỗ cho ba để xe, có chỗ thoáng, rộng cho các em chơi.

- Rồi chuyện ăn uống làm sao, hả mẹ?

- Không lo, ngoài đó bếp rộng rãi, mình muốn ăn gì mua nấu lấy. Con chịu khó vài hôm, rồi mình sẽ về nhà…

Giọng chị Thu reo lên:

- Con ưng như vậy lắm.

Giọng mẹ ngập ngừng:

- Nhưng mà mẹ chỉ ngại… mợ con buồn, mợ tưởng mình…

- Dạ, con nghe mợ nói mợ không chịu mẹ đi đâu.

- Mẹ biết, nhưng mà ở đây mẹ sốt ruột lắm. Mẹ còn nhiều việc. Không sao, rồi mẹ sẽ nói cho mợ con hiểu, không sao…

Giọng mẹ tôi như từ xa vang lại, như bị bao trùm bởi một màn sương mỏng, loãng dần ra và tan biến : tôi lại ngủ thiếp đi.

*

Bởi hai người đã dự tính trong đêm, nên sáng ra mẹ không cho chúng tôi thay áo, ngừng cả giặt gịa. Chị Thu và mẹ lo thu xếp mọi thứ, nhẹ nhàng – gần như lén lút – mang ra chất vào xe. Lũ bé vẫn không hay biết gì, vẫn nhẩn nha đùa giỡn ầm ỹ.

Đến bốn giờ chiều thì tất cả chúng tôi lên xe. Cậu cũng đi theo, đưa chúng tôi đến chỗ trú mới. Mợ buồn ra mặt còn Cu Lộc (con trai của cậu mợ tôi) thì khóc nức lên, một hai đòi đi theo ba mẹ và chúng tôi. Mẹ cũng khóc.

Đường vào hội bị chận lại, nên xe cậu không vô được. Chỉ mình xe chúng tôi được qua, vì mẹ nói là người trong hội.

Đã bốn giờ mà vẫn còn nắng tợn. Trụ sở hội mẹ tôi ở vào một vị trí khá tốt ngay Trung Tâm Sài Gòn. Rộng, mát, sạch sẽ song nom bề ngoài không được xinh xắn và sang, trái lại là khác. Nhà rộng mênh mông, lợp ngói cũ kỹ nom như một cái đình khổng lồ. Đó là chỗ nuôi và giữ các trẻ em nạn nhân chiến tranh. Theo lời mẹ tôi thì có độ trên 100 đứa được nuôi luôn (vì mất hết cả cha lẫn mẹ) và dăm chục đứa gửi tạm. Nhân dịp tết, có một số trẻ được ông bà, cô chú, bác, cậu, thương tình đón về chơi và tiếng súng đầu năm bùng nổ bất ngờ làm số trẻ này bị kẹt ở các tỉnh, ở các vùng ngoại ô không trở về kịp. Vì lẽ đó khi xe ba tôi dừng lại thì nom thấy sự hoang vắng rộng rãi khác thường ấy. Mẹ tôi và chị Thu xuống xe trước tiên. Khi tất cả đã xuống xe rồi, tự nhiên cả bọn chúng tôi chùn chân lại, không muốn theo mẹ vào trong, dù là các cô trực trong hội niềm nở đón mời. Mẹ tôi nói như để khuyến khích chúng tôi:

- Đó, các con coi rộng rãi, mát mẻ không? Tha hồ chạy nhảy và thở nhé? Chiều mát ra sân chơi, vui phải biết. Ở đây, ba có thể đến sở gần, và nhà cũng gần, mẹ cũng…

Nhưng đang thao thao bỗng mẹ tôi cảm thấy một cái gì là lạ, khác thường vây bọc chúng tôi, mẹ tôi cảm thấy những lời bà không được ai tán thưởng, bà liền ngừng lại, nhìn quanh. Không khí chĩu nặng, không phải chĩu nặng bởi ngờ vực, lo âu mà là bởi chúng tôi cảm thấy xa lạ, lạc lõng trong cái đình khổng lồ, mà quang cảnh xung quanh không gợi cho chúng tôi một chút quen thuộc và ấm cúng. Ôi! Rộng rãi mà làm gì? Hình như tất cả chúng tôi đều đồng ý với nhau : luyến tiếc vô cùng tận cái không khí trong nhà cậu mợ. Cái không khí thân mật, chật chội… mà trước đó một giờ đứa nào cũng kêu là khó thở!

Nhưng chúng tôi không thốt ra một tiếng kêu than nào. Chúng tôi còn dò phản ứng của ba tôi. Chúng tôi đứng trì trì ra đó, không tháo giày, thay áo, cũng chẳng giúp mẹ xách đồ đạc của phần mỗi đứa như vẫn thường làm từ hôm chạy đến nay.

Ngay cả chị Thu (thật là một hiện tượng lạ lùng, kỳ quái) mấy hôm nay vẫn tán thành ý kiến mẹ mà giờ cũng lầm lì một cách khó chịu.

Mẹ tôi vừa ngạc nhiên, vừa giận dữ:

- Lũ này… lũ này… làm sao thế? Sao đứng trơ ra đó…

- Thôi! Đừng làm khổ con. Tôi tưởng mợ đưa cha con tôi đi đâu, hóa ra… thật y như là kẻ không họ hàng, nhà cửa, lũ mồ côi…

Thế là cả bọn chúng tôi nức lên khóc một lượt. Phải : ba tôi đã gãi đúng vào chỗ ngứa, ông gợi nỗi tủi thân, khổ sở của chúng tôi. Ông hiểu chúng tôi quá đỗi. Ba tôi thật đáng yêu!

Giọng ông chì chiết:

- Đang ở trong nhà cậu mợ, chúng đối xử làm sao mà nằng nặc đòi đi? Mà đi cho kỳ được? Làm buồn lòng em út, làm khổ chồng con…

Chị Thu nước mắt ròng ròng đẫm má, con Hà nức nở cắn môi để nén tiếng khóc, con Bé giương mắt nhìn quanh, tò mò và tỉnh táo hơn hết, còn tôi với Cu Minh thì vội vàng lấy tay quệt nước mắt vì thấy mẹ bị ba rầy. Chúng tôi biết rằng vì chúng tôi mà… thế.

Mẹ tôi gieo mình xuống chiếc ghế bên cạnh như một người kiệt sức, không nói được tiếng nào. Ba chì chiết chán, bỏ ra sân. Bé chạy lại, xoay mặt mẹ ra ánh sáng để xem mẹ có khóc không, đoạn dỗ dành:

- Mẹ đừng khóc. Con thương mẹ, con ưng ở đây hơn.

Mẹ tôi nói với chúng tôi:

- Lúc nào mẹ cũng cố làm cho các con và ba vui, mà những cố gắng của mẹ đều vô ích. Ba thì thế đã đành, đến các con cũng ưng làm khổ mẹ, phải không? Làm sao mà các con trưởng giả, công tử đến như vậy? Giặc giã, loạn lạc, người ta đói, chết, tàn tật, thương tích nhan nhản ra kia. Các con thế này là sướng lắm rồi, còn ao ước gì nữa? Người ta không có một cái chái nhỏ che nắng, trú mưa, người ta có kêu ca đâu? Các con muốn mẹ cứ phải suốt ngày, suốt tháng chạy theo các con lo ăn, lo mặc, lo chơi mãi thôi sao? Phải để cho mẹ có một chút thì giờ chứ? Tình thế này biết bao giờ chấm dứt? Cứ đợi về nhà được rồi mới làm việc khác thì biết bao giờ? Đây làm sao mà chê? Bây giờ chưa học hành gì cả. Mẹ làm thế nào, mang các con đến chỗ nào mà các con khỏi đói, khỏi lạnh là được rồi… Các con ích kỷ…

Thình lình mẹ tôi đổi giọng, không rầu rầu nữa mà đầy giận dữ:

- Tập quen khổ nhục, bỏ thói vương tôn, công tử đi là vừa. Ai làm gì mà gọi là tủi thân? Đừng có mỗi chút mỗi khóc, khóc bậy, không nhằm chỗ, tao lại phết cho mỗi đưa năm roi vào đít bây giờ. Từ bữa chạy đến giờ lũ này hư lắm đó. Để tao bỏ qua luôn, đừng làm tao cáu lên mà khốn.

Cả lũ ráo hoảnh mắt, vểnh tai lên. Mẹ tôi tiếp, giọng trầm hơn chút xíu:

- Tuy rằng mẹ không nói, đừng tưởng mẹ không biết các con đã làm gì, ra sao trong mấy ngày qua. Tao có mắt cùng khắp, đứa nào đánh bài, đứa nào ăn vặt, đứa nào đánh lộn, chửi thề… tất cả, tất cả mẹ đều biết hết. Nhưng mà thôi, mẹ bỏ qua cho. Từ hôm nay trở đi, liệu mà giữ mình, liệu mà ăn ở, mẹ không muốn nói nhiều. Rửa mặt thay áo đi, thu dọn đồ đạc một chỗ. Còn lo bữa ăn chiều.

Cả bọn riu ríu làm theo lời mẹ. Chị Sáu ( người giữ trẻ trong hội) mang lại ba cái màn mới tinh, to tướng và hai chị khiêng lại ba cái giường. Họ xúm đến lau quét, trải drap, sắp gối cho gia đình chúng tôi, người nào cũng vui vẻ, săn đón, trò chuyện không ngừng. Chị Sáu nhỏ nhẻ nói với mẹ:

- Thưa bà, bà đừng rầy các cô, các cậu, tội nghiệp! Các cô các cậu còn nhỏ quá mà phải chạy cực khổ đến chỗ lạ nên tủi thân là phải… dạ các cô cậu dễ thương quá… Còn lạ… chừng quen chắc dễ chịu, vui…

Chúng tôi hết sức cảm động. Và hối hận nữa. Phải! Chúng tôi đáng đòn thật, đây làm sao mà chê? Không sang, không đẹp thì đã làm sao? Mà gia đình chúng tôi cũng tầm thường vừa phải, nhà cửa sáng sủa, sạch sẽ một chút, chứ sang trọng chi đâu? Tại sao chúng tôi lại khó chịu đến vậy, làm phiền mẹ, làm cho mẹ bị ba rầy?

Vừa lúc đó, một chiếc xe đổ xịch trước cổng và bác L. nhanh nhẹn bước vào. Bác có vẻ vui thấy gia đình chúng tôi tại đây.

- Thế nào? Bằng lòng nhé? Tha hồ…

Mẹ tôi liền kể tội chúng tôi ra. Bác cười to:

- Ôi, đứa nào mà chả thế? (quay sang chúng tôi, bác giảng dụ) Này các con ơi! Bây giờ loạn lạc, cốt được chỗ yên lành là quí…

Nghĩa là đại khái bác cũng nói như mẹ tôi, nhưng dài hơn, dịu dàng hơn, văn vẻ hơn. Rồi bác kề tai chị Sáu nói một hơi, một hồi. Rồi vác vò đầu từng đứa đoạn quay ra sân trò chuyện với ba tôi. Độ năm phút, bác trở vào, nói với chúng tôi:

- Thôi, bác về nhé? Vui vẻ lên. Chốc nữa chị Sáu sẽ dọn cơm cho các con ăn. Chịu khó, chóng ngoan… đừng làm mẹ buồn. Rồi bác lại vào thăm.

Chúng tôi rửa mặt qua loa, thay áo quần xong ra sân chơi. Chỉ một chốc là chị Sáu dọn cơm xong. Chị dọn cho gia đình tôi một thau canh, một đĩa bàn to thịt kho và một rá cơm nghi ngút khói.

Hai tay xoa vào nhau không ngừng, chị Sáu nói đi, nói lại với ba mẹ chúng tôi:

- Dạ, không có gì… ông bà và các cô, các cậu dùng tạm một hôm. Dạ, lỡ bữa lỡ bèn quá giờ giới nghiêm nên không đi chợ được, ông bà thông cảm. Dạ, không có gì… dạ, chúng cháu quê mùa, vụng về… không biết nấu nướng chi hết… dạ, chị Bếp chỉ kẹt dưới Long An, cháu phần vụ giữ em chứ không phải nấu ăn, dạ…

Chúng tôi không nghe gì nữa, thịt ngon, canh ngọt, cơm nóng và dẻo… Khi chị ngừng nói thì tôi đã xới đến chén thứ hai. Chị Sáu tươi hẳn nét mặt:

- Cháu mừng quá, chỉ sợ các cậu các cô và ông bà không dùng được thì đói, đêm giới nghiêm không có chè cháo gì mà mua…

- Chị tưởng chúng tôi là ông Hoàng chắc? Ở nhà mẹ chúng không có cho ăn hàng vặt bao giờ. Thôi, chị để mặc chúng tôi. Canh chị nấu ngon lắm, chị Sáu à. Chị đi nghỉ đi. Cảm ơn chị lắm. (Ba tôi nói với chị Sáu)

Chỉ một nhoáng, chúng tôi đã ăn xong. Mẹ đưa mắt một cái, chúng tôi chưa kịp thu dọn chén bát thì chị Sáu và một chị nữa đã giành lấy công việc đó. Cả gia đình ra sân chơi. Ban đầu chúng tôi còn đứng xa xa ngắm lũ trẻ đánh đu, đuổi bắt hay trượt ván. Mười lăm phút sau Minh với Bé nhập cuộc chơi. Tôi với con Hà dự sau chót. Chị Thu ngồi đọc sách như một người lớn!

Cho đến khi mặt trời tắt hẳn, bóng tối phủ ngập sân cỏ, cả bọn lục tục kéo lại bên ba mẹ. Con Hà lên tiếng trước:

- Con chưa bao giờ ăn canh đựng trong thau. Vậy mà cũng ngon, ba há?

- Còn cơm thì đựng trong rổ! Con tưởng dở lắm chứ.

Thằng Minh tiếp. Con Bé cũng góp một câu:

- Chị Sáu dễ thương phải không mẹ?

- Tao thương bác L. hơn.

- Em cũng thương mà… mà bác bất lịch sự.

- Mày biết gì mà dám chê bác? Bác sao mà kêu là bất lịch sự? Bác bảo chị Sáu nấu cơm cho tụi mình ăn đó. Đồ vô ơn!

Mẹ chen vô:

- Đừng nạt em, để em nói coi bác bất lịch sự cái gì đâu?

- Bác nói nhỏ vô tai chị Sáu hồi nãy…

Mọi người cười vang lên. Mẹ giảng giải:

- Bác nói nhỏ vô tai chị Sáu là để chị sáu lo đi nấu cơm đó… như vậy không phải bác bất lịch sự đâu. Khi…

Nhưng một tiếng súng nổ “đoàng” chát tai mọi người làm câu chuyện đành bỏ dở.

Chúng tôi đi đánh răng, ngủ sớm. Thằng Minh phàn nàn không có truyền hình. Ba phàn nàn “mẹ đem cha con bỏ tù ngay giữa thành phố”. Chị Thu phàn nàn “nhà tiêu và buồng tắm như vậy mà mẹ nói đủ tiện nghi” làm mẹ vừa mới vui vui đã cáu lên. Tôi thật bực mình. Mấy người muốn làm ông Hoàng chắc. Cái gì cũng không vừa lòng. Hèn chi mẹ la cũng phải. Chạy giặc mà đòi có gương sen để tắm? Có la va bô để rửa mặt? Chao ôi!


2

Chúng tôi không ở đây lâu. Chỉ một đêm thôi. Đêm sau là về nhà. Mọi người ở đây đều có vẻ quyến luyến chúng tôi, chúng tôi thì chỉ tiếc cái cầu tuột và mấy cái đu. Nhưng về đến nhà thì thích nhất. Chưa bao giờ tôi thấy yêu mến, thiết tha đến tiếng “nhà” đến như lúc này. Nhà! Êm ái làm sao! Vậy mà trước nay chúng tôi chưa bao giờ thấy sung sướng, vui vẻ, chúng tôi thấy chuyện được ở trong nhà là một điều hết sức tự nhiên. Đến khi bị lửa đạn đánh bật, đuổi chúng tôi đi, bấy giờ chúng tôi mới biết cái chuyện tự nhiên, tầm thường kia là vô vàn quí giá!

Chúng tôi lau nhà, quét sân, dọn dẹp những rác rưởi chung quanh, hốt sạch vôi gỗ rơi vãi (vì đạn xuyên tường đổ xuống), làm hoài không kêu than, không biết mệt. Chúng tôi không ngừng lặp đi, lặp lại bốn tiếng “mình được về nhà” một cách thích thú như một khúc nhạc yêu đời!

Chị Thu họp bạn ở trường, cùng với bạn bè cắt phiên đi quyên tiền cứu trợ. Tôi cũng cùng với đoàn tôi ra làm nhà giúp đồng bào ở ngoài khu Pétrus Ký. Mẹ tôi coi bộ hài lòng về hai đứa tôi. Nhưng tôi đâu có chịu lép như vậy?

Trong lúc tôi lo làm nhà (dù trong thực tế tôi chỉ đào đôi ba cái lỗ cột, vác dăm ba tấm tôn, khuân vài cây gỗ, đóng mươi chiếc đinh…) thì chị Thu và các chị bạn chị ấy chỉ nhong nhong ngoài phố, thấy ông đi qua, bà đi lại là a lê hấp, xông đến bên người ta rồi chị thì chìa cái hộp đựng tiền ra, chị thì nhanh nhẩu lấy đinh cúc găm cái “ăn xin” vô áo người ta, rồi cười nịnh… lấy tiền. Gặp trường hợp đó, đố ai dám không cho tiền mấy chị? Dù cho người bị găm vốn là… nạn nhân chiến cuộc chính tông, thứ người cần được cứu giúp hơn là góp phần cứu giúp?

Chả thế mà có lần ba tôi nói:

- Buổi sáng nay ba bị găm “ăn xin” đến ba lần. Mấy con nhỏ thiệt là…

- Bạn chị Thu đó ba, rồi sao? Ba có cho cả ba lần hay không?

- Thì cũng phải… (cười tủm tỉm) tao nom đứa nào cũng ăn mặc như con Thu, ba chắc ba tụi nó thì bị con Thu găm, trong lúc ba thì bị tụi nó… Thôi, tụi nó cũng như con Thu… không nỡ từ chối.

Chị Thu có vẻ đắc ý lắm. Mẹ trêu:

- Như vậy ba không tốt. Ba cho là vì chị Thu, chứ không phải vì lòng thương kẻ không may. Các con có đồng ý không? Mẹ không chịu tinh thần đó.

Tụi nhỏ không hiểu nên không phát biểu ý kiến. Chỉ tôi và con Hà lên tiếng tán đồng quan điểm mẹ tôi. Chị Thu sa sầm nét mặt:

- Sao tụi mày không giỏi đi quyên như tao cho ba thương?

Con Hà vênh cái mặt non choẹt lên:

- Không phải thách, rồi em sẽ vô Hướng Đạo cho coi.

Tôi thì tôi… không vội, tôi đủng đỉnh cười mũi:

- Em đi làm công tác xã hội đàng hoàng như người lớn chứ em không thèm đi xin như con gái đâu. Đi xin mà kêu là công tác xã hội, nghe ngứa cái lỗ tai quá đi! Chị cả ơi!

Thế là lời qua, tiếng lại thành ra cãi cọ to. Sau cùng, mẹ tôi giở lại bổn cũ : nghĩa là dọa phết vào đít mỗi đứa năm roi, cuộc chiến tranh bằng miệng mới tan.

Đứa nào cũng hậm hà, hậm hực mà quên phăng đi cái điều muốn biết : mẹ tôi cho công đi xin và công làm nhà, công nào đáng thưởng hơn?

Trong thời gian chưa đi học, tôi cảm thấy nhơ nhớ cái hội của mẹ, cái hội mà tôi đã tạm trú một đêm trong những đêm chạy trốn lửa đạn xa nhà, cho nên  hễ rảnh mà gặp lúc mẹ tôi ra hội là tôi xin mẹ theo liền. Mẹ tưởng con mẹ yêu mến công tác xã hội lắm, nên rất vui vẻ dắt tôi theo. Ra đến hội lại còn giới thiệu con trai với các bạn của mẹ bằng giọng nồng nàn trìu mến (hay hãnh diện?) thế này chứ:

- Con trai đầu của tôi đấy. Cháu còn nghỉ học…

- Con trai lớn của chị đấy à? Trông giống chị ghê!

- Mà lại giống cả người lẫn nết kia chứ, mới tuyệt chứ! Con mình ấy à? Có buộc dây vào cổ nó lôi ra đây nó cũng không đi, nó còn mắc bận đi ciné…

- Con tôi không bao giờ được đi ciné một mình cả. Một năm không quá bốn bận, mà toàn là đi với bố hay với mẹ. Sao chị thả con đi như thế, gặp phim nhảm thì sao?

- Thật đấy mà, tôi cũng giống chị đấy – một bà khác chen vào câu chuyện – tôi không dễ dãi như chị L. đâu. Một năm trông đi, lựa lại đâu có trong ngoài bốn phim trẻ con coi được mà thôi.

Mẹ được dịp, khoe thêm:

- Ấy, hôm nay mới được đi chơi với mẹ đấy chứ, suốt tuần qua cháu mãi lo xa làm nhà giúp đồng bào chiến nạn ngoài khu Pétrus Ký đấy chứ. Đi suốt ngày, nắng ăn trông đen thủi thế kia đấy, các chị ạ!

Một bà lè lưỡi ra, tặc tặc xuýt xoa như ăn phải ớt:

- Trời ơi! Ngoan thế cơ à? Con tôi toàn chơi với ăn hại thôi. Ăn suốt ngày, kem, bánh ngọt, nước cam chai, xá xị, cái tủ lạnh cứ mở ra mở vô xoành xoạch, xoành xoạch, đá không kịp đông…

- Trời ơi! (mẹ tôi lại kêu lên) Sao chị lại để cháu tự do ăn bậy thế? Hư răng hết còn gì? Con tôi rất ít khi được ăn kem, năm thì mười họa, ông bố dắt đi phố, nhảy rào một bữa chứ tôi thì cấm tuyệt. Nước đá cũng không được uống…

Bà bạn tức thì ngắt lời:

- Chị kỹ thế? Nhưng mà này, hỏi thật : con chị có đau răng không? Mỗi năm đi nha sĩ mấy bận?

- Làm gì mấy bận? Con tôi, đứa lớn nhất ba bốn năm nay không hề biết mặt mũi ông nha sĩ, mấy đứa giữa năm rồi thăm ông ấy có một bận, chỉ hai đứa nhỏ nhất bố nuông, ăn bậy hơi nhiều nên năm nay thăm hai bận. Với tôi thế là nhiều lắm đấy. Tại Sàigòn nước thiếu chất vôi, chứ lúc tôi còn ở tỉnh con tôi không hề đau răng bao giờ, cái nào thay thì rung rinh ít hôm là rụng… Giản dị thế đấy, thưa quí chị!

- Phục thật! Tôi thì thường trực đến nha sĩ mỗi tuần. Không tháng nào là không tốn một khoảng tiền cho nha sĩ. Tốn tiền đã đành mà còn mất thì giờ ghê. Chán quá! Phen này chắc phải bắt chước chị thôi!

Bà thứ ba lại lên tiếng:

- Chị ấy thì còn phải kể, các con ngoan không tưởng tượng được. Ở nhà, đứa thì lau cầu thang, đứa thì dóm bếp, đứa thì lau bàn ghế, đứa giặt gịa, may vá v.v…

Tôi quay mặt đi phía khác kẻo sợ các bà thấy mình cười thì ra vô phép. Ai ngờ được rằng mẹ tôi ở nhà gào khan cổ, hụt hơi mới sai được chúng tôi? Đâu có phải chúng tôi lúc nào cũng đều tăm tắp như cái máy đồng hồ “ô đô” treo ở trên tường cứ đến giờ là đổ binh bong binh bong, không phải nhắc?

Mẹ tôi giọng khiêm nhường (giả tạo) nhỏ nhẹ:

- Úi chào, các chị chưa biết, cũng khổ lắm mới được thế đấy chứ, trẻ con đứa nào mà biết tự lo, biết bổn phận chúng, không làm phiền mẹ…

Một bà tò mò:

- Thế chị có đánh chúng không?

- Tôi ấy à? Tôi thì tôi phết cẩn thận vào mông ấy chứ. Không đánh sao xong?

Ba bốn bà cùng nhao nhao lên:

- Trẻ con mà không roi sao xong, tôi thì cứ theo xưa, theo cổ là tiện nhất. Ai chê trách gì mặc kệ.

Eo ơi! Vậy mà năm phút trước đây, tôi đã có cái ý nghĩ ngông cuồng là các bà “dân chủ” hơn mẹ tôi, là giá mình được làm con của một bà trong số các bà vài hôm chắc vui thích lắm!

Dù sao, tôi thấy thắc mắc một tị : trong số những bà “theo xưa”, “theo cổ” đó, có cả bà có con trai buộc dây vào cổ… Thế là thế nào? Tôi rất muốn biết nhưng không dám hỏi. Thế nhưng, tôi không phải thắc mắc lâu, vì chính bà ấy nói tiếp sau hai tiếng mặc kệ:

- Đánh thế đấy, mà vẫn cứ nhơn nhơn ra, sểnh một chốc là đã la cà ngoài phố, đàn đúm, tụ tập… tôi chán con trai không biết bao nhiêu (lại nhìn tôi một cách trìu mến, ước ao giá tôi có được đứa con trai ngoan như con trai chị nhỉ? Cháu học ở đâu?

- Thưa cháu học trên Thủ Đức…

Mẹ tôi nhẩn nha nói. Vừa lúc ấy một bà mới vào nghe chưa rõ ngô khoai đã kêu lên:

- Trời ơi! Chị trẻ thế mà con đã vào Thủ Đức rồi kia à? Tuyệt nhỉ? Cháu mấy tuổi?

Lần này mẹ tôi vội vàng cải chính rõ ràng, là tôi mới vào trung học, nào Thủ Đức đây là trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức chứ không phải là Quân Trường.

Ấy, mẹ tôi thế chứ mà cũng… khôi hài. Thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn làm cho người khác lầm là con mình đã vào Thủ Đức bằng giọng ỡm ờ, nửa hư nửa thực như thế. Mẹ nóng như lửa nên đứa nào cũng bị đòn, riêng tôi bị đòn nhiều nhất, được cái bù lại, tôi cũng được mẹ nhắc nhở nhiều nhất. Chẳng hạn, hôm tôi thi đậu vào Đệ Thất, mẹ khoe ầm lên với… các cậu, các dì, các cô, các chú… và bất cứ ai. Bằng giọng tự hào, hãnh diện, mẹ nói cả với ba:

- Tôi bây giờ là người đàng hoàng, tử tế rồi : con tôi đã vào trung học rồi. Ông nên biết thế.

Vào Trung Học! Con trai tôi vào Trung Học! Thỉnh thoảng, để cho đổi thực đơn, mẹ tôi thay tiếng vào bằng tiếng : vô Trung Học! Và mẹ tôi cười ròn rã, cười rất tươi, rất vui sau mấy tiếng trên, làm tôi, trong một giây quên phắt mình là đứa con trai mới vào Trung học mà ngỡ đâu mình đã tốt nghiệp Đại Học đâu tận bên Âu Châu xa lắc, xa lơ!

Chết chửa! Xin lỗi các bạn, tôi không định nói về mẹ con tôi. Tôi chủ tâm giới thiệu cái hội của mẹ tôi mà rồi… tán hươu, tán vượn quá xa. Xin lỗi và xin trở lại đề chính, nhé?

Trò chuyện một chốc, nước pha sữa đã nguội, mẹ tôi và một bà nữa lo pha cho lũ trẻ. (Trẻ đây là trẻ của đồng bào lánh đạn lửa và nhà cháy đến tạm trú chứ không phải trẻ của hội đâu, các bạn nhớ kỹ thế nhé.) Pha xong, người thì lo múc ra từng ca nhỏ, người thì lo lấy sẵn thuốc bổ (dầu cá và calcium) trong lúc các anh Hướng Đạo bắc loa kêu họp lũ trẻ lại để sắp hàng ra sân uống sữa. Lũ trẻ lem luốc, hốc hác, lổn nhổn như đàn gà con mắc mưa.

Trông chán ngắt. Chả có gì vui. Mẹ tôi vừa làm việc vừa trông chừng tôi và như biết tôi không vui, mẹ dỗ:

- Con lên gác chơi. Các anh đang dạy học trên ấy. Các anh em Hướng Đạo cả mà, con ngại gì? Chóng ngoan, chốc nữa đến giờ phát thực phẩm hẳn xuống giúp mẹ.

Tôi nhảy tót lên gác liền. Gác gỗ, rung rinh, rung rinh y như răng em Bé lúc sắp thay.

Học trò cũng nhấp nhổm y như lũ dưới kia. Lớp học chưa tổ chức đàng hoàng nên thật buồn cười : đứa thì đọc bài, đứa thì chép bài, có đứa đang ê a vần ngược, đứa lại đọc xuôi rót vần xuôi. Nhưng các anh vẫn kiên nhẫn, ngọt ngào lại gần từng đứa, cúi xuống cầm tay đứa này để bày cho nó kẻ thẳng hàng chữ i, chọn mầu cho đứa nọ để nó tô đúng mầu xanh trên cái hình cây cổ thụ, lại giảng cho một đứa khác làm bài tính nhân. Các anh chịu khó thật. Tôi mà phụ trách chuyện này chắc tôi chuồn… gấp.

Tôi lại xuống nhà. Đồng bào đâu mà nhiều dữ! Nồi niêu, chăn màn, áo quần, bát đũa, choán cả lối đi. Kẻ nằm, người ngồi, trò chuyện, nấu nướng… từ mái hiên ra tận phòng tắm, sân sau la liệt, ngổn ngang, bừa bãi… Quang cảnh ấy, ngắm nghe một lát tôi đã hoa mắt, choáng tai. Vậy mà, ngay gian giữa, các anh Hướng Đạo ung dung làm việc như không hề cảm thấy bực bội chút nào. Kha có khác! Tôi phục quá!


Bên cạnh một núi bánh mì nghe đâu chốc nữa sẽ phát cho đồng bào – là “văn phòng” của các anh. Trên bức tường bằng giấy bìa cứng, sơn xanh, một tấm bảng cũng bằng bìa nhưng mỏng hơn được treo lên, ghi rõ số gia đình nạn nhân, số người lớn, trẻ con (trẻ con còn phải ăn sữa) hiện tạm trú tại đây. Mặc nhiên, cái hội của mẹ tôi biến thành một Trung tâm tiếp nhận đồng bào lánh nạn. Ngoài tấm bảng này ra, tôi nom thấy cái gì cũng ngộ nghĩnh, đầy cám dỗ. Chẳng hạn, trước hết là một cái đàn, một cái đàn đặc biệt tôi chưa từng thấy trong đời – thùng đàn là cái canne đựng xăng, trục đàn là thanh gỗ dài có hơn hai thước tây, vuông vức và dài, (như một cái chân bàn học của tôi ở nhà) dây đàn là hai sợi kẽm phơi áo căng dọc theo chiều dài cây gỗ. Ấy, các bạn chớ vội ngạc nhiên, khi tôi len lén chờ lúc các anh bận tíu tít đằng xa, lại gần, cho tay vào giật giật vài cái, tức thì dây đàn rung lên, phát ra hai tiếng “bưng bưng” nghe cũng khá… hay!

Thứ đến, là một hàng chữ, trịnh trọng, mầu mè trên tường (cách xa tấm bảng ghi số nạn nhân tạm trú đâu chừng sáu bảy thước chi đó) mà nguyên văn đến hôm nay tôi còn nhớ kỹ : “KHA ĐOÀN ẾCH KÊU PHỤC VỤ HẾT MÌNH”. Bên dưới hàng chữ là một cái gạch ngang bằng phấn trắng, rồi đến bảng phân công, nào là Thọ–Datton trưởng ban dạy học, Khôi–Hooppips trưởng ban trật tự, Hải–Tintin trưởng ban Hỏa đầu quân v.v… Tên nào cũng hay, cũng lạ. Cuối cùng là hàng chữ bằng phấn đỏ : “Làm tại Trung Tâm… Thư ký Djăng-fòng… ký tên và đóng dấu.” Đó, các bạn coi, nếu tôi không có đủ thông minh và tò mò tìm hiểu thì chắc không bao giờ các bạn được biết rằng ẾCH KÊU là YẾT KIÊU phải không? Dzăng-fòng là văn phòng phải không? Tôi ưa mấy anh Kha này lắm. Nhưng này, không phải dễ đâu nhé!

Đâu phải bỗng dưng mà tôi được quen với anh Thọ–Datton? Tự nhiên mà các anh cắt nghĩa rỏ ẾCH KÊU là YẾT KIÊU? Còn phải giở tài ngoại giao ra chứ! Còn phải ra sức lao động chứ. Nghĩa là thấy các anh khiêng bàn thì tôi cũng lại, cười xã giao:

- Anh để em khiêng giúp.

Thấy họ đong gạo, đong dầu thì cũng sà tới, vui vẻ:

- Anh để em đong giúp.

Cho đến nỗi các bà và mẹ tôi tấm tắc khen : “thằng bé mới siêng năng, nhẹ nhõm làm sao chứ”. Nhất là mẹ tôi, bỗng dưng mà thấy tôi hoàn toàn quá đỗi! Làm sao có thể tiếc lời khen?

Ấy, thế rồi dần dà tôi đâm cảm mến các anh bạn vong niên này, vắng đôi hôm là nhớ không chịu được. Đồng thời, tôi trở thành yêu thích công tác xã hội, tôi không cho những công việc nặng nhọc là kỳ cục, đáng xấu hổ nữa.

Tôi có cảm tưởng là không bao giờ tôi xa các anh được. Buồn chết đi!

Thế mà… sự thật khác hẳn lòng ước muốn của tôi.


3

Trông thấy cảnh quang  gánh, nồi niêu, soong chảo, áo quần, rương giỏ của đồng bào bày la liệt giữa sân, tôi quay hỏi mẹ:

- Hôm nay lại có người mới vào nữa hay sao, mẹ?

- Không. Đồng bào sắp dọn đi…

- Đi? Đã hết đánh nhau đâu? Mà đi đâu hở mẹ?

- Qua Vĩnh Hội, nghe đâu đã có nhà chung cư do chính phủ cất xong rồi… Đáng lẽ đồng bào phải tự tìm cách di chuyển, song bà hội trưởng đã can thiệp với ông Quận Trưởng… và ông vui lòng cấp cho mấy chiếc xe để đồng bào có phương tiện…

- Còn mấy anh Hướng Đạo? (tôi vội vàng hỏi mẹ).

Nỗi buồn dậy lên trong lòng tôi, không phải vì đồng bào mà vì tôi nghĩ rằng đồng bào phân tán đi nơi khác thì các anh cũng đi theo. Vĩnh Hội? Xa lắc xa lơ làm sao tôi sang bên đó để gặp các anh?

Tôi vội vàng tìm gặp các anh. Các anh đang khuân vác giúp đồng bào giường chiếu, nồi niêu ra sân.

Tôi tha thẩn vào văn phòng. Tấm bảng ghi số dân tị nạn còn đó, nhưng còn những giòng chữ ngộ nghĩnh bay bướm kia thì đã xóa mất rồi. Chỗ đựng chiếc đàn trống trơn. Trên khắp hai khung tường chỉ còn hàng chữ “Kha Đoàn Yết Kiêu” đứng co ro, buồn bã y như lòng tôi lúc bấy giờ. Mấy chữ ẾCH KÊU, Djăng fòng biến mất. Chỉ núi bánh mì là còn nguyên. Trong một khắc, tôi có cái cảm tưởng buồn cười này, là : núi bánh mì lúc nào cũng nằm nguyên không sây sứt, còn ngoài ra tất cả, tất cả đều xê dịch.

Trong lúc chờ xe đến, ông khóm trưởng của đoàn dân tị nạn tụ họp tất cả đồng bào lại, rồi ông thay mặt họ ngỏ lời cảm ơn của mọi người đối với Hội và các bà. Có tiếng sịt mũi trong đám đồng bào phía dưới. Cho đến khi bà Hội trưởng tiến ra có lời từ biệt và cầu chúc đồng bào được vừa ý về chỗ trú mới thì tiếng khóc bên dưới bật to lên. Nhiều người khác đỏ hoe mắt. Hình như ai cũng có vẻ luyến tiếc, không muốn ra đi. Tôi quay nhìn mẹ thì thấy vừa vặn mẹ tôi chớp nhanh mắt một cái và cúi xuống, hai giòng nước mắt giàn giụa trào ra, lăn dài xuống má. Mẹ tôi khóc, thầm lặng và lén lút như không muốn cho ai thấy. Rồi mẹ tôi nhìn sang phía khác, cười gượng, nói với một bà ngồi gần:

- Mình sao có cái bậy, mau nước mắt quá đi thôi!

Một người (trong số dân tị nạn) đến gần mẹ tôi rầu rầu cất giọng:

- Qua bên ấy chả biết ra sao. Ngộ có đánh nhau nữa thì đành chịu chết, đâu có cho chạy qua cầu? Chắc chúng tôi sẽ nhảy đại xuống sông… Sao chúng tôi khổ thế?

Một bà cố lấy giọng tin tưởng, an ủi:

- Không, thế nào cấp trên người ta cũng đề phòng, hết sức giúp đồng bào. Đồng bào hãy yên tâm. Rồi có dịp chúng tôi sẽ sang thăm.

Không khí chĩu nặng những lo âu, hồi hộp. Thình lình có tiếng lao xao ngoài sân và mọi người chạy ùa ra, kêu lên mừng rỡ:

- Xe tới, xe tới!

Mẹ tôi vội vàng đứng lên, tôi nối chân mẹ tôi ra sân. Hai chiếc xe nhà binh không mui, không cả thùng quanh xe, trông như cái thớt đặt nối sau đầu máy, đổ xịch giữa sân. Mọi người ơi ới gọi nhau và tranh nhau nhảy bừa lên. Ai cũng nôn nả mong được đến chỗ trú sớm cho đỡ nắng. Lũ trẻ ngủ gà ngủ gật trên tay mẹ, trán, đầu, mặt nhơm nhớp mồ hôi. Có đứa khóc thét lên, nhưng mẹ chúng không để ý. Bà nào cũng bận tâm về chuyện tìm một chỗ ngồi và còn phải chuyển đồ đạc. Mẹ tôi cùng với các anh Hướng Đạo khuân giúp đồ đạc lên xe. Ông trưởng toán không ngớt kêu gọi trật tự, nhưng trật tự thật khó vãn hồi. Nhiều người phàn nàn không nấu cơm kịp. Lũ trẻ lơn lớn gào ăn ỏm tỏi. Mẹ chỉ vào núi bánh mì trong gian giữa, trấn an:

- Đồng bào yên tâm. Chốc nữa sẽ có xe và các em Hướng đạo mang bánh sang tận nơi phát cho đồng bào dùng tạm buổi trưa. Vì qua đến nơi còn phải bốc thăm xem ai được ở gian nào cho công bình, rồi còn sắp xếp đồ đạc nữa. Làm sao nấu ăn kịp.

Đồng bào nghe câu đó, hơi có vẻ yên tâm một chút. Cỡ nửa giờ sau hai chiếc xe bắt đầu rồ máy. Còn lại hơn một nửa đồng bào chờ chuyến sau. Mồ hôi nhễ nhại trên những khuôn mặt rám nắng và rầu rĩ.

Tôi cảm thấy xót xa thương mến khi nhìn họ. Rồi tôi nhớ đến buổi chiều đầu tiên gia đình tôi đến đây.

Tôi nhớ đến lúc mấy anh chị em tôi hớt hải lên xe chạy trong lúc mẹ kẹt lại trong nhà. Tôi nhớ đến cái đêm chúng tôi ngủ không có mẹ ở gần. Tôi nhớ đến tiếng khóc của Cu Minh, tôi nhớ… tôi nhớ…

Thốt nhiên, tim tôi thắt lại, nhói lên.

Tôi dõi mắt theo hai chiếc xe vừa nhoài ra cổng lớn. Qua màn nước mắt, tôi còn kịp thấy khuôn mặt đen sạm và hai hàm răng trắng bóng của anh Thọ–Datton. Khi nhận ra tôi, anh ngoái lại, vẫy tay rối rít. Tôi giật tay mẹ, chạy theo, nhưng quá muộn. Chiếc xe đã mất hút trong một nháy.

Giọng mẹ tôi ướt đẫm bên tai:

- Con đừng buồn, rồi hôm nào rảnh mẹ sẽ cho con sang bên ấy.

Mấy cô giúp việc, (kể cả những cô khó tính, nhăn nhó suốt ngày từ khi có đông đồng bào đến trú) đều có vẻ bùi ngùi, uể oải. Một cô nói:

- Tội nghiệp họ. Họ ở thì ồn ào khó chịu thật, nhưng họ đi… trông làm sao ấy, phải không?

Còn tôi, tôi lẩn thẩn so sánh tình cảnh đồng bào y như những cái cây : Đang tươi tốt ở trên mảnh đất quen thuộc, bỗng bị bàn tay hung ác (là chiến tranh) nhổ bật gốc lên rồi đem trồng một cách cẩu thả, qua quít ở nơi khác (là chỗ hội mẹ tôi). Cây không mấy ưa đất mới song rồi cũng cố bám lấy sự sống, dù là không được chăm bón kỹ càng. Ấy thế mà, khi vừa bén rễ lại bị nhổ lên, đem đi lần nữa. So sánh đó làm tim tôi lại thổn thức bồi hồi…


MINH QUÂN      


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 224, ra ngày 1-7-1974)
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>