Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Hoa Cẩm Chướng

 
Vào mùa đông, khi sương mù gió bấc bao trùm vạn vật, cây cối tại đồng quê và trong các vườn cảnh hầu như bị tê liệt dưới độ lạnh như cắt da, người ta không tài nào tìm được trong thiên nhiên những màu sắc tươi vui hấp dẫn như những màu sắc có trong mùa xuân và mùa hạ. Chính vì thế mà người ta rất lấy làm thú vị khi đứng trước tủ kính của nhà trồng hoa.
 
Nơi này thời tiết xấu không thể nào xâm nhập được. Ở đây luôn luôn có đủ mọi loại hoa màu sắc rực rỡ, y như những loại hoa trồng bên các xứ nhiệt đới để sẵn sàng cung cấp cho các xứ thuộc miền hàn đới. Không khí mùa xuân không bao giờ biến mất trong căn nhà của những người chuyên nghề trồng bông.
 
Đủ mọi thứ từ hoa hồng, hoa lan tới hoa tử đinh hương luôn luôn thay nhau khoe sắc thắm từ đầu năm đến cuối năm, nhất là hoa cẩm chướng, một loại hoa có màu sắc và mùi vị rất đậm đà.
 
Hoa cẩm chướng mà chúng ta được ngắm tại cửa tiệm người bán hoa thường không có trong thiên nhiên, vì đây là loại hoa đã được chọn lựa kỹ lưỡng và đòi hỏi một sự trồng trọt và săn sóc đặc biệt.
 
Người ta thường khởi đầu trồng giống Dianthus Caryophylus, loại cẩm chướng ít cánh và màu sắc ít thay đổi. Hoa cẩm chướng thứ hai cũng như thứ được người ta chăm sóc đều thuộc loại thân thảo, nằm trong gia tộc Caryophillacées. 
 
Loại dưới có 60 chi tộc và loại trên có tới 230 chi tộc. Tất cả đều hiện diện rất nhiều tại các xứ Địa Trung Hải, rồi lan tràn vào các xứ Trung Âu, qua Si-bê-ri, Trung Hoa và Nhật Bản ; trong khi các chi tộc khác lại được phổ biến mạnh tại Phi Châu, xuống tới mũi Hảo Vọng.
 
Trừ hai loại Dianthus Alpinus và Dianthus Glacialis ra, tất cả các giống hoa cẩm chướng khác đều rất tươi tốt và thích hợp với những miền khô ráo, y như giống Dianthus Caryophillus, nguyên là nguồn gốc phát xuất ra chúng.
 
Loại Dianthus Caryophillus mỗi cây có từng hai lá cứng đối chiếu nhau, màu xanh lá mạ phơn phớt xanh dương, do một cái bẹ dai và to cuốn lại.
 
Hoa nằm trên một cái đài có chứa noãn sào, ở phía dưới thường mọc ra hai hay ba đôi bẹ. Mỗi hoa có những cánh cứng, cạnh lờm xờm như viền tua xoắn vào nhau trên một cái cuống nhỏ hình ống ; có độ mươi cái nhị lấm chấm phấn uốn cong giữa đỉnh hoa. Lượt phấn này được trông thấy rõ hơn trong các loại cẩm chướng dại.
 
Đối với tất cả các giống thuộc họ Caryophillacées, mỗi cuống thường mang từ hai tới bốn bông hoa. Nhưng trong các giống cẩm chướng được trông nom kỹ lưỡng, người ta tỉa hết, chỉ để lại mỗi cuống có một hoa. Làm như vậy, hoa có đủ điều kiện phát triển độ lớn cũng như vẻ lộng lẫy của nó.
 
Người ta có thể làm cho giống hoa cẩm chướng sinh sôi nẩy nở bằng nhiều cách : hoặc tự nó đâm chồi nẩy nhánh, hoặc bằng phương pháp chiết cành hay gieo hạt. Giống hoa cẩm chướng rất ưa đất cát, chỗ khuất gió và không có băng giá.
 
Trong số những giống cẩm chướng có nhiều hình dáng lạ thường dùng để tô điểm thêm vẻ diễm lệ cho các vườn hoa, người ta phải kể tới giống Dianthus Carthusianorum có vẻ đẹp yêu kiều như giống lúa, Dianthus Superbus và Dianthus Plumarius, nổi tiếng với những cánh hoa dại như lông chim.
 
Liné đã cho Dianthus Barbatus là thứ hoa rất hoàn hảo. Còn loại Dianthus Superbus thường được người ta tặng cho một biệt hiệu là hoa Trời.
 
 
VĂN TRUNG             
(Tài liệu trong Tout Connaitre)   
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Giáp Dần, 1974)
 

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Bé Hái Cánh Hoa Xuân


 
 
 
  
 
 
 
 
Vào rừng mùa xuân
Hoa nở tưng bừng 
Tím hồng cam đỏ
Chim hót vang lừng

Con suối mùa xuân
Nước xanh trong vắt
Lòng nghe lâng lâng 
Bé đưa tay ngắt

Hoa mai vàng tươi 
Đào hé môi cười 
Tầm xuân xanh biếc
Bằng lăng tím trời

Thung lũng xuân về
Hoa nở tràn trề
Cúc màu trinh trắng
Vàng rực dã quỳ

Bé nhanh tay hái
Những đóa hoa thơm
Nở trên đồng cỏ
Thoang thoảng mùi hương 

Hoa nở trên đồi
Kìa nắng lên rồi
Xuân về tết đến
Hoa thắm hương đời...

                             Thơ Thơ 
                  (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Quê Nhà Trong Ký Ức


Đứa bé đứng buồn rầu nhìn ánh lửa bập bùng của nồi bánh nhỏ ở góc sân. Tay nó cầm cây pháo bông chờ đợi giao thừa. Nó đứng lẻ loi một mình. Ánh sáng mờ mờ của ngọn lửa vây hãm nó trong hơi nóng ấm áp. Mùi trầm hương trong nhà thoáng dịu nhẹ. Đêm đen và im lặng bao phủ lấy con xóm. Đêm ba mươi sâu thẳm. Đâu đó xa xôi có vài tiếng pháo rời rạc rồi chìm trong hoang liêu. Đứa bé đứng yên lặng nghĩ ngợi lơ mơ, chung quanh nó không có ai. Nó cảm thấy trơ trọi và buồn ghê gớm. Nỗi buồn tự nhiên kéo đến tâm hồn nó một cách bất ngờ. Nỗi buồn tưởng chừng có thể làm cho tâm hồn nó tan nát đi được. Nỗi buồn đã tiếp tục bám chặt lấy nó vào những đêm cuối năm, khó lòng quên lãng.
 
Mùa xuân đến, nhưng những mùa xuân hôm nay không còn gây ở nó một cảm giác hào hứng thích thú nào. Nó không thể bay nhảy, lòng rộn ràng như bao mùa xuân trước, trên làng quê nó. Dưới mắt nó, mọi sự đã đổi khác, mùa xuân về nhưng không phải trên làng quê nó. Mùa xuân đã về nhưng nó thấy hiu quạnh quá. Bây giờ nó nhớ những mùa xuân trên làng quê nó. Cũng mùa xuân, sao dạo đó nó thấy ấm cúng và sung sướng quá. Nhất là những ngày cận tết, tâm hồn nó lâng lâng cơ hồ như những ngọn gió. Những ngày người lớn trong nhà có khối việc phải làm không kịp tay, nào là chùi đồ đồng, nào là sửa soạn lại nhà cửa, nào là làm mứt bánh... Còn nó, trong lòng nó cứ nao nao hồi hộp một cách lạ lùng, nó cứ chạy ra chạy vô, hết xem người này làm việc đến xem người khác, không giúp được ai. Chiều bà mươi, ba má cô dì quây quần trên manh chiếu dưới hiên nhà, gói những đòn bánh chưng, bánh tét. Những bàn tay thoăn thoắt xen lẫn với xấp lá chuối xanh, thịt mỡ, nếp trắng thật gợi cảm. Nó thường mon men lại gần, để xin ba má nó gói riêng một đòn bánh tét nhỏ là đủ sung sướng cả mùa xuân. Đối với nó mỗi lần xuân về, cái gì cũng quan trọng hẳn lên. Cái bàn thờ, hàng câu đối, cái bình cắm bông, cái chậu mai như khoác một vẻ mặt mới, linh động một cách khác thường. Tất cả đều khác. Kể cả cái phần hồn non nớt của nó lúc bấy giờ cũng thấy xao xuyến lạ lùng, mà nó chịu thua không tài nào phân tích được. Rồi đêm ba mươi nấu bánh ở một góc sân. Bây giờ nó nhớ rất rõ cái sân nhà nó. Cái sân có mấy cây ổi, cây lựu và giàn bầu nậm. Có những đêm trăng sáng, in hình lá lựu đẹp mơ màng như một bức tranh Tàu. Có đêm ông nội nó, thầy giáo làng nó ngồi uống trà đàm luận, dưới giàn bầu nậm lá xanh dày mịt. Và cái đêm nấu bánh ấy nó không tài nào ngủ được, nó giành phần canh lửa. Không có gì sung sướng bằng ngồi canh lửa của lò bánh trong đêm ba mươi gió rét căm. Hơi nóng tỏa ra nồng nàn bủa vây lấy nó. Lửa vẫn cháy đều nhưng nó cứ nhìn chăm chú, củi cháy nổ lách tách dòn tan hòa với nỗi vui trong hồn nó, mặc dù có vài làn khói xông vào làm nó chảy nước mắt.
 
Rồi sáng mùng một, buổi sáng tinh sương gió núi quạt thổi về lạnh như cắt, nhưng nó cũng chui ra khỏi giường để nhìn quang cảnh chung quanh. Hơi sương trên cánh đồng buổi sớm còn mờ mờ, xa xa khói bếp màu lam ngun ngút luồn qua mái tranh tỏa lên như sợi tơ, rồi mất hút trong mù khơi. Tiếng trẻ con xôn xao ngoài đầu ngõ. Lòng nó phơi phới nỗi vui như chan chứa. Tưởng chừng không bao giờ hết được. Mẹ nó đã đi chùa từ sớm. Ba nó khai xuân bằng một phong pháo đỏ treo trên cành mai vàng thật tuyệt mắt. Nó được cái hân hạnh châm ngòi. Và mùa xuân của nó vang động tiếng pháo.
 
Đó cũng là mùa xuân cuối cùng trên quê nhà nó được hưởng. Xuân qua rồi hè đến. Mùa hé hứa hẹn nó bao nhiêu cuộc vui trong những ngày dài rất thong thả. Nhưng nó không được hưởng vì chiến tranh đã lan tới làng quê nó. Xóm làng nó bốc lửa điêu tàn... Trận chiến càng lúc càng khốc liệt, rượt đuổi người dân quê và gia đình nó dời bỏ quê nhà, không một lần nào trở lại. Bây giờ gia đình nó tạm cư ở đây, chờ đợi một thời gian thuận tiện sẽ hồi cư về quê cũ.
 
Cũng mùa xuân sao bây giờ nó thấy buồn quá. Ba nó đi hành quân, chỉ còn nó với mẹ nó ở nhà, ăn tết tha hương. Nó cảm thấy hoang vắng bốc lên ngùn ngụt chung quanh nó. Nó nghe hai mắt cay cay, nó muốn khóc. Vì không còn cầm giữ được cơn xúc động lớn lao quá sức chịu đựng của nó. Mới ngày nào đây, tiếng cười nói rộn ràng của họ hàng nó, bạn bè nó, bà con lối xóm nó, bây giờ đã xa tít mù. Ăn tết xa quê nhà, nó cảm thấy điều ấy thật buồn. Nỗi buồn dấy lên từ bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu tình cảm se thắt, quá đủ để làm tan nát một trái tim bé nhỏ.
 
Đứa bé vẫn đứng yên lặng nhìn ánh lửa bập bùng. Hàng trăm hình ảnh của những ngày xưa êm đềm bừng bừng sống dậy trong lòng nó. Những mùa xuân mùa hạ trên làng quê nó như cơn gió vụt qua tâm tưởng nó. Nguyên vẹn những hình ảnh tràn ngập thương yêu của đồng cỏ xanh quê nội nó. Những buổi chiều nô đùa trên sông bên cạnh làng. Những con diều giấy bay cao tít trời. Những con dế chọi trong đám rạ khô. Ôi! Ngày đó cho đến bao giờ sẽ tìm gặp lại. Chuyến đi vào cuối mùa xuân cướp mất những gì thân yêu và gần gũi nhất của nó. Còn đâu những lần nô đùa trên con sông trong những buổi trưa hè rộng bát ngát. Còn đâu những mùa nước lụt đi lội nước vớt cá đồng. Sao bây giờ nó thấy cuộc sống ngày đó tha thiết đến thế. Cho đến bây giờ, mặc dù đã hai năm qua, nhiều cái vui lạ trên quận châu thành mà gia đình nó tạm cư, nó vẫn giữ mãi cái ý nghĩ phải trở lại quê nhà, nó mới cảm thấy thích thú. Nó thấy lờ mờ rằng, hình như nó có một sợi dây vô hình nào ràng buộc nó với quê hương nó.
 
Bây giờ mới thấy lời ông nội nó nói đúng, không nơi nào đẹp bằng quê hương cũ. Làng quê nó gần sát những ngọn núi lớn, những ngọn núi có nhiều người Thượng cất nhà trên vách đá cheo leo. Có những buổi trưa hè vắng vẻ tĩnh mịch, nó nghe đột khởi từ một triền núi tịch liêu nào bên kia cánh đồng có tiếng còi rúc lên xa vắng, vang lừng cả bầu trời thôn dã. Từ đó nó mang tiếng còi trong đầu. Ôi, cái tiếng còi nó buồn làm sao. Nó diễn tả được cái vắng vẻ hiu quạnh của những làng mạc xa xôi như làng quê nó.
 
Ở xứ thần tiên của nó còn có ngôi trường làng. Ngôi trường có mấy cây phượng. Vào mùa bãi trường hoa phượng nở đỏ rưng rưng. Bây giờ nó mới thấy ngôi trường cũ kỹ thật đẹp. Nó nhớ bạn bè thân yêu của nó, thầy giáo già của nó. Và tất cả những hình ảnh thương yêu trìu mến của ngôi làng vụt hiện lên trong trí nhớ nó, rõ rệt như lúc còn ở quê nhà. Nghĩa là khi ngôi làng chỉ còn là những hình ảnh trong ký ức thì nó hiện ra với tất cả cái vẻ đáng yêu của nó. Đứa bé vẫn hy vọng rằng có một thời gian nào đó, để cho nó trở lại chạy nhảy trong thiên nhiên, đắm mình giữa dòng nước trong xanh nhìn lại ngôi trường làng cũ kỹ và gặp lại bạn bè nó.
 
Mùa xuân là chuyến đi rời xa quê hương đột khởi mãi trong tâm trí nó vào những ngày tháng làm quen với thành phố xa lạ. Nó cứ hỏi mẹ nó rằng khi nào thì hết đánh nhau. Mẹ nó bảo chờ ba về mà hỏi. Ba nó về phép trả lời câu hỏi ngây thơ của nó một cách mơ hồ: lâu lắm! Câu trả lời không thỏa mãn nó chút nào. Lâu lắm là bao nhiêu? Liệu nó có được về làng quê nó khi còn nhỏ như bây giờ hay không? Nó cứ nuôi ước mơ rằng có một thời gian thanh bình nào đó, để nó trở lại ăn một cái tết quê nhà. Nhưng nó thất vọng khi thấy ngày tháng trôi qua lạnh lùng như thể mặt trời mọc ở phương đông, mà cuộc chiến chưa chấm dứt. Hình như thời gian của cuộc chiến móc nối nhau, kéo dài mãi. Nhưng không có một thời gian nào để nó thực hiện ước mơ được trở về ăn một cái tết quê nhà.
 
Đêm vẫn yên lặng, mịt mùng, khuya khoắt. Đâu đó chốc chốc vài tiếng pháo rời rạc lẻ loi tan vào cô tịch. Trên nền trời, mấy trái hỏa châu đang nở hoa lửa vàng vọt chiếu sáng thành phố đêm ba mươi. Ánh sáng chiếu trên nền đất in hình cây lá xiêu đổ nhập nhòa, chạy dài rồi biến mất. Từ ở tít đàng xa vọng lại mơ hồ, có tiếng chuông chùa, buông thong thả, ngân dài trong không gian tĩnh mịch. Tiếng chuông báo hiệu giây phút thiêng liêng đã đến. Mẹ đứa bé đã ra tự hồi nào và đang đút thêm củi vào lò lửa sắp rụi tàn, rồi nhẹ nhàng đến bên nó:
 
- Giao thừa rồi đấy con.
 
Đứa bé ngước nhìn mẹ bằng đôi mắt long lanh. Nó lại lò lửa thắp sáng cây pháo bông. Ánh sáng vàng chói của những tia lửa bắn ra từ cây pháo bông, chiếu sáng khuôn mặt đứa bé và mẹ nó. Hai người im lặng chăm chú nhìn ánh lửa tung tóe. Chùm tia sáng của cây pháo bông nói thầm với đứa bé và mẹ nó về ý nghĩa của mùa xuân. Giao thừa đã đến, thời gian lại bước sang một năm mới, đẩy những đêm xưa lùi mãi trong một chút nhớ của quê nhà.
 
Cây pháo bông ngắn dần rồi bùng sáng mạnh một lần cuối rồi tắt lịm. Giao thừa chỉ có thế. Mẹ đứa bé dịu dàng bảo:
 
- Thôi vào nhà lạy Phật rồi đi ngủ đi, con.
 
Đứa bé nhìn vào trong nhà. Bàn thơ gia tiên sáng trưng lên dưới một hàng nến đỏ, nghiêm chỉnh như toán quân đi chào cờ. Mắt nó nhòe đi trong ánh nến lung linh. Nó thấy cả một mùa xuân trên quê hương nó. Giao thừa vừa qua, lại thêm một mùa xuân xa quê. Lòng nó nôn nao với bao ý nghĩ: "Cho đến bao giờ mình mới được trở lại ăn một cái tết quê nhà?".
 
 
ĐOÀN THỤY       
(Nha Trang)        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Ất Mão, 1975) 
 

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Tháng Giêng, Hay Chính Là Xuân?


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng giêng, xuân về ngang cửa 
Khung trời mây trắng bình yên 
Sắc thắm mai vàng rực rỡ
Nhỏ yêu xuân đến thần tiên 

Tháng giêng, xuân qua đầu ngõ
Cành tre vắt vẻo đong đưa
Buổi chiều, vầng trăng chưa tỏ
Cánh diều phất phới lơ thơ

Tháng giêng, Nhỏ yêu màu nắng 
Gió xuân khe khẽ thì thầm
Xuân về làn mây lờ lững 
Nghe lòng sao chợt bâng khuâng

Tháng giêng, dòng sông xanh biếc 
Thuyền trôi theo sóng về đâu 
Mắt buồn như chừng nuối tiếc 
Mùa xuân, hãy ở dài lâu

Thốt bên tai lời thỏ thẻ
Xuân ơi Nhỏ mến xuân hoài
Chần chừ lòng thêm náo nức 
Hoa lòng chẳng chút phôi phai

Tháng giêng, hay chính là xuân?
Về qua lối vắng ngập ngừng 
Bước chân xuân từ vạn thuở
Về đây nhân thế tưng bừng...

                       Trần Thị Phương Lan 
                             (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Ngày Xuân Nói Chuyện Hoa Cúc


Vào dịp tết, loại hoa được nhiều người hâm mộ trưng bày để đón xuân nhiều nhất sau hoa mai, phải nói là hoa Cúc.
 
Cúc là một loại hoa được tượng trưng cho mầu sắc của mùa Thu có lẽ vì mầu sắc riêng biệt của nó là mầu vàng. Hoa Cúc có tên khoa học là Chrusos theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là "toàn vàng". Bởi vì hoa Cúc luôn có một mầu vàng từ cánh tới nhụy, một mầu vàng đều đặn không đậm lợt như các hoa khác. Ngoài đặc điểm trên, Cúc còn là một loài hoa ghép, không phải hoa đơn theo đúng nghĩa của nó. Một bông Cúc như chúng ta thường thấy không phải chỉ có một nụ nở ra mà là của hàng bao nhiêu nụ li ti chen chúc nhau tạo nên. Thí dụ: như bông Cúc dại mọc đầy dẫy ngoài đồng nội hay trong các bãi cỏ hoang, nếu chúng ta lấy kính phóng đại (loup) soi vào tâm của hoa này ta sẽ thấy biết bao nhiêu nụ con hợp lại.
 
Cúc có rất nhiều loại:
 
Cúc cánh cong mầu vàng lợt được người Á Đông ưa chuộng nhất, cành mềm phải nương vào cây chống mới đứng được. Thường được trồng trong các chậu để làm cảnh và bán trong các dịp tết, như Tết nguyên đán chẳng hạn. Loại Cúc này mọc rất dễ ở các vùng khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam. Vì có một hương thơm bát ngát, dịu ngọt nên ngoài việc dùng để trang hoàng nó còn được dùng để ướp trà uống rất ngon, hay dùng để nấu rượu gọi là Rượu Cúc.
 

Hoa Cúc Ma-gơ-rít hay Cúc dại cũng thế, mọc tự nhiên không cần phải trồng. Nó có rất nhiều loại căn cứ trên mầu sắc mà ta phân loại. Loại cúc này thấp, chừng 20 phân là nhiều, hoa nhỏ như cái nút áo, hương thơm hăng hắc và không bền, cánh hoa sơ sài chỉ có vài hàng mọc so le giống như hoa Hướng Dương vậy.
 
Hoa Cúc Đơn, gọi như vậy vì mỗi cây chỉ có một hoa duy nhất mà thôi. Loại này khó trồng và hiếm thấy tại Việt Nam chúng ta.
 
Trái lại với loài hoa đơn, hoa kép chỉ một cây mà nở rất nhiều hoa um tùm tận trên ngọn trông như một cái nấm khổng lồ rất đẹp.
 
Thân cây Cúc thuộc loại thân thảo, ruột rỗng và xốp nên không được bền chắc.
 
Lá Cúc mầu xanh, dầy, dòn, phẳng lì. Mặt trên xanh lục, mặt dưới hơi có mầu trắng lợt. Lá Cúc có nhiều đường xẻ không cân đối, mọc cách trên thân cây và cành.
 
Thường Cúc không cao quá một thước, trừ có Cúc leo cao tới hơn 2 thước.
 
Trồng Cúc không khó. Người ta lấy hoa Cúc đã tàn đem phơi và giữ cho cẩn thận. Khi muốn trồng, vò hoa Cúc khô ra lấy hột đem gieo để lấy Cúc giống. Khi cây Cúc giống lên cao chừng 1 gang tay mới đánh ra trồng vào chậu hay nơi nào muốn trồng. Trồng Cúc chừng 3 tới 4 tháng là có bông. Muốn cho cây vươn lên thật tốt, hoa nở đều, mầu sắc tươi thắm, phải vun thật nhiều phân, nếu không Cúc sẽ bị hư chột. Theo một số nhà trồng tỉa thì trồng Cúc tốn rất nhiều phân hơn các loài hoa khác, vì hoa Cúc nở được là nhờ các nụ nhỏ li ti mà nụ này lại cần một số nhựa luyện tối đa nên lá và thân phải cung ứng thật dồi dào mới có kết quả.
 
Người Á Đông đã biết thưởng thức hoa Cúc từ thời xa xưa và đã mang cho nó một ý nghĩa rất trọng đại: Niềm vui và sức sống. Trái lại tại Âu Châu mãi tới thế kỷ thứ 16, khi họ tiếp xúc với Trung Hoa và Ấn Độ.
 
Mặc dầu Cúc là đặc trưng cho mùa Thu nhưng Cúc cũng nở hoa vào các mùa Xuân, Hạ... và có khi nở suốt năm và là một loài hoa được nhiều người ưa chuộng cũng như tính cách đa dụng của nó.
 
 
HUY YÊN        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Quý Sửu, 1973)
 
 

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Ngày Giờ Trên Địa Cầu

Địa cầu lúc nào cũng trình diện nửa phần về phía mặt trời, cho nên cùng một lúc, trên địa cầu có nơi thì ngày, có nơi thì đêm, có nơi thì bình minh và cũng có nơi thì đang... chiều tím.
 
Vấn đề rắc rối xảy ra là phải có một quy luật nào đó để giờ giấc một nơi vừa thích hợp với sự liên lạc của nhiều quốc gia trên thế giới. Quy luật nầy lại phải làm sao giải quyết được việc là trong một quốc gia rộng không phải cứ di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác là phải đổi giờ trên đồng hồ, mà việc đổi giờ nầy chỉ xảy ra trong các quốc gia quá rộng thôi.
 
Vì thế người ta đã đồng ý với nhau chia mặt địa cầu ra làm 24 giờ với đường đổi ngày nằm ở cuối múi giờ thứ 24.
 

Tất cả các quốc gia, các địa phương cùng nằm trong một múi giờ sẽ có cùng một giờ giống nhau, và giờ nầy chính là giờ xét theo mặt trời của đúng nơi ở giữa múi.
 
Cho nên giờ thật của các địa phương ở hai bên mép múi giờ hơi khác với giờ mà đồng hồ chỉ (Thí dụ như Saigon ở giữa múi giờ thứ 19, còn Thái Lan ở bên mép múi giờ 19. Cho nên lúc Saigon 19 giờ thì ở Thái Lan đáng lẽ chỉ mới 18 giờ rưỡi thế mà đồng hồ vẫn phải chỉ 19 giờ).
 
Nếu ta chia góc 360° (góc của nguyên 1 vòng tròn lớn của trái đất) cho 24 múi giờ thì mỗi múi giờ sẽ ứng với  góc 15°, như vậy có nghĩa là ở hai nơi nằm cách nhau một kinh độ là 15° (cách nhau 15 kinh tuyến) thì đồng hồ ở hai nơi  đó sẽ khác nhau 1 giờ.
 
Theo đó khi chúng ta khởi hành từ một nơi nào trên địa cầu, nếu đi về phía đông ta phải vặn đồng hồ thêm lên một giờ mỗi khi vượt qua 15 kinh tuyến (nghĩa là vượt sang múi giờ khác), nếu đi về phía tây ta phải vặn ngược đồng hồ bớt đi một giờ mỗi khi vượt qua 15 kinh tuyến.
 
Ngoài ra ta cần chú ý thêm một điều khác là có những múi giờ mà đường giới hạn bị cong queo chứ không thẳng như bình thường, đó là vì các đường giới hạn nầy phải uốn cong theo ranh giới của các quốc gia nó đi qua. Mục đích của sự uốn cong nầy là để cho người sống trong một quốc gia có giờ giấc giống nhau, kể cả những địa phương đáng lẽ, nếu không có sự uốn cong của đường giới hạn múi giờ sẽ nằm trong múi giờ bên cạnh.
 
Như trên đã nói, đường đổi ngày nằm cuối mùi giờ thứ 24, đường nầy được chọn lựa cho không đi qua một quốc gia nào trên địa cầu vì thế nó đi qua eo biển Béring giữa Á Châu và Mỹ Châu và xuyên qua Thái Bình Dương.
 
Mỗi khi vượt qua đường nầy, ta phải thay đổi ngày, và các việc thay đổi còn tùy thuộc vào lúc vượt qua đường đổi ngày là sáng, trưa, chiều hay tối.
 
Trong các hình vẽ sau đây đường đậm nét là đường đổi ngày vì lẽ địa cầu được nhìn thẳng xuống Bắc cực nên đường đổi ngày chỉ là một bán kính. Phần địa cầu để sáng là đang ngày, và phần địa cầu gạch chéo là đang đêm.
 

Số được ghi ứng với mỗi múi giờ là giờ, và chữ bên cạnh là D nếu chúa nhật, L nếu thứ hai, M nếu thứ ba.
 
 
TRẦN NGỌC KÍNH      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 29, ra ngày 12-3-1972)
 

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Đôi Thỏ Của Thằng Hải

Trống đánh tan học...
 
Hải bước ra về, lòng không đặng vui như mọi hôm. Nó bước chầm chậm có vẻ suy nghĩ. Hải đang nghĩ đến cái lồng thỏ. Nó vừa được các ông cán sự chỉ dạy cách đóng lồng thỏ để đem thỏ về nuôi. Làm sao có tiền để đóng một cái lồng thỏ kiểu mẫu? Nó xin ba má nó, có lẽ ông bà rán chút ít cho nó nhưng nó không muốn thế. Nó nghe má nó bảo lúc nầy buôn bán không chạy. Ba nó cũng nói lúc nầy đạp xe ít khách quá. Nó biết gia đình hiện nay đang túng lắm. Nó không muốn làm rộn ba má nó nữa.
 
Nhưng không hỏi xin ba má nó thì làm sao có tiền mua cây ván để đóng cái lồng thỏ? Hải buồn quá. Bỗng nó sực nhớ con heo đất để dành tiền của nó. Hôm Tết, mấy người bà con lì xì cho nó được mấy chục đồng và tiền nó tiết kiệm mấy tháng nay nó đều bỏ trong đó hết. Hải mừng quá. Nó bước đi nhanh hơn.
 
Đến nhà, cất cặp xong, Hải đi lấy con heo ra liền. Nó đập con heo đất ra. Nó đếm luôn cả bạc cắc chỉ được năm mươi đồng. Với năm mươi đồng đóng cái lồng đúng kích thước như mẫu sẽ thiếu. Nhưng không hề gì, nó sẽ kiếm cây tre đóng phụ thêm. 
 
Ăn cơm xong nó đi mua cây liền. Rồi cứ mỗi ngày, sau những buổi học, nó dành ra chút ít thì giờ để đóng cái lồng. Nó không dám mượn ba nó, nó biết ba nó đạp xe mệt lắm, cần để cho ông nghỉ.
 
Hải đi ra ngoài vườn đóng lén ba má nó. Nó tự cưa, tự đục, làm một mình. Chẳng bao lâu cái lồng thỏ được hoàn tất.
 
Vài hôm sau người ta phát cho nó một đôi thỏ con.
 
Đôi thỏ đẹp làm sao! Lông chúng mịn màng và trắng phau, hai tai nó dài và vểnh lên, hai con mắt đỏ lòm. Hải rất sung sướng có một đôi thỏ như thế.
 
Mỗi ngày, Hải chia tiền ăn của nó cho đôi thỏ năm cắc, nó chỉ còn năm cắc thôi. Sáng nó thức dậy thật sớm, chạy ra chợ mua năm cắc rau muống, hoặc năm cắc cải cho thỏ, rồi nó mới đi học. Đi học về, nó chạy ra đồng hái rau muống, hoặc đi xin đọt lang hay lá tre về cho thỏ ăn thêm.
 
Hải thích nuôi thỏ không phải với mục đích để vui chơi. Nó nhắm cái lợi to hơn, là thỏ có thể mang lại cho gia đình nó nhiều lợi. Nó đã từng thấy ông Tư trong làng nhờ nuôi thỏ mà có tiền bạc. Nó hy vọng lắm.
 
Từ đấy Hải phải khổ cực hơn. Có bữa nó phải hy sinh hết một đồng ăn hàng của nó cho hai con thỏ. Và nó phải vất vả đi tìm thức ăn để cung cấp cho hai miệng ăn. Hai tháng trôi qua, hai con thỏ đã đẻ được bốn con thỏ con. Từ đó, Hải phải cung cấp thức ăn tới sáu miệng ăn.
 
Nhưng không vì thế mà Hải đâm ra chán. Nó rất vui vẻ làm công việc nầy, vì nó biết rằng mấy con thỏ đó sẽ đỡ đần cho cha mẹ nó nhiều.
 
 
ĐINH HƯƠNG SƠN     
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 13, Xuân Giáp Thìn 1964) 
 

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Thú Vật Chống Lạnh Như Thế Nào?


Ngay từ những thời kỳ xa xưa, loài người đã dự liệu mọi phương cách để có thể chống lại kẻ thù kinh khủng muôn đời: sự lạnh lẽo. Trên mặt đất, đâu đâu cũng có cái lạnh: trên cao độ, miền băng giá ở địa cực. Đó là chưa kể cái buốt giá của mùa đông.
 
Riêng thú vật, không có được một trí thông minh tuyệt vời để làm khí cụ hữu hiệu chống lạnh như loài người. Như vậy chúng phải làm thế nào trong môi trường quá khắt khe? Đã nói "trời sinh voi thì sinh cỏ", chúng ta cứ yên tâm. Thú vật vẫn có cách. Thiên nhiên sẽ chăm sóc và tạo cho chúng những phương tiện tự nhiên và riêng biệt để bảo vệ chúng.
 
Một trong những phương cách chống lạnh căn bản là sự ngủ mê suốt mùa đông. Lúc đó thú vật sẽ qua mùa đông rét căm căm bằng cách ngủ một giấc thật dài, ngủ say sưa, ngủ li bì. Chúng giảm thiểu tối đa sự hoạt động để cơ thể đỡ mất sức nóng. Đồng thời sự hô hấp cũng yếu đi, chỉ thở nhẹ nhàng để thức ăn và những chất dự trữ trong cơ thể khỏi hao hụt.
 
Trước khi mùa lạnh tới, vào mua hè, thú vật đã săn mồi tích cực và dự trữ. Sau đó, dùng những bữa ăn thật đầy đủ và thịnh soạn nhất, để rồi ẩn mình vào một nơi kín đáo như hang đá chẳng hạn, ngủ một giấc triền miên ngon lành, quên đi bên ngoài đang tuyết phủ, giá băng.
 
Một cách khác để giải quyết vấn đề không kém phần hiệu quả. Mùa lạnh đã tới! Con người đã có đủ thứ nào khăn quàng cổ, khăn phủ đầu, áo ấm, áo măng tô, tha hồ được ấm áp và chưng diện. Thú vật làm gì có những tiện nghi nhân tạo ấy! Thôi thì đành rời chỗ lạnh lẽo này, tìm nơi ấm áp hơn dể trốn mùa đông. Chúng dắt díu nhau tới những vùng có nhiệt độ ôn hòa và phong phú hơn: đây là sự di cư tập thể và tùy mùa. Như loài thiên nga rừng, cò, hải âu, én, vịt trời... mỗi năm cứ hai lần bay đi nơi khác rồi bay về chốn cũ để tránh cái lạnh thấu xương gây nhiều bất tiện cho chúng. Đoạn đường bay có khi dài hàng ngàn cây số, và rất nhiều hiểm nguy đang chờ đón trong suốt hành trình.
 
Một số lớn loài động vật có vú sống khắp miền Bắc cực đều cố tìm một chỗ trú ẩn khi đông về. Như loài nai sống ở phía Bắc (Bắc Mỹ Châu), loài tuần lộc (1loại nai) ở Âu Châu và Gia Nã Đại đều di chuyển xuống phía Nam, dù phải di chuyển ngang qua nhiều khu rừng rậm. Khi hè tới, miền địa cực có khí hậu dễ chịu hơn, chúng cùng nhau quay về phương Bắc, sống lại ở vùng đài nguyên giá lạnh, cây cỏ đìu hiu.
 
Trong lúc đó, lại có nhiều thú vật can trường hơn, không di chuyển đi đâu cả, ở lại tại chỗ đối đầu với thiên nhiên. Loại nầy có một vài "ngón nghề" đặc sắc hơn. Phản ứng tự nhiên và đầu tiên của chúng là đào những hang sâu, tránh xa nơi ẩm ướt. Hang được phủ và lót bằng các vật liệu khả dĩ đem lại sự nóng ấm như rơm, lá khô, và ngay cả lông thú vật. Chúng còn lo xa hơn nữa: trong hang là một kho dự trữ dồi dào thức ăn đủ loại mà chúng đã chịu khó thu nhặt và tích trữ từ lúc mùa hè, mùa nóng ấm và dễ săn mồi. Đây là trường hợp của loài thỏ rừng, loài chuột sống ở vùng tuyết phủ, loài chồn trắng và tất cả thú vật sống ở miền núi.
 
Loài gấu trắng sống ngay ở Bắc cực, vùng đất cực kỳ lạnh lẽo trên địa cầu, vào mùa đông, toàn thể mặt đất phủ một lớp nước đá trắng xóa. Chúng đào một cái lỗ xuyên qua nước đá rồi thu mình trong cái hang nhỏ đó. Tất nhiên, cạnh chỗ ở tương đối ấm hơn mặt đất cũng có vài tiện nghi và là nơi chứa đầy ăm ắp thức ăn thịnh soạn béo bổ. Thỉnh thoảng, nó trở dậy, ăn một ít, bài tiết rồi tiếp tục giấc đông miên. Kiên nhẫn cho qua hết mùa đông.
 
Ngoài những phương cách trên thú vật còn được thiên nhiên ban cho một vài "tiểu xảo". Những thú vật ở ngay những vùng có khí hậu ấm áp cũng có sự thay đổi nhỏ về bộ lông. Mùa đông, lông bao giờ cũng dài và rậm rạp hơn mùa hè. Ở miền địa cực, dưới khí hậu lạnh lẽo của mùa đông, bộ lông thú vật không những chỉ dầy thêm mà màu lông có thể thay đổi nữa. Con chồn trắng hay con thỏ rừng, mùa hè có bộ lông màu nâu đỏ, đến mùa đông lông đổi màu trắng muốt. Bộ lông của chồn trắng là một trang phục đắt tiền và sang trọng của quý cô, quý bà. Khoác bên ngoài bằng chiếc áo choàng lông con vật nầy là niềm hãnh diện và sung sướng!
 
Sự thay đổi màu lông tùy theo mùa cũng giúp ích rất nhiều cho con vật. Màu sắc của cơ thể lại giống với màu của môi trường như chiếc áo rằn của chiến sĩ giống với màu xanh rừng núi giúp nó trốn tránh kẻ thù dễ dàng. Ngược lại, chúng khó bị phát giác khi săn mồi, con mồi sẽ lầm lẫn và không nhận ra chúng nên "làm ăn" khá hơn.
 
Một hiện tượng khác cũng rất lý thú. Ở thú vật có vú, chúng phải hoàn tất sự sinh sàn và con cái phải lớn đủ sức và khỏe mạnh để đối đầu với những khó khăn khi mùa đông sắp đến. Đây cũng là một sự tương quan giữa thú vật và sự che chở của thiên nhiên.
 
Các bạn đã thấy, thú vật tự nó có đủ cách để sinh tồn, luôn luôn tranh đấu với ngoại cảnh mà không cần một sự trợ lực nào khác. Tuy thiếu thốn và khó khăn nhưng bù lại chúng có một sự tự do tuyệt đối. Bạn đừng đem lại sự đầy đủ và tiện nghi cho chúng kèm theo một vòng rào.
 
 
Phú Thơ
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971)
 

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Gà Tây, Con Vật Đần Độn Nhất

Nếu đã đọc qua tác phẩm "O Chuột" của Tô Hoài, các bạn thấy mụ ngan ngờ nghệch, dốt nát thế nào thì gà tây cũng ngây ngô chẳng kém mà còn có phần ngu si hơn là đằng khác.
 
Theo lời một nhà nuôi súc vật thì thịt gà tây tuy ngon thật nhưng chăm sóc chúng quả thực vất vả vô cùng. Trông dáng vẻ bề ngoài oai phong lẫm liệt như vậy mà chẳng hiểu tại sao chúng lại kém thông minh hơn cả đàn gà, vịt, ngan, ngỗng mới lạ chứ.
 
Thật vậy, gà tây luôn luôn làm những điều trái ngược với ý định của người nuôi.
 
Này nhé, theo lệ thường, sáng nào cũng vậy, người ta vãi ngô gạo cho bọn gia súc thì những con gà tây con cũng xô tới. Chúng tới không phải để ăn mà đứng nhìn rồi ghé sát mắt xuống xem cái gì be bé lại vàng vàng, trắng trắng mà "thiên hạ" tranh nhau một cách kỳ cục vậy. Thấy những con kia ăn, chúng cũng mổ mổ cho hạt ngô văng lên đoạn bổ chạy lại góc vườn. Vì thế, chúng tọp hẳn đi, chẳng bao lâu chúng chết dần chết mòn. Đã vậy, gà tây con lại thường chết khát mới bực chứ. Trong chuồng luôn luôn có hai cái máng: một đựng thức ăn, một đựng đầy nước. Chúng bước tới, dòm ngó mà không uống. Hình như chúng không biết thức ăn và nước kia dùng làm gì nữa. Phải đợi tới khi người ta vạch mỏ ra, tọng từng nắm thức ăn như người ta nhét tỏi hoặc ớt cho những con "gà rù" sắp "toi" và đổ từng thìa nước vào rồi dìm xuống nước nhiều lần trong nhiều ngày liên tiếp chúng mới biết ăn, uống. Thật là cái giống đần độn hết chỗ nói, phải không bạn?
 
Cũng may là chỉ những con gà tây con mới khiến người ta vất vả chứ lớn mà còn như vậy chắc chẳng ai thèm nuôi làm chi cho mệt. Thế nhưng có lẽ cái giống này đã ngu độn từ bé nên dù có lớn lên chăng nữa chúng cũng chỉ khôn hơn tí ti mà thôi.
 
Gặp lúc mưa to, gió lớn, trong khi bầy gà chạy đi tìm chỗ trú thì chúng cứ đứng ngây ra giữa sân nhìn vịt, ngan thích thú rỉa lông, rỉa cánh, thành thử chúng bị nhiễm lạnh rét run lên suýt chết cóng.
 
Nhiều khi chúng lang thang ngoài sân, ngoài vườn hễ gặp vật gì lóng lánh chẳng hạn như đồng bạc, mảnh thủy tinh, hòn sỏi hay dài dài như miếng giẻ rách là chúng hì hục tìm cách ăn cho được. Bởi vậy, người ta từng thấy các con chết ngạt vì cố nuốt miếng giẻ.
 
Ngoài ra chúng thường sợ những cái gì đâu đâu, một mẩu giấy bị gió cuốn tung bay, một chiếc lá rơi gần đó hay khi máy bay sà qua cũng đủ làm cho chúng cuống quýt, chen nhau dúi vào hàng rào đến nỗi có con bị đè bẹp. Thế nhưng khi chồn hoặc cáo mò vào chuồng bắt một con để ăn thịt thì chúng lại tỉnh bơ ngắm nhìn đồng bọn gặp nạn mà chúng không kêu lên như loại gà thường. Chưa hết, ai muốn bắt cũng được, chúng không biết chạy trốn hay phản ứng thích hợp bao giờ.
 
Hầu như gà tây không nhớ tới những hành động vừa làm và cũng không sử dụng khả năng sẵn có của chúng. Một bữa nọ, thấy có vật gì bên ngoài hàng rào, chúng hè nhau tìm cách ra tận nơi xem. Hàng rào thì cao, chúng phải bay qua. Sau đó, chúng cứ trèo lên, tụt xuống mãi chán lại chui rúc vào hàng rào mà không biết bay qua để về như lúc ra. Nếu người ta không ra dẫn về chắc chúng còn loay hoay mãi. Thật là cả lũ ngớ ngẩn.
 
Hơn nữa, chúng còn gây nhiều chuyện bực mình hết sức. Thấy cáo chồn hay bắt chúng ăn thịt người ta làm hàng rào cao hơn, trên mỗi cột có đặt sẵn một cái bẫy. Có lẽ thấy là lạ, chúng bay lên, chui vào làm bẫy sập tùm lum, hại chủ trại phải bắc thang lên lôi ra từng con một. Rõ chán!
 
 
ĐẶNG HOÀNG                
(phỏng theo READER'S DIGEST)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 22, ra ngày 9-1-1972) 
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>