Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026

Những Con Vật Kỳ Dị

 
 1 - MỘT CON VẬT KHÔNG HAM ĂN UỐNG :
 
Tại miền sa mạc hoang vu Á Rập và Phi Châu luôn nóng bỏng và khô cằn, những giếng nước ở rất xa vì vậy người ta không thể nào tự mình băng qua sa mạc đó được nếu không có sự giúp đỡ của 1 con vật: Con Lạc Đà có những đặc tính kỳ dị thích hợp với sự sống nơi sa mạc.
 
Tại sa mạc thường có những cơn gió lốc bất tử, những cơn gió này thổi tung cát bụi bay vào mắt, mũi, tai người ta hay những giống vật khác. Nhưng đối với Lạc Đà thì cát không thể lọt vào mắt nó được vì nó có đôi mi mắt rất dày và dài che kín con mắt, cát cũng không chui vào tai nó được vì đôi lỗ tai có lông che kín, ngay cả đến mũi, cát cũng khó lòng mà chun vô đó được vì Lạc Đà có thể khép kín đôi lỗ mũi được. Bồn bàn chân Lạc Đà rất to và phẳng nên nó đi trên cát rất dễ dàng và chân không bao giờ bị lún xuống cát, nó có thể đi 50km trong 1 ngày và không cần ăn uống trong mấy ngày liền. Tuy nó cũng phải ăn uống như mọi loài vật khác để sống, Lạc Đà trữ thức ăn ở cái bướu và trữ nước ở một bộ phận khác trong thân thể.
 
 
2 - CON CỔ NGẲNG :
 
 
Một vài giống vật có vẻ đẹp hay xinh xắn, một vài giống khác lại có hình thù xấu xí, nhưng con Hươu Cao Cổ thì có hình dáng khác thường.
 
Hươu Cao Cổ có 4 cẳng khẳng khiu và dài, đặc biệt là chiếc cổ rất dài. Nó là con vật cao nhất trong mọi loài vật, nhờ bộ vó dài và chiếc cổ cao ngẳng nên nó có thể quan sát mọi vật chung quanh nó rất xa để canh chừng kẻ thù là con Sư Tử và Báo. Màu da và vết đốm trên mình nó giúp cho nó dễ trốn tránh kẻ thù. Nó cũng chống trả kẻ thù khi bắt buộc. Nó tự vệ bằng cách dùng đôi cẳng sau có hai bàn chân rất khỏe và sắc để đá hậu địch thủ, đôi khi nó còn dùng đến cả chiếc cổ ngẳng của nó để hích kẻ thù. Hươu Cao Cổ sợ nhứt là lúc uống nước, nó không thể cúi xuống uống nước một cách dễ dàng được vì chiếc cổ quá cao, hay quỳ gối xuống thấp như mọi loài vật khác vì đôi cẳng quá dài và cứng ngắc nên mỗi lần uống nước là cả 1 cực hình đối với nó, nó phải cố xoạc đôi chân trước càng rộng càng tốt để hạ thấp thân mình xuống, nó làm động tác này một cách chậm chạp và vất vả. Lúc này nó không thể chạy một cách dễ dàng và chống cự lại kẻ thù nên dễ bị Sư Tử hay Báo hạ, vì vậy mỗi lần trước khi uống nước nó rất cẩn thận, quan sát kỹ càng, khi biết chắc là không có kẻ thù ở gần nó mới dám uống nước.
 
 
3 - CON VẬT YÊU ĐỜI :
 

Con Rái Cá thường sống nơi biển lạnh và có sóng lớn. Nó ngoi rồi ngụp như bầy trẻ con chơi trò ú tim, mỗi khi lặn xuống nước bắt được sò, hến hay trai thì nó cũng lượm luôn 1 tảng đá nữa, rồi nó ngoi lên và nằm ngửa trên mặt nước, đặt tảng đá trên ngực rồi giơ cao tay đập con sò hay hến xuống mặt tảng đá để đập vỡ cái vỏ sò, thế rồi nó có thể ăn lớp thịt hãy còn tươi bên trong một cách dễ dàng. Suốt ngày nó đùa rỡn trong sóng biển và khi nào mệt thì năm ngửa trên mặt biển mà nhắm mắt ngủ 1 cách ngon lành thanh thản mặc cho sóng gió đưa đẩy. 
 
 
4 - MỘT CÁI RA-ĐA SỐNG :
 
Chim có thể bay được. Dơi cũng vậy, nhưng Dơi không thuộc loài chim mà thuộc loài có vú, nó là con vật độc nhất thuộc loại có vú biết bay. Cánh chim thì làm bằng lông nhưng cánh Dơi thì chỉ là một lớp da mỏng giữa 2 ngón tay dài. Khi nó duỗi đôi cánh tay, lớp da đó căng rộng ra và thành đôi cánh. Dơi ăn côn trùng và sâu bọ, hàng năm những con Dơi đã ăn hết hàng tỷ côn trùng nên nó là loại giúp ích cho nhà nông. Nó thường ở trong những hang tối hay hốc cây hẻo lánh. Nó ngủ suốt ngày ở 1 tư thế ngủ rất đặc biệt: hai chân móc vào thành hang hay thân cây và buông ngược đầu xuống treo mình lủng lẳng. Khi đêm xuống, nó thức giấc và bay đi kiếm ăn, nó bay rất nhanh vừa bay vừa bắt côn trùng ăn. Trong khi bay mồm nó phát ra những âm thanh nhỏ mà tai ta không thể nghe thấy được, những âm thanh đó tạo thành luồng sóng âm thanh, khi gặp phải 1 chướng ngại vật như cây cối, tường nhà v.v... thì dội ngược trở lại thành tiếng vang. Vì thế Dơi biết đường mà tránh, do đó ta mới gọi nó là cái Ra-Đa sống. Người ta thường nói là "Mù như Dơi" nhưng thực ra nó không mù, nó có thể trông bằng mắt và bằng tai được (bằng cách nghe tiếng vang dội ngược lại).
 
 
5 - CON ĐẠI THỬ QUỶ QUYỆT :
 

Con Đại Thử là 1 con vật có 1 lối tự vệ kỳ dị nhất: Nó thường giả vờ nằm chết khi bị kẻ thù tấn công. Khi 1 con vật nào đến gần nó, nó không hề chạy trốn như những con vật khác, mà nó nằm ngay đơ, bất động giả vờ chết, kẻ thù đến gần đánh hơi chân nó vẫn không nhúc nhích nên tưởng là nó chết thật và bỏ đi, thế là Đại Thử ta thoát nạn nhờ mưu kế quỷ quyệt. Nó còn có 1 cái đuôi rất thần tình: có thể cầm đồ vật bằng cái đuôi và quấn cái đuôi này trên 1 cành cây rồi buông mình đu đưa đùa rỡn. Con Đại Thử mẹ có 1 cái túi trước ngực để đựng con, Đại Thử con mới đẻ thì rất yếu, không thể tự sống một mình được mà phải sống trong cái túi ở trước ngực mẹ nó cho đến khi cứng cáp thì mới chui ra khỏi túi sống bên ngoài, lúc này chúng thường bám trên lưng mẹ đùa rỡn.
 
 
6 - MỘT CON VẬT TUY NHỎ NHƯNG ĐÁNG SỢ :
 

Con Chồn Hôi nhỏ và yếu, nó chạy không được nhanh lắm vì vậy tưởng như là nó dễ bị loài vật khác ăn thịt, nhưng thực ra ít có con vật nào dám đụng đến nó. Nó có 1 thứ khí giới để tự vệ rất lợi hại: trong cơ thể nó có 2 cái túi nhỏ, từ 2 cái túi này nó có thể phun ra 1 chất nước có mùi hôi khó chịu mà ngay chính nó cũng không thể chịu được mùi hôi này mà chỉ sử dụng 1 cách bất đắc dĩ khi cần tự vệ để sống. Khi nào 1 con vật đến gần định bắt nạt nó thì mới đầu nó chống 2 chân trước đứng thẳng mình lên như hát xiệc, quay đuôi về phía địch thủ để dọa nạt, nếu địch thủ biết điều bỏ đi thì huề, nếu ngoan cố đứng đó chờ dịp tấn công nó thì nó dựng ngược chiếc đuôi lên và phun ám khí vào mặt kẻ thù, với lối phản ứng tự vệ này thì địch thủ chỉ có nước bỏ chạy thật nhanh để khỏi lãnh đủ uế khí đó.
 
 
VỊT MÒ sưu tầm     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)
 

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

JULES VERNE Người Giầu Óc Tưởng Tượng Nhất

Sinh ngày 8-2-1828 tại Nantes, France, Jules Verne là người rất ham thích mạo hiểm. Hồi nhỏ đã có lần ông viết:
 
- Tôi muốn du hành tới những vùng kỳ lạ cùng chiếc lá cây gồi, con chim đỏ và xanh trong những khu rừng kỳ bí và những hang động chưa một ai khám phá.
 
Khi thiếu thời, tính thích phiêu lưu của Jules Verne khiến ông thường bỏ nhà đi chơi. Ông đã cho tiền những đứa trẻ giữ tàu để được lên boong tàu chơi. Nhưng chiếc tàu này lại khởi hành mang theo cậu bé ham chơi (Jules Verne).
 
Cuộc sống trên tàu không mang lại thích thú như Jules Verne tưởng tượng. Ông đã mất hết thì giờ để làm những công việc như bê đồ ăn, hầu bàn, rửa bát, rửa boong tàu... Khi tàu cập bến, cha của Juler Verne phải ra tận bến đón ông về.
 
Jules Verne đã trải qua thời niên thiếu ở Nantes, France. Ông là người giàu tưởng tượng, tự ông viết ra những vở kịch và cho những người bạn xem những bức tranh vẽ của ông, kể cả những dự án được lựa chọn rất kỳ lạ. Như các xe chở hàng không ngựa và chạy bằng hơi nước. Jules Verne cũng là một người thích hoạt động và thưởng thức.
 
Jules Verne thích viết những chuyện mạo hiểm, những vở kịch. Nhưng ông không cho cha hay vì ông biết rằng cha sẽ không được hài lòng. Cha của Jules Verne là một luật sư có tiếng lúc bấy giờ và muốn Verne trở thành một luật sư như ông. Vì vậy lên 16 tuổi Verne đã bắt đầu học luật tại văn phòng của cha.
 
Đến 19 tuổi Verne lên Paris dự cuộc thi luật. Ông đã đỗ vào hạng cao. Thi đỗ, Verne về quê, nhưng trong thâm tâm ông nghĩ rằng ông sẽ lên Paris lần nữa và sinh sống bằng nghề viết lách.
 
Đầu tháng 11 năm 1845, Jules lên Paris lần nữa để ứng thí luật lần thứ hai. Trong thời gian lưu lại Paris, Verne quen được với Alexandre Dumas và hai người trở thành đôi bạn thân. Dumas đọc những vở kịch của Jules Verne và quyết định chọn một vở, việc này đã làm Verne thích thú và Verne ở lại Paris và bắt đầu sống bằng nghề viết văn.
 
Dù đã thi đỗ luật sư nhưng Verne viết thư về cho cha mẹ tỏ ý ở lại Paris:
 
- Con xin ba má tha lỗi cho con, con không về nhà được. Con sẽ ở lại Paris làm việc chăm chỉ. Con biết rằng con sẽ có thể trở thành một nhà văn, con sẽ không làm điều gì mờ ám hết...
 
Đời sống ở Paris là một sự tranh đấu cho Verne. Verne lần lượt bán hết những sách học luật. Ông đã làm việc khó khăn nhưng ông không làm xong một bài viết nào cả. Verne cưới vợ năm 1857, việc nuôi thêm vợ ở nhà là điều bất tiện cho Verne.
 
Sau đó, đến năm 1863 Jules Verne cho xuất bản tác phẩm "Năm tuần trên khinh khí cầu". Nhờ tác phẩm này, Verne nổi tiếng như cồn.
 
Sau đó ông đã viết nhiều quyển sách khác như Vòng quanh thế giới trong 80 ngày, Từ trái đất tới mặt trăng, Micheal Strogoff, 20.000 dặm dưới đáy biển...
 
Trước khi Jules Verne viết một bài gì, ông đã đọc những chuyện lặt vặt để chọn đề cho tác phẩm ông sắp viết.
 
Jules được mời vào Hàn lâm viện văn chương ở Pháp và được thưởng mề đay Legion of Honor cho những tác phẩm của ông. Về già ông bị bệnh tiểu đường, chính vì bệnh này nên ông đã bị mù rồi tạ thế vào năm 1905 để lại 60 tác phẩm. Trên đời này sẽ tìm đâu ra một Jules Verne thứ hai?
 
 
NGUYỄN THƯ      
 (nhóm Uyên Tha)     
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 30, ra ngày 19-3-1972)
 
 

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2026

Tháng Ba Về Qua


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Tháng ba lại về
Gió bạt triền đê
Chiều qua ngõ xóm
Lá rụng tỉ tê

Tháng ba lại về
Thơm mùi hoa dại
Lẫn cả hương lài
Cỏ lau mềm mại

Tháng ba lặng lẽ
Róc rách nước sông
Đò ngang quạnh quẽ
Trơ vạt nắng hồng

Tháng ba êm ru
Chỉ có mây mù
Trên hàng rào giậu
Cánh bướm ưu tư

Tháng ba mơ màng
Chuồn chuồn bay ngang
Làm quen chú cún
Chẳng thiết lăng xăng

Tháng ba trên cao
Tàu lá xạc xào
Mái tranh xơ xác
Thiên lý ngọt ngào

Chiều xuống mục đồng
Rủ nhau ra bãi
Giỡn lớp phù sa
Tháng ba lắng đọng

Tháng ba lại về
Cánh diều phất phới
Trẻ cười thơ thới
Cuối nẻo đường quê...

                           Thơ Thơ
               (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2026

Thú Giải Trí Của Loài Vật

Vào một đêm sáng trăng, trên cánh rừng cô quạnh bên Á Căn Đình một nhà thám hiểm Anh đang ngủ trên đất, bỗng dưng giật mình choàng dậy vì tiếng sư tử gầm thét rất gần. Ông hé mắt thấy rõ ràng bốn con sư tử to lớn đang chạy xô về phía mình. Quá lo sợ, tim đập thình thịch, nhà thám hiểm ngồi im không dám nhúc nhích. Nhưng sau đó ông thở dài nhẹ nhõm vì không những không gặp nguy hiểm mà còn được quan sát chúng nô đùa vì không biết có ông ở gần.
 
Một con chạy ra quãng xa xa rồi thụp xuống bãi cỏ gầm gừ, gào thét kêu các con kia như thể trẻ em chơi trò đuổi bắt vậy. Khi gặp nhau, chúng lăn lộn và cắn vào cổ, con bị cắn giơ chân quào quào không khí rít lên những tiếng chát chúa. Được một lát, chúng đuổi nhau lẫn vào bóng đêm trong rừng thẳm mất hút.
 
Nhiều nhà sinh vật học, khi nghiên cứu về thú vật đã kể lại các câu chuyện có thật về loài vật và kết luận: Quả thực, chúng cũng có những lúc nô đùa, giải trí như chúng ta, qua những dẫn chứng sau đây:
 
Một con gấu xám lao mình trên bãi tuyết thật nhanh, chắc bạn sẽ lo toát mồ hôi vì cứ tưởng nó xông vào bạn, nhưng không sao đâu. Nó đang mải nô đùa nên cố gắng chạy lên đầu dốc tuyết thật cao xong ngồi xuống để tuột tới đáy dốc. Loài gấu rừng cũng thích trò chơi này trên những đồi cát trong rừng.
 
Tại vườn bách thú nọ, một con trâu nước đã nghĩ ra thú giải trí riêng. Thấy lá cây phong rơi xuống hồ nước trong chuồng, lập tức nó rón rén bò vào bể rồi lặn xuống nước phía dưới chiếc lá. Đoạn nó phì hơi thật mạnh cho chiếc lá tung bay lên để rồi khi chiếc lá rơi xuống, nó lại phì hơi lần nữa. Con vật có vẻ khoái chí về trò chơi này.
 
Con chuột nước thường đùa rỡn với một mẩu gỗ. Nó ngậm trong mõm rồi tung lên tung xuống đến nỗi miếng gỗ nhẵn thín.
 
Con chồn và chó sói thích đớp một miếng rêu và tung lên cao rồi há mõm chờ cho vật đó rơi xuống là đớp lấy xong lại tiếp tục tung nữa. Chúng thường chơi trò này cho tới khi chán thì cắn nát vụng rồi bỏ đi.
 
Loài nhím to béo lại thích vật lộn với nhau mà không con nào bị lông đâm phải mới tài tình chứ.
 
Riêng loài khỉ lại có những cử chi như trẻ. Chúng nô đùa rồi vật nhau từ trên cao, có con rơi xuống, nhưng lại quặp được đuôi vào một cành cây rồi đung đa đung đưa để trêu con kia.
 
Một con hươu đuổi theo một con khác rồi dùng sừng khẽ húc đồng bạn. Nhiều khi chúng chơi "đi trốn" nữa. Có lúc chúng lừa lừa, rón rén tới sau lưng con kia để trêu như khi trẻ chơi trò ú òa vậy.
 
Con rái cá lao mình trên đống bùn trơn trượt dưới nước rồi lại bay lên tiếp tục như vậy một mình.
 
Nhưng ngộ nhất là mấy con sóc. Chúng chơi trò "chiếm thành" như sau: Một con ở giữa cố gắng chạy tới tổ con kia, con thứ nhì chạy sang tổ con thứ ba làm sao để con sau cùng không chui tọt vào được tổ mới thôi.
 
Một nhà thám hiểm khác ở Phi châu kể lại. Bữa đó ông cố gắng bò lại gần một bầy voi quan sát hoạt động của chúng. Ông thấy mấy con to nhất đi vòng quanh những con kia, dùng vòi quật quật mà không thấy những con kia phản ứng, trái lại chúng có vẻ thích thú. Thấy lạ, ông nhích lại gần hơn nữa. Thì ra chúng dùng chân và vòi lăn những quả đất khô to cỡ ba bốn mươi phân vào nhau như thể ta chuyền bóng vậy. Có lúc chúng lăn xa tới năm, sáu trăm thước.
 
Vậy loài vật chơi đùa như thế chính là để luyện tập cho thích hợp với hoàn cảnh. Những con già hơn tham dự thường vì giải trí.
 
Người ta tự hỏi: "Động lực nào đã thúc đẩy thú vật thích thú với những trò chơi giải trí như vậy?" nhưng không ai tìm được câu trả lời thích đáng cả.
 
 
ĐẶNG HOÀNG       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 27, ra ngày 20-2-1972)
 

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

Mùa Đông Đã Qua




 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mùa đông giá lạnh những ngày mưa
Chẳng phải quê hương lúc giao mùa
Sương giăng phủ kín trông buồn bã
Ngọn cỏ héo tàn trên lối xưa

Đông đã đem mưa những tháng ngày
Nhẹ nhàng xuân đến chẳng ai hay
Nắng bừng rọi sáng muôn ngàn lối
Phất phơ trước gió ngọn cờ bay

Hồng-đào hé nụ khoe sắc hương
Đâu đây tiếng pháo rộn trên đường
Thuỷ tiên cánh mỏng màu tinh trắng
Thanh thản như hồn hoa hướng dương

Đông đã qua rồi, đông đã qua
Quanh đi quẩn lại đã tháng ba
Quê hương đón Tết vui năm mới
Lữ khách miền xa lại nhớ nhà

                                           Nhã Uyên

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

Giấc Ngủ Loài Chim Tiểu

 
 MỘT
 
Bé Tiểu Di vẫn còn nóng, cơn sốt nóng bừng bốc lên khuôn mặt bé, nó muốn thoát ra từ cánh mũi phập phồng, từ đôi môi khô he hé mở. Tiểu Di lả người trên mặt gối, mồ hôi vã ướt mái tóc mềm.
 
Mẹ khóc, chị Mi Tiên ức ghê, chị ngồi nhìn mẹ thấm từng giọt nước mắt bằng những ngón tay, rồi lại quay xuống nhìn Tiểu Di mê man:
 
- Bác sĩ gì mà dở ẹt, cứ làm cho Tiểu Di ốm hoài mẹ ạ!
 
Mẹ thở dài, gần 11 giờ chưa, Mi đi về nhà để còn ăn cơm, chiều đi học nữa.
 
Mi Tiên nhẹ đứng dậy, đẩy cửa phòng nhìn xuống hành lang. Qua vuông cỏ xanh có những đóa hoa tim tím dại, mọc lưa thưa dưới chân băng đá khuôn viên bệnh viện, trống vắng. Mi Tiên kiếm hoài cái áo mỡ gà ngắn tay của anh Tuấn dưới những bóng cây xanh - Mi Tiên than thầm, buồn biết mấy, mẹ thấy chị Mi Tiên trở vô, mẹ hiểu, mẹ nhìn đồng hồ rồi đi pha thuốc cho Tiểu Di. Còn lại mình Mi Tiên nhìn em mà thương quá. Mi Tiên không khóc được như mẹ. Họ hàng ai cũng mắng Mi Tiên là ngang bướng, cứng đầu. Mi Tiên mặc kệ, Mi Tiên thương Tiểu Di, thường đàn piano cho Tiểu Di nghe, nếu Tiểu Di thích. Còn anh Tuấn năn nỉ muốn gãy lưỡi, Mi Tiên cũng chả thèm, chừng nào hứng thì Mi Tiên đàn cho nghe, cho nghe hoài bản "Hương xưa" mà anh Tuấn cũng chả "khiếu nại".
 
Mi Tiên cầm trái cam vàng trên tay, loay hoay gọt vỏ cho Tiểu Di chốc nữa khô cổ thì ăn cho mát, vừa gọt Mi Tiên vừa nhẩm tính, nếu 15 phút nữa mà anh Tuấn không đến thì Mi Tiên đi xe lam về. Tiểu Di hình như cựa quậy rồi lại nằm im. Tiểu Di không há mồm cười với Mi Tiên, không gọi chị Mi Tiên dạy Di đánh bóng đôi dép cho anh Tuấn. Mi Tiên nhớ nhiều lắm, sờ trán Tiểu Di, hình như nóng thêm nữa. Mi Tiên bỗng thoáng rùng mình, Mi Tiên sợ Tiểu Di chết quá. Mi Tiên không dám gọi mẹ, đặt trái cam vừa gọt vào chiếc đĩa men màu. Có tiếng anh Tuấn nói nho nhỏ gì với mẹ, quay lại nhìn em rồi Mi Tiên đi ra về với anh Tuấn.
 
 
HAI
 
Tiểu Di thấy lờ mờ đôi mắt cúi xuống mở to của mẹ - vẫn đôi mắt đen sâu với hàng mi cong. Tiểu Di mệt nhoài, quay cuồng. Tiểu Di buồn quá, Di muốn gọi mẹ ơi thật to, nhưng môi Tiểu Di khô quá, nóng quá. Tiếng mẹ reo mừng sũng nước, mũi kim chích vào da thịt vẫn còn nhức. Tiểu Di uống bao nhiêu thuốc rồi, nhiều lắm, thế sao chưa khỏi bệnh. Mọi ngày Tiểu Di dầm mưa tí xíu, cảm sơ sơ thôi, chỉ 1 viên thuốc trắng trắng là Di hết bệnh.
 
- Lần này sao Di thấy lâu quá, hơn nửa tháng rồi, chị Mi Tiên bảo thế.
 
Tiểu Di phải nghỉ học, hàng dây hoa tóc tiên be bé sau cổng trường sẽ buồn vì không có ai thăm viếng. Anh Tuấn bảo Tiểu Di cố hết bệnh, về đánh vũ cầu với anh, ăn chị Mi Tiên 5-0 chơi. Tiểu Di gật đầu, rồi anh Tuấn chở Tiểu Di đi học sớm, thả Tiểu Di ngoài cổng trường. Chiếc xe đạp của anh em mình anh Tuấn thay vỏ xe mới chưa nhỉ? Tiểu Di nghe đâu bị bệnh thương hàn, tóc Tiểu Di bắt đầu rụng hoài hoài. Mẹ bảo rồi sau này tóc sẽ mọc lại, mau mà đẹp hơn. Bác sĩ khám bệnh Di không còn vui tươi, đùa giỡn với Tiểu Di như trước, mắt ông ấy nghiêm lắm, mà Tiểu Di cũng thấy mình càng bệnh nặng thêm, Di lo lắm, Di không muốn bỏ mẹ, chị Mi Tiên, anh Tuấn... Tiểu Di nghe hình như trời mưa, mơ tiếng dương cầm của chị Mi Tiên đâu đây. Có tiếng mẹ gọi Tiểu Di khe khẽ...
 
 
BA
 
Mi Tiên đứng lặng thinh nơi cổng trường. Trời đã bớt nắng gắt. Mi Tiên ôm vở lên ngực, dựa lưng vào dãy tường quét vôi trắng, nép dưới bóng cây bã đậu rì rào. Mi Tiên chờ anh Tuấn đến đón, rồi hai anh em chở nhau đi thăm mộ Tiểu Di. Nghĩ đến Tiểu Di, Mi Tiên muốn bật khóc, Tiểu Di còn bé quá, mới học lớp nhì, còn nói líu lo như loài chim Di bé bỏng. Tiểu Di bị bệnh nặng mất, nhà chừ vắng quá, mẹ nhớ Di khóc thầm. Mi Tiên thương em, nhớ em, rướm nước mắt khi ngồi vào ghế dạo lại những ca khúc mà Tiểu Di ưa. Mi Tiên cũng thương anh Tuấn ghê, nhà còn có hai anh em. Anh Tuấn, ngày Tiểu Di mất, anh không khóc, nhưng mắt anh rất buồn. Sau này, giờ tan học nào anh cũng đạp xe đến đón Mi Tiên, Mặc dù trường anh và trường Mi Tiên trái đường. Mọi ngày thì Mi Tiên về bộ với bạn, còn anh thì chở Tiểu Di. Chùm hoa dại trắng muốt cuống còn mủ trắng vẫn còn tươi đẹp. Hoa cắm trên mộ Tiểu Di đấy, chị Mi Tiên hái sau trường để cho Tiểu Di đấy, Di ạ! Trời mát dần, bóng anh Tuấn từ xa đạp xe đến, vẫn màu áo trắng cộc tay, quần xanh, và chiếc đồng hồ đen.
 
Mắt anh như cười với Mi Tiên, như thầm hỏi "Mi tan sớm vậy, chờ anh lâu không". Xe dừng, Mi Tiên ôm vở, kéo áo ngồi sau, nâng niu chùm hoa trắng trong tay. Xe hướng về nghĩa trang có loài chim Di bé. Mắt anh Tuấn chùng thấp, gió thổi tung mái tóc dầy của anh. 
 
 
NGỌC BÍCH       
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 172, ra ngày 1-3-1972) 
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>