Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Ngày Giờ Trên Địa Cầu

Địa cầu lúc nào cũng trình diện nửa phần về phía mặt trời, cho nên cùng một lúc, trên địa cầu có nơi thì ngày, có nơi thì đêm, có nơi thì bình minh và cũng có nơi thì đang... chiều tím.
 
Vấn đề rắc rối xảy ra là phải có một quy luật nào đó để giờ giấc một nơi vừa thích hợp với sự liên lạc của nhiều quốc gia trên thế giới. Quy luật nầy lại phải làm sao giải quyết được việc là trong một quốc gia rộng không phải cứ di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác là phải đổi giờ trên đồng hồ, mà việc đổi giờ nầy chỉ xảy ra trong các quốc gia quá rộng thôi.
 
Vì thế người ta đã đồng ý với nhau chia mặt địa cầu ra làm 24 giờ với đường đổi ngày nằm ở cuối múi giờ thứ 24.
 

Tất cả các quốc gia, các địa phương cùng nằm trong một múi giờ sẽ có cùng một giờ giống nhau, và giờ nầy chính là giờ xét theo mặt trời của đúng nơi ở giữa múi.
 
Cho nên giờ thật của các địa phương ở hai bên mép múi giờ hơi khác với giờ mà đồng hồ chỉ (Thí dụ như Saigon ở giữa múi giờ thứ 19, còn Thái Lan ở bên mép múi giờ 19. Cho nên lúc Saigon 19 giờ thì ở Thái Lan đáng lẽ chỉ mới 18 giờ rưỡi thế mà đồng hồ vẫn phải chỉ 19 giờ).
 
Nếu ta chia góc 360° (góc của nguyên 1 vòng tròn lớn của trái đất) cho 24 múi giờ thì mỗi múi giờ sẽ ứng với  góc 15°, như vậy có nghĩa là ở hai nơi nằm cách nhau một kinh độ là 15° (cách nhau 15 kinh tuyến) thì đồng hồ ở hai nơi  đó sẽ khác nhau 1 giờ.
 
Theo đó khi chúng ta khởi hành từ một nơi nào trên địa cầu, nếu đi về phía đông ta phải vặn đồng hồ thêm lên một giờ mỗi khi vượt qua 15 kinh tuyến (nghĩa là vượt sang múi giờ khác), nếu đi về phía tây ta phải vặn ngược đồng hồ bớt đi một giờ mỗi khi vượt qua 15 kinh tuyến.
 
Ngoài ra ta cần chú ý thêm một điều khác là có những múi giờ mà đường giới hạn bị cong queo chứ không thẳng như bình thường, đó là vì các đường giới hạn nầy phải uốn cong theo ranh giới của các quốc gia nó đi qua. Mục đích của sự uốn cong nầy là để cho người sống trong một quốc gia có giờ giấc giống nhau, kể cả những địa phương đáng lẽ, nếu không có sự uốn cong của đường giới hạn múi giờ sẽ nằm trong múi giờ bên cạnh.
 
Như trên đã nói, đường đổi ngày nằm cuối mùi giờ thứ 24, đường nầy được chọn lựa cho không đi qua một quốc gia nào trên địa cầu vì thế nó đi qua eo biển Béring giữa Á Châu và Mỹ Châu và xuyên qua Thái Bình Dương.
 
Mỗi khi vượt qua đường nầy, ta phải thay đổi ngày, và các việc thay đổi còn tùy thuộc vào lúc vượt qua đường đổi ngày là sáng, trưa, chiều hay tối.
 
Trong các hình vẽ sau đây đường đậm nét là đường đổi ngày vì lẽ địa cầu được nhìn thẳng xuống Bắc cực nên đường đổi ngày chỉ là một bán kính. Phần địa cầu để sáng là đang ngày, và phần địa cầu gạch chéo là đang đêm.
 

Số được ghi ứng với mỗi múi giờ là giờ, và chữ bên cạnh là D nếu chúa nhật, L nếu thứ hai, M nếu thứ ba.
 
 
TRẦN NGỌC KÍNH      
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 29, ra ngày 12-3-1972)
 

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Đôi Thỏ Của Thằng Hải

Trống đánh tan học...
 
Hải bước ra về, lòng không đặng vui như mọi hôm. Nó bước chầm chậm có vẻ suy nghĩ. Hải đang nghĩ đến cái lồng thỏ. Nó vừa được các ông cán sự chỉ dạy cách đóng lồng thỏ để đem thỏ về nuôi. Làm sao có tiền để đóng một cái lồng thỏ kiểu mẫu? Nó xin ba má nó, có lẽ ông bà rán chút ít cho nó nhưng nó không muốn thế. Nó nghe má nó bảo lúc nầy buôn bán không chạy. Ba nó cũng nói lúc nầy đạp xe ít khách quá. Nó biết gia đình hiện nay đang túng lắm. Nó không muốn làm rộn ba má nó nữa.
 
Nhưng không hỏi xin ba má nó thì làm sao có tiền mua cây ván để đóng cái lồng thỏ? Hải buồn quá. Bỗng nó sực nhớ con heo đất để dành tiền của nó. Hôm Tết, mấy người bà con lì xì cho nó được mấy chục đồng và tiền nó tiết kiệm mấy tháng nay nó đều bỏ trong đó hết. Hải mừng quá. Nó bước đi nhanh hơn.
 
Đến nhà, cất cặp xong, Hải đi lấy con heo ra liền. Nó đập con heo đất ra. Nó đếm luôn cả bạc cắc chỉ được năm mươi đồng. Với năm mươi đồng đóng cái lồng đúng kích thước như mẫu sẽ thiếu. Nhưng không hề gì, nó sẽ kiếm cây tre đóng phụ thêm. 
 
Ăn cơm xong nó đi mua cây liền. Rồi cứ mỗi ngày, sau những buổi học, nó dành ra chút ít thì giờ để đóng cái lồng. Nó không dám mượn ba nó, nó biết ba nó đạp xe mệt lắm, cần để cho ông nghỉ.
 
Hải đi ra ngoài vườn đóng lén ba má nó. Nó tự cưa, tự đục, làm một mình. Chẳng bao lâu cái lồng thỏ được hoàn tất.
 
Vài hôm sau người ta phát cho nó một đôi thỏ con.
 
Đôi thỏ đẹp làm sao! Lông chúng mịn màng và trắng phau, hai tai nó dài và vểnh lên, hai con mắt đỏ lòm. Hải rất sung sướng có một đôi thỏ như thế.
 
Mỗi ngày, Hải chia tiền ăn của nó cho đôi thỏ năm cắc, nó chỉ còn năm cắc thôi. Sáng nó thức dậy thật sớm, chạy ra chợ mua năm cắc rau muống, hoặc năm cắc cải cho thỏ, rồi nó mới đi học. Đi học về, nó chạy ra đồng hái rau muống, hoặc đi xin đọt lang hay lá tre về cho thỏ ăn thêm.
 
Hải thích nuôi thỏ không phải với mục đích để vui chơi. Nó nhắm cái lợi to hơn, là thỏ có thể mang lại cho gia đình nó nhiều lợi. Nó đã từng thấy ông Tư trong làng nhờ nuôi thỏ mà có tiền bạc. Nó hy vọng lắm.
 
Từ đấy Hải phải khổ cực hơn. Có bữa nó phải hy sinh hết một đồng ăn hàng của nó cho hai con thỏ. Và nó phải vất vả đi tìm thức ăn để cung cấp cho hai miệng ăn. Hai tháng trôi qua, hai con thỏ đã đẻ được bốn con thỏ con. Từ đó, Hải phải cung cấp thức ăn tới sáu miệng ăn.
 
Nhưng không vì thế mà Hải đâm ra chán. Nó rất vui vẻ làm công việc nầy, vì nó biết rằng mấy con thỏ đó sẽ đỡ đần cho cha mẹ nó nhiều.
 
 
ĐINH HƯƠNG SƠN     
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 13, Xuân Giáp Thìn 1964) 
 

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Thú Vật Chống Lạnh Như Thế Nào?


Ngay từ những thời kỳ xa xưa, loài người đã dự liệu mọi phương cách để có thể chống lại kẻ thù kinh khủng muôn đời: sự lạnh lẽo. Trên mặt đất, đâu đâu cũng có cái lạnh: trên cao độ, miền băng giá ở địa cực. Đó là chưa kể cái buốt giá của mùa đông.
 
Riêng thú vật, không có được một trí thông minh tuyệt vời để làm khí cụ hữu hiệu chống lạnh như loài người. Như vậy chúng phải làm thế nào trong môi trường quá khắt khe? Đã nói "trời sinh voi thì sinh cỏ", chúng ta cứ yên tâm. Thú vật vẫn có cách. Thiên nhiên sẽ chăm sóc và tạo cho chúng những phương tiện tự nhiên và riêng biệt để bảo vệ chúng.
 
Một trong những phương cách chống lạnh căn bản là sự ngủ mê suốt mùa đông. Lúc đó thú vật sẽ qua mùa đông rét căm căm bằng cách ngủ một giấc thật dài, ngủ say sưa, ngủ li bì. Chúng giảm thiểu tối đa sự hoạt động để cơ thể đỡ mất sức nóng. Đồng thời sự hô hấp cũng yếu đi, chỉ thở nhẹ nhàng để thức ăn và những chất dự trữ trong cơ thể khỏi hao hụt.
 
Trước khi mùa lạnh tới, vào mua hè, thú vật đã săn mồi tích cực và dự trữ. Sau đó, dùng những bữa ăn thật đầy đủ và thịnh soạn nhất, để rồi ẩn mình vào một nơi kín đáo như hang đá chẳng hạn, ngủ một giấc triền miên ngon lành, quên đi bên ngoài đang tuyết phủ, giá băng.
 
Một cách khác để giải quyết vấn đề không kém phần hiệu quả. Mùa lạnh đã tới! Con người đã có đủ thứ nào khăn quàng cổ, khăn phủ đầu, áo ấm, áo măng tô, tha hồ được ấm áp và chưng diện. Thú vật làm gì có những tiện nghi nhân tạo ấy! Thôi thì đành rời chỗ lạnh lẽo này, tìm nơi ấm áp hơn dể trốn mùa đông. Chúng dắt díu nhau tới những vùng có nhiệt độ ôn hòa và phong phú hơn: đây là sự di cư tập thể và tùy mùa. Như loài thiên nga rừng, cò, hải âu, én, vịt trời... mỗi năm cứ hai lần bay đi nơi khác rồi bay về chốn cũ để tránh cái lạnh thấu xương gây nhiều bất tiện cho chúng. Đoạn đường bay có khi dài hàng ngàn cây số, và rất nhiều hiểm nguy đang chờ đón trong suốt hành trình.
 
Một số lớn loài động vật có vú sống khắp miền Bắc cực đều cố tìm một chỗ trú ẩn khi đông về. Như loài nai sống ở phía Bắc (Bắc Mỹ Châu), loài tuần lộc (1loại nai) ở Âu Châu và Gia Nã Đại đều di chuyển xuống phía Nam, dù phải di chuyển ngang qua nhiều khu rừng rậm. Khi hè tới, miền địa cực có khí hậu dễ chịu hơn, chúng cùng nhau quay về phương Bắc, sống lại ở vùng đài nguyên giá lạnh, cây cỏ đìu hiu.
 
Trong lúc đó, lại có nhiều thú vật can trường hơn, không di chuyển đi đâu cả, ở lại tại chỗ đối đầu với thiên nhiên. Loại nầy có một vài "ngón nghề" đặc sắc hơn. Phản ứng tự nhiên và đầu tiên của chúng là đào những hang sâu, tránh xa nơi ẩm ướt. Hang được phủ và lót bằng các vật liệu khả dĩ đem lại sự nóng ấm như rơm, lá khô, và ngay cả lông thú vật. Chúng còn lo xa hơn nữa: trong hang là một kho dự trữ dồi dào thức ăn đủ loại mà chúng đã chịu khó thu nhặt và tích trữ từ lúc mùa hè, mùa nóng ấm và dễ săn mồi. Đây là trường hợp của loài thỏ rừng, loài chuột sống ở vùng tuyết phủ, loài chồn trắng và tất cả thú vật sống ở miền núi.
 
Loài gấu trắng sống ngay ở Bắc cực, vùng đất cực kỳ lạnh lẽo trên địa cầu, vào mùa đông, toàn thể mặt đất phủ một lớp nước đá trắng xóa. Chúng đào một cái lỗ xuyên qua nước đá rồi thu mình trong cái hang nhỏ đó. Tất nhiên, cạnh chỗ ở tương đối ấm hơn mặt đất cũng có vài tiện nghi và là nơi chứa đầy ăm ắp thức ăn thịnh soạn béo bổ. Thỉnh thoảng, nó trở dậy, ăn một ít, bài tiết rồi tiếp tục giấc đông miên. Kiên nhẫn cho qua hết mùa đông.
 
Ngoài những phương cách trên thú vật còn được thiên nhiên ban cho một vài "tiểu xảo". Những thú vật ở ngay những vùng có khí hậu ấm áp cũng có sự thay đổi nhỏ về bộ lông. Mùa đông, lông bao giờ cũng dài và rậm rạp hơn mùa hè. Ở miền địa cực, dưới khí hậu lạnh lẽo của mùa đông, bộ lông thú vật không những chỉ dầy thêm mà màu lông có thể thay đổi nữa. Con chồn trắng hay con thỏ rừng, mùa hè có bộ lông màu nâu đỏ, đến mùa đông lông đổi màu trắng muốt. Bộ lông của chồn trắng là một trang phục đắt tiền và sang trọng của quý cô, quý bà. Khoác bên ngoài bằng chiếc áo choàng lông con vật nầy là niềm hãnh diện và sung sướng!
 
Sự thay đổi màu lông tùy theo mùa cũng giúp ích rất nhiều cho con vật. Màu sắc của cơ thể lại giống với màu của môi trường như chiếc áo rằn của chiến sĩ giống với màu xanh rừng núi giúp nó trốn tránh kẻ thù dễ dàng. Ngược lại, chúng khó bị phát giác khi săn mồi, con mồi sẽ lầm lẫn và không nhận ra chúng nên "làm ăn" khá hơn.
 
Một hiện tượng khác cũng rất lý thú. Ở thú vật có vú, chúng phải hoàn tất sự sinh sàn và con cái phải lớn đủ sức và khỏe mạnh để đối đầu với những khó khăn khi mùa đông sắp đến. Đây cũng là một sự tương quan giữa thú vật và sự che chở của thiên nhiên.
 
Các bạn đã thấy, thú vật tự nó có đủ cách để sinh tồn, luôn luôn tranh đấu với ngoại cảnh mà không cần một sự trợ lực nào khác. Tuy thiếu thốn và khó khăn nhưng bù lại chúng có một sự tự do tuyệt đối. Bạn đừng đem lại sự đầy đủ và tiện nghi cho chúng kèm theo một vòng rào.
 
 
Phú Thơ
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 2, ra ngày 22-8-1971)
 

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Gà Tây, Con Vật Đần Độn Nhất

Nếu đã đọc qua tác phẩm "O Chuột" của Tô Hoài, các bạn thấy mụ ngan ngờ nghệch, dốt nát thế nào thì gà tây cũng ngây ngô chẳng kém mà còn có phần ngu si hơn là đằng khác.
 
Theo lời một nhà nuôi súc vật thì thịt gà tây tuy ngon thật nhưng chăm sóc chúng quả thực vất vả vô cùng. Trông dáng vẻ bề ngoài oai phong lẫm liệt như vậy mà chẳng hiểu tại sao chúng lại kém thông minh hơn cả đàn gà, vịt, ngan, ngỗng mới lạ chứ.
 
Thật vậy, gà tây luôn luôn làm những điều trái ngược với ý định của người nuôi.
 
Này nhé, theo lệ thường, sáng nào cũng vậy, người ta vãi ngô gạo cho bọn gia súc thì những con gà tây con cũng xô tới. Chúng tới không phải để ăn mà đứng nhìn rồi ghé sát mắt xuống xem cái gì be bé lại vàng vàng, trắng trắng mà "thiên hạ" tranh nhau một cách kỳ cục vậy. Thấy những con kia ăn, chúng cũng mổ mổ cho hạt ngô văng lên đoạn bổ chạy lại góc vườn. Vì thế, chúng tọp hẳn đi, chẳng bao lâu chúng chết dần chết mòn. Đã vậy, gà tây con lại thường chết khát mới bực chứ. Trong chuồng luôn luôn có hai cái máng: một đựng thức ăn, một đựng đầy nước. Chúng bước tới, dòm ngó mà không uống. Hình như chúng không biết thức ăn và nước kia dùng làm gì nữa. Phải đợi tới khi người ta vạch mỏ ra, tọng từng nắm thức ăn như người ta nhét tỏi hoặc ớt cho những con "gà rù" sắp "toi" và đổ từng thìa nước vào rồi dìm xuống nước nhiều lần trong nhiều ngày liên tiếp chúng mới biết ăn, uống. Thật là cái giống đần độn hết chỗ nói, phải không bạn?
 
Cũng may là chỉ những con gà tây con mới khiến người ta vất vả chứ lớn mà còn như vậy chắc chẳng ai thèm nuôi làm chi cho mệt. Thế nhưng có lẽ cái giống này đã ngu độn từ bé nên dù có lớn lên chăng nữa chúng cũng chỉ khôn hơn tí ti mà thôi.
 
Gặp lúc mưa to, gió lớn, trong khi bầy gà chạy đi tìm chỗ trú thì chúng cứ đứng ngây ra giữa sân nhìn vịt, ngan thích thú rỉa lông, rỉa cánh, thành thử chúng bị nhiễm lạnh rét run lên suýt chết cóng.
 
Nhiều khi chúng lang thang ngoài sân, ngoài vườn hễ gặp vật gì lóng lánh chẳng hạn như đồng bạc, mảnh thủy tinh, hòn sỏi hay dài dài như miếng giẻ rách là chúng hì hục tìm cách ăn cho được. Bởi vậy, người ta từng thấy các con chết ngạt vì cố nuốt miếng giẻ.
 
Ngoài ra chúng thường sợ những cái gì đâu đâu, một mẩu giấy bị gió cuốn tung bay, một chiếc lá rơi gần đó hay khi máy bay sà qua cũng đủ làm cho chúng cuống quýt, chen nhau dúi vào hàng rào đến nỗi có con bị đè bẹp. Thế nhưng khi chồn hoặc cáo mò vào chuồng bắt một con để ăn thịt thì chúng lại tỉnh bơ ngắm nhìn đồng bọn gặp nạn mà chúng không kêu lên như loại gà thường. Chưa hết, ai muốn bắt cũng được, chúng không biết chạy trốn hay phản ứng thích hợp bao giờ.
 
Hầu như gà tây không nhớ tới những hành động vừa làm và cũng không sử dụng khả năng sẵn có của chúng. Một bữa nọ, thấy có vật gì bên ngoài hàng rào, chúng hè nhau tìm cách ra tận nơi xem. Hàng rào thì cao, chúng phải bay qua. Sau đó, chúng cứ trèo lên, tụt xuống mãi chán lại chui rúc vào hàng rào mà không biết bay qua để về như lúc ra. Nếu người ta không ra dẫn về chắc chúng còn loay hoay mãi. Thật là cả lũ ngớ ngẩn.
 
Hơn nữa, chúng còn gây nhiều chuyện bực mình hết sức. Thấy cáo chồn hay bắt chúng ăn thịt người ta làm hàng rào cao hơn, trên mỗi cột có đặt sẵn một cái bẫy. Có lẽ thấy là lạ, chúng bay lên, chui vào làm bẫy sập tùm lum, hại chủ trại phải bắc thang lên lôi ra từng con một. Rõ chán!
 
 
ĐẶNG HOÀNG                
(phỏng theo READER'S DIGEST)    
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 22, ra ngày 9-1-1972) 
 

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Mười Hai Tháng Đợi Xuân


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng ba đã hết tết
Trời chuyển gió sang nồm
Cánh đồng chưa gieo hạt
Bên thềm hương ngâu thơm

Tháng tư trời im gió
Róc rách giếng nước trong
Hoa bằng lăng biêng biếc
Nhỏ nghe lòng bâng khuâng 

Tháng năm hoa phượng đỏ
Duyên dáng in khung trời
Chiều chiều triền đê vắng
Bao cánh diều chơi vơi 

Hè về đây tháng sáu
Vui nhất đàn bé thơ
Vườn cây muôn trái chín
Yêu mùa hè êm mơ

Tháng tám ngắm trăng thanh
Trung thu đến yên lành
Trống múa lân rộn rã
Lồng đèn tím vàng xanh

Tháng mười một cuối thu
Chiều sương khói mịt mù
Quét lá vàng tan tác
Lặng lẽ dáng người phu

Tháng mười hai đông đến
Nhấp nháy triệu ánh đèn
Tưng bừng hồi chuông đổ
Đón mừng đêm Noël

Tim tím nhánh hoa soan
Mẹ may áo Nhỏ hồng
Đêm giao thừa đi lễ
Mười hai tháng đợi xuân...

                 Trần Thị Phương Lan 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Lỡ Yêu Màu Hoa Tím




 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lỡ yêu màu hoa tím
Trên những mái tranh chiều
Màu hoa tím thương yêu
Chiều về trên ngàn lối

Lỡ yêu màu hoa tím
Tím tím cả giòng sông
Trong gió chiều mênh mông 
Cánh cò bay lơi lả

Lỡ yêu màu hoa tím
Trên đụn cát hoang vụ
Hoàng hôn xuống âm u
Văng vẳng bầy ếch nhái

Lỡ yêu màu hoa tím
Man mác ngoài giậu thưa
Tiếng hò thoáng xa đưa
Ráng chiều vàng hoang dại

Lỡ yêu màu hoa tím
Trên giàn hoa mộng mơ 
Ngày cùng nhau thẩn thơ
Ép hoa vào tập vở

Lỡ yêu màu hoa tím
Ép trang giấy học trò
Nắn nót chữ dại khờ
Về đâu ngày xanh ấy...

                              Thơ Thơ
                    (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Hôm Qua


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hôm qua giọt nắng mới ru lòng
Người về không thấy lối bâng khuâng
Dư hương tìm đến mùa trăng cũ
Chân cũng xa xôi bao ước mong

Hôm qua cây gọi lá về rừng
Phút giây trầm mặc đến rưng rưng
Ngày trôi không vỡ bình yên cũ
Mà buổi mưa sang rất lạnh lùng

Hôm qua nghiêng ngọn gió se buồn
Hiu hắt trong hồn người muôn phương
Lối đường đâu có dài hoa cỏ
Mây trôi trên ấy rất bình thường

Hôm qua chiều rung lá vàng khô
Nửa cánh thơ bay khẽ hững hờ
Ru em trăm vẻ sầu bỡ ngỡ
Người quên chân bước lạc lối mờ

                                        đỗ thị hồng liên
                                            (banmé 71)

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 15, ra ngày 5-12-1971)

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Con Dế


Có thể nói tới chín phần mười sinh vật đều thuộc loại côn trùng nhưng trong thế giới nhỏ bé của chúng, với biết bao màu sắc cùng âm thanh dị biệt, chỉ có tiếng "gáy" êm đềm gần như triền miên bất tận giữa đêm khuya thường làm say mê mọi giới từ trẻ em cho tới người lớn: đó là con dế.
 
Dế cùng họ với cào cào, châu chấu, bọ ngựa... nhưng đầu to, cánh cứng và xếp chồng lên nhau. Chúng sống rải rác khắp nơi, từ những vùng đất bỏ hoang, yên tĩnh như đầm lầy, đồng cỏ, các điểm tối âm u tới góc vườn, khe củi, đống rơm, và nhất là ẩn núp dưới các mảnh ván, tảng đá, bao cát, cùng những vật rỗng như lỗ hổng trong hòn gạch, ống bơ... Nhưng nơi thích hợp với chúng hơn chính là các bụi cỏ ngoài vườn.
 
Người ta phân ra một ngàn rưỡi loại dế to nhỏ khác nhau tùy theo màu sắc và hình thể: dế cơm, dế lửa, dế chó, dế than, dế chũi, dế mèn, dế đất v.v... Con bé hơn cả vào khoảng một phân, lớn nhất chừng sáu, bẩy phân. 
 
Ở Việt Nam, trẻ em bắt đầu chơi dế từ lúc khởi sự mùa mưa. Ngay khi có gió mùa, những người chuyên bắt dế gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em sục sạo vào những vùng đất cỏ mọc rậm rạp để chộp dế đoạn bỏ vào thùng sắt tây, rọ hay chuồng bằng gỗ có lưới vây kín đem về bán cho khách hàng. Cũng có khi họ nuôi dế bằng cách trải rơm ra góc sân, góc vườn rồi chờ một thời gian nào đó là lật lên bắt dế, vì chúng thích trú ngụ nơi này.
 
Điều nên biết là muốn bán được giá, dế phải là những con biết "gáy" và nhất là biết "đá". Trẻ em thường cố dành tiền để mua những con dế này về nuôi trong những hộp, lồng vì say mê "tài nghệ sĩ và vẻ anh hùng" của dế. Các em bỏ đất, cát vào cho dế chui rúc, đồng thời kiếm ít cỏ rắc lên trên, hay rau riếp cắt vụn trộn lẫn cơm hoặc gạo cho dế ăn. Có người cầu kỳ hơn vẩy lên cỏ vài giọt mật để dế giữ được hùng khí khi giao đấu.
 
Vì dế vô hại nên trẻ em rất khoái chơi dế, bởi vậy nhiều khi người lớn đi đâu về lại mua làm quà cho con mấy chú dế "để chúng khỏi đi coi của những người khác rồi cãi nhau mệt lắm".
 
Điểm đặc biệt là chỉ có dế đực mới "gáy" mà thôi. Dế cái, dế con chưa có cánh không thể nào gáy được. Tại sao vậy?
 
Người ta quen gọi là dế gáy, chứ thực tình, những âm thanh nghe thấy không phải ở mồm dế phát ra đâu. Chính những hàng răng cưa nhỏ xíu từ năm chục tới hai trăm năm mươi sáu cái ở phía dưới cạnh cánh trước mới quan trọng. Tùy vào sự rung mạnh hay yếu của cánh, chúng ta có tiếng trầm, bổng. Trung bình, cánh của dế đực có thể rung theo chu kỳ từ một ngàn rưỡi tới một vạn lần trong một phút. Nhờ sự rung chuyển này tạo ra những chấn động đập mạnh vào không khí và lớp cánh mỏng qua hàng răng cưa nói trên gây nên những tiếng kêu đặc biệt. Cơ quan này được tạo hóa dành cho dế đực mà thôi, vì mỗi khi nó gáy chính là lúc nó mời gọi dế cái đấy, nhưng gọi mãi chẳng thấy gì thành thử nó cứ kêu thâu đêm tới sáng.
 
Làm thấy nào phân biệt dế cái và dế đực?
 
Dế đực thường to con, trên đầu chỗ gần cánh có khoanh vàng và nhất là cánh của nó thường lăn quăn chứ không thẳng mướt như dế cái. Ngoài ra dế đực có hai đuôi nhỏ mọc hai bên trong khi dế cái có ba đuôi.
 
Theo lời các bậc lão thành thì con dế chính là "hàn thử biểu sống" rất chính xác. Nếu tiếng kêu của nó trong sáng thì khí hậu ấm áp dễ chịu, ngược lại khi trầm đục thì trời sẽ oi ả. Ở Hoa Kỳ, người ta cũng dựa vào dế để ước đoán thời tiết.
 
Ngoài những lúc nghe dế "gáy", trẻ em còn cho chúng đấu nhau.
 
Hai con dế đực (cố nhiên) được đưa ra giữa khoảng trống hạn chế. Chúng bị chọc tức để đánh nhau.
 
Thoạt đầu, các em cầm râu chúng quay quay vài vòng cho chúng choáng váng xong bỏ xuống. Đang lúc ngất mà lại gặp địch thủ thế là chúng xáp vào nhau đá túi bụi. Nếu bất phân thắng bại, nghĩa là cả hai cùng bỏ cuộc thì mấy "ông chủ tí hon" sẽ dùng một sợi tóc hay cọng rơm ngoáy vào chân hay mình con vật khiến chúng ngứa ngày, hăng tiết vịt, nhẩy xổ vào con kia cắn loạn xạ. Trong cuộc chiến, chúng thường dùng càng đầy gai sắc để đá những cú vũ bão. Chúng say mê (ngay cả người chứng kiến cũng say mê nốt) choảng nhau như vậy mãi cho tới khi một con bỏ chạy hay bị chết mới thôi.
 
Đá dế cũng là một trong những thú giải trí của người Á Đông từ xa xưa. Trong những cuộc đấu như vậy, nhiều người cá những số tiền rất lớn căn cứ vào thái độ hung hăng và khả năng đá của dế, vì có con nhẩy lên thật cao, đồng thời đá cho địch thủ những đòn chí mạng trong một khoảng cách vừa tầm.
 
Ở nhà quê, người ta hay bắt dế, cào cào, châu chấu để chiên lên ăn. Điều đó chẳng có gì là lạ, vì tại Hoa Kỳ, các bạn có thể mua một hộp xúc cù là bao bọc bên trong một con ong hay kiến làm tại Thụy Sĩ, kẹo cào cào của Nhật Bản, hoặc kẹo sâu chiên nhập cảng từ Mễ Tây Cơ.
 
Trở lại chuyện dế, mùa dế ở Việt Nam kéo dài trong ba tháng: tháng Năm, tháng Sáu và tháng Bẩy nhưng cũng tùy theo mưa sớm hay trễ.
 
Trong những ngày trước mùa mưa, dế cái rất bận rộn đẻ trứng. Những trứng này trải qua mấy tháng trời sẽ trở thành ấu trùng rồi biến ra kén (tức là sắp thành dế con). Tùy theo loại dế, những kén sẽ nở sớm muộn rồi trưởng thành để tiếp tục "gáy", sinh sản và chết.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
(Sưu tầm)       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 21, ra ngày 2-1-1972)
 

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Tuổi Ươm Mơ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Em đi qua trong lần thay áo mới
Nắng trên cành rơi rụng xuống bàn chân
Đường xa xôi mà tôi cứ ngỡ gần
Cho xao xuyến dài theo đầu ngọn cỏ
 
Gió rất nhẹ như mấy tầng mây đổ
Sương êm đềm như từ thuở mộng mơ 
Qua mất rồi những ngày tháng còn thơ
Hồn se sắt nhớ thương vừa xanh ngát
 
Em áo lụa trong chiều thơm ngào ngạt
Tôi lén nhìn vơi một chút bâng khuâng
Tình vu vơ trải rộng dưới con đường
Bóng râm mát cửa nhà em để ngỏ
 
Cánh chim ngủ suốt mùa đông bão tố
Líu lo mừng nắng nhạt gió xanh tươi
Giọt tình trong như từng phiến tơ trời
Và ngọt lịm như mắt nhìn khẽ chớp
 
Tôi sẽ nhớ mây mù qua cửa lớp
Cũng là lần em nhẹ bước mênh mông
Mưa lưa thưa vương vấn đến rtong lòng
Hồn một thoáng nghe chừng như mộng ảo
 
Mùa thu say mùa thu sầu vạn thuở
Tôi cũng buồn vơ vẩn với heo may
Nắng vừa xanh khi tình chớm trang đài
Gió rất sẽ ngọt ngào hương thơ dại
 
Đường buổi sáng êm đềm hoa cỏ dại
Em có về với thương nhớ đầy vơi
Tôi vừa nghe chim nhỏ líu lo mời
Mây buông thả trời xanh màu mơ ước
 
                                                 TRÀ GIANG
                                                         (thu 71)
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 18, ra ngày 20-1-1972)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>