Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Mười Hai Tháng Đợi Xuân


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng ba đã hết tết
Trời chuyển gió sang nồm
Cánh đồng chưa gieo hạt
Bên thềm hương ngâu thơm

Tháng tư trời im gió
Róc rách giếng nước trong
Hoa bằng lăng biêng biếc
Nhỏ nghe lòng bâng khuâng 

Tháng năm hoa phượng đỏ
Duyên dáng in khung trời
Chiều chiều triền đê vắng
Bao cánh diều chơi vơi 

Hè về đây tháng sáu
Vui nhất đàn bé thơ
Vườn cây muôn trái chín
Yêu mùa hè êm mơ

Tháng tám ngắm trăng thanh
Trung thu đến yên lành
Trống múa lân rộn rã
Lồng đèn tím vàng xanh

Tháng mười một cuối thu
Chiều sương khói mịt mù
Quét lá vàng tan tác
Lặng lẽ dáng người phu

Tháng mười hai đông đến
Nhấp nháy triệu ánh đèn
Tưng bừng hồi chuông đổ
Đón mừng đêm Noël

Tim tím nhánh hoa soan
Mẹ may áo Nhỏ hồng
Đêm giao thừa đi lễ
Mười hai tháng đợi xuân...

                 Trần Thị Phương Lan 
                   (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Lỡ Yêu Màu Hoa Tím




 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lỡ yêu màu hoa tím
Trên những mái tranh chiều
Màu hoa tím thương yêu
Chiều về trên ngàn lối

Lỡ yêu màu hoa tím
Tím tím cả giòng sông
Trong gió chiều mênh mông 
Cánh cò bay lơi lả

Lỡ yêu màu hoa tím
Trên đụn cát hoang vụ
Hoàng hôn xuống âm u
Văng vẳng bầy ếch nhái

Lỡ yêu màu hoa tím
Man mác ngoài giậu thưa
Tiếng hò thoáng xa đưa
Ráng chiều vàng hoang dại

Lỡ yêu màu hoa tím
Trên giàn hoa mộng mơ 
Ngày cùng nhau thẩn thơ
Ép hoa vào tập vở

Lỡ yêu màu hoa tím
Ép trang giấy học trò
Nắn nót chữ dại khờ
Về đâu ngày xanh ấy...

                              Thơ Thơ
                    (Bút nhóm Hoa Nắng)
 

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Hôm Qua


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hôm qua giọt nắng mới ru lòng
Người về không thấy lối bâng khuâng
Dư hương tìm đến mùa trăng cũ
Chân cũng xa xôi bao ước mong

Hôm qua cây gọi lá về rừng
Phút giây trầm mặc đến rưng rưng
Ngày trôi không vỡ bình yên cũ
Mà buổi mưa sang rất lạnh lùng

Hôm qua nghiêng ngọn gió se buồn
Hiu hắt trong hồn người muôn phương
Lối đường đâu có dài hoa cỏ
Mây trôi trên ấy rất bình thường

Hôm qua chiều rung lá vàng khô
Nửa cánh thơ bay khẽ hững hờ
Ru em trăm vẻ sầu bỡ ngỡ
Người quên chân bước lạc lối mờ

                                        đỗ thị hồng liên
                                            (banmé 71)

(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 15, ra ngày 5-12-1971)

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Con Dế


Có thể nói tới chín phần mười sinh vật đều thuộc loại côn trùng nhưng trong thế giới nhỏ bé của chúng, với biết bao màu sắc cùng âm thanh dị biệt, chỉ có tiếng "gáy" êm đềm gần như triền miên bất tận giữa đêm khuya thường làm say mê mọi giới từ trẻ em cho tới người lớn: đó là con dế.
 
Dế cùng họ với cào cào, châu chấu, bọ ngựa... nhưng đầu to, cánh cứng và xếp chồng lên nhau. Chúng sống rải rác khắp nơi, từ những vùng đất bỏ hoang, yên tĩnh như đầm lầy, đồng cỏ, các điểm tối âm u tới góc vườn, khe củi, đống rơm, và nhất là ẩn núp dưới các mảnh ván, tảng đá, bao cát, cùng những vật rỗng như lỗ hổng trong hòn gạch, ống bơ... Nhưng nơi thích hợp với chúng hơn chính là các bụi cỏ ngoài vườn.
 
Người ta phân ra một ngàn rưỡi loại dế to nhỏ khác nhau tùy theo màu sắc và hình thể: dế cơm, dế lửa, dế chó, dế than, dế chũi, dế mèn, dế đất v.v... Con bé hơn cả vào khoảng một phân, lớn nhất chừng sáu, bẩy phân. 
 
Ở Việt Nam, trẻ em bắt đầu chơi dế từ lúc khởi sự mùa mưa. Ngay khi có gió mùa, những người chuyên bắt dế gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em sục sạo vào những vùng đất cỏ mọc rậm rạp để chộp dế đoạn bỏ vào thùng sắt tây, rọ hay chuồng bằng gỗ có lưới vây kín đem về bán cho khách hàng. Cũng có khi họ nuôi dế bằng cách trải rơm ra góc sân, góc vườn rồi chờ một thời gian nào đó là lật lên bắt dế, vì chúng thích trú ngụ nơi này.
 
Điều nên biết là muốn bán được giá, dế phải là những con biết "gáy" và nhất là biết "đá". Trẻ em thường cố dành tiền để mua những con dế này về nuôi trong những hộp, lồng vì say mê "tài nghệ sĩ và vẻ anh hùng" của dế. Các em bỏ đất, cát vào cho dế chui rúc, đồng thời kiếm ít cỏ rắc lên trên, hay rau riếp cắt vụn trộn lẫn cơm hoặc gạo cho dế ăn. Có người cầu kỳ hơn vẩy lên cỏ vài giọt mật để dế giữ được hùng khí khi giao đấu.
 
Vì dế vô hại nên trẻ em rất khoái chơi dế, bởi vậy nhiều khi người lớn đi đâu về lại mua làm quà cho con mấy chú dế "để chúng khỏi đi coi của những người khác rồi cãi nhau mệt lắm".
 
Điểm đặc biệt là chỉ có dế đực mới "gáy" mà thôi. Dế cái, dế con chưa có cánh không thể nào gáy được. Tại sao vậy?
 
Người ta quen gọi là dế gáy, chứ thực tình, những âm thanh nghe thấy không phải ở mồm dế phát ra đâu. Chính những hàng răng cưa nhỏ xíu từ năm chục tới hai trăm năm mươi sáu cái ở phía dưới cạnh cánh trước mới quan trọng. Tùy vào sự rung mạnh hay yếu của cánh, chúng ta có tiếng trầm, bổng. Trung bình, cánh của dế đực có thể rung theo chu kỳ từ một ngàn rưỡi tới một vạn lần trong một phút. Nhờ sự rung chuyển này tạo ra những chấn động đập mạnh vào không khí và lớp cánh mỏng qua hàng răng cưa nói trên gây nên những tiếng kêu đặc biệt. Cơ quan này được tạo hóa dành cho dế đực mà thôi, vì mỗi khi nó gáy chính là lúc nó mời gọi dế cái đấy, nhưng gọi mãi chẳng thấy gì thành thử nó cứ kêu thâu đêm tới sáng.
 
Làm thấy nào phân biệt dế cái và dế đực?
 
Dế đực thường to con, trên đầu chỗ gần cánh có khoanh vàng và nhất là cánh của nó thường lăn quăn chứ không thẳng mướt như dế cái. Ngoài ra dế đực có hai đuôi nhỏ mọc hai bên trong khi dế cái có ba đuôi.
 
Theo lời các bậc lão thành thì con dế chính là "hàn thử biểu sống" rất chính xác. Nếu tiếng kêu của nó trong sáng thì khí hậu ấm áp dễ chịu, ngược lại khi trầm đục thì trời sẽ oi ả. Ở Hoa Kỳ, người ta cũng dựa vào dế để ước đoán thời tiết.
 
Ngoài những lúc nghe dế "gáy", trẻ em còn cho chúng đấu nhau.
 
Hai con dế đực (cố nhiên) được đưa ra giữa khoảng trống hạn chế. Chúng bị chọc tức để đánh nhau.
 
Thoạt đầu, các em cầm râu chúng quay quay vài vòng cho chúng choáng váng xong bỏ xuống. Đang lúc ngất mà lại gặp địch thủ thế là chúng xáp vào nhau đá túi bụi. Nếu bất phân thắng bại, nghĩa là cả hai cùng bỏ cuộc thì mấy "ông chủ tí hon" sẽ dùng một sợi tóc hay cọng rơm ngoáy vào chân hay mình con vật khiến chúng ngứa ngày, hăng tiết vịt, nhẩy xổ vào con kia cắn loạn xạ. Trong cuộc chiến, chúng thường dùng càng đầy gai sắc để đá những cú vũ bão. Chúng say mê (ngay cả người chứng kiến cũng say mê nốt) choảng nhau như vậy mãi cho tới khi một con bỏ chạy hay bị chết mới thôi.
 
Đá dế cũng là một trong những thú giải trí của người Á Đông từ xa xưa. Trong những cuộc đấu như vậy, nhiều người cá những số tiền rất lớn căn cứ vào thái độ hung hăng và khả năng đá của dế, vì có con nhẩy lên thật cao, đồng thời đá cho địch thủ những đòn chí mạng trong một khoảng cách vừa tầm.
 
Ở nhà quê, người ta hay bắt dế, cào cào, châu chấu để chiên lên ăn. Điều đó chẳng có gì là lạ, vì tại Hoa Kỳ, các bạn có thể mua một hộp xúc cù là bao bọc bên trong một con ong hay kiến làm tại Thụy Sĩ, kẹo cào cào của Nhật Bản, hoặc kẹo sâu chiên nhập cảng từ Mễ Tây Cơ.
 
Trở lại chuyện dế, mùa dế ở Việt Nam kéo dài trong ba tháng: tháng Năm, tháng Sáu và tháng Bẩy nhưng cũng tùy theo mưa sớm hay trễ.
 
Trong những ngày trước mùa mưa, dế cái rất bận rộn đẻ trứng. Những trứng này trải qua mấy tháng trời sẽ trở thành ấu trùng rồi biến ra kén (tức là sắp thành dế con). Tùy theo loại dế, những kén sẽ nở sớm muộn rồi trưởng thành để tiếp tục "gáy", sinh sản và chết.
 
 
ĐẶNG HOÀNG      
(Sưu tầm)       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 21, ra ngày 2-1-1972)
 

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Tuổi Ươm Mơ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Em đi qua trong lần thay áo mới
Nắng trên cành rơi rụng xuống bàn chân
Đường xa xôi mà tôi cứ ngỡ gần
Cho xao xuyến dài theo đầu ngọn cỏ
 
Gió rất nhẹ như mấy tầng mây đổ
Sương êm đềm như từ thuở mộng mơ 
Qua mất rồi những ngày tháng còn thơ
Hồn se sắt nhớ thương vừa xanh ngát
 
Em áo lụa trong chiều thơm ngào ngạt
Tôi lén nhìn vơi một chút bâng khuâng
Tình vu vơ trải rộng dưới con đường
Bóng râm mát cửa nhà em để ngỏ
 
Cánh chim ngủ suốt mùa đông bão tố
Líu lo mừng nắng nhạt gió xanh tươi
Giọt tình trong như từng phiến tơ trời
Và ngọt lịm như mắt nhìn khẽ chớp
 
Tôi sẽ nhớ mây mù qua cửa lớp
Cũng là lần em nhẹ bước mênh mông
Mưa lưa thưa vương vấn đến rtong lòng
Hồn một thoáng nghe chừng như mộng ảo
 
Mùa thu say mùa thu sầu vạn thuở
Tôi cũng buồn vơ vẩn với heo may
Nắng vừa xanh khi tình chớm trang đài
Gió rất sẽ ngọt ngào hương thơ dại
 
Đường buổi sáng êm đềm hoa cỏ dại
Em có về với thương nhớ đầy vơi
Tôi vừa nghe chim nhỏ líu lo mời
Mây buông thả trời xanh màu mơ ước
 
                                                 TRÀ GIANG
                                                         (thu 71)
 
(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 18, ra ngày 20-1-1972)
 

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

Con Hà Mã


Vì có những điểm liên quan mật thiết với lừa, ngựa, mặc dù sống cả trên cạn lẫn dưới nước, nhưng dáng vẻ y hệt loài lợn (heo) nên con thú rừng hiền lành, nhút nhát này được hân hạnh mang tới hai tên. Hà Mã hoặc Lợn Nước ; và cũng bởi gần giống như lợn thành thử chúng xấu cay xấu đắng, xấu đến độ thua cả tê giác nữa mới buồn chứ.
 
Da dẻ nhẵn thín mang mầu nâu xám, hà mã cao khoảng thước bẩy, thước tám, dài quãng bốn thước với "vòng bụng" hơn ba thước xệ xuống gần sát đất, nặng cỡ ba, bốn tấn, chân tròn lại to gồm những móng tầy như voi nhưng ngắn hơn, nghĩa là chưa bằng một phần ba chiều cao nên lùn tịt, trông chẳng khác gì thân cây biết di động đó đây mỗi khi chúng lùi lũi xuất hiện bên dòng suối, hồ, ao, đầm lầy. Hình thù đã thô kệch, hà mã còn khó thương ở chiếc đầu vừa to vừa dầy cộm còn gãy gập kiểu lười cày kèm theo cặp mắt bé tí teo trong hốc xương lồi lên thô lố gần đôi tai nhỏ dựng đứng hình phễu ; nhất là hai lỗ mũi tựa mũi trâu nhưng hẹp hơn, ngay tại phần chót mõm nở lớn rồi gồ cao chẳng khác gì vành thúy. Đã vậy, hai má hà mã bạnh ra che kín cả cổ lẫn ngực. Đầu và thân đồ sộ quá cỡ như thế, riêng chiếc đuôi của chúng chỉ có một khúc, cụt lủn trang điểm bởi chùm lông ngắn trông vô duyên tệ. Hà mã quả đúng là con vật "trời bắt xấu" phải không bạn?
 
Thường sống thành từng bầy do một con già làm thủ lãnh, nhiệm vụ hướng dẫn cùng cai quản vào khoảng hai tới bốn chục đàn em, hà mã suốt ngày ở dưới nước. Chúng bơi rất giỏi và lặn tài tình chẳng kém. Nhiều khi chúng "ngao du" dưới lòng sông hàng nửa giờ, nhờ tai và mũi được những cơ quan riêng tự động bít kín sau đó mới ngoi lên để thở rồi phun nước tùm lum.
 
Giống hệt cá sấu, bình thường hà mã dầm mình cho ngập tới cổ ; trừ chiếc đầu nhô khỏi mặt nước tìm kiếm các loại thủy thảo như bèo, rong v.v... là thức ăn chính yếu. Vì quá đông đảo, nhiều khi chúng phải bơi xa tới chín mười dặm khỏi vùng cư trú mới đủ no. Quanh quẩn trọn ngày giữa các ao hồ, đầm lầy chán chê mãi cho đến chiều tối hà mã mới lục tục kéo nhau lên bờ nghỉ ngơi, hoặc ăn cỏ và các thứ cây mềm dọc đường trở về chốn cũ. Nhiều người nghĩ rằng vốn dĩ mập mạp chúng không chịu nổi ánh nắng gay gắt, khó chịu ban ngày nên cứ phải "tắm táp" luôn luôn cho khỏi oi bức, tới khi khí lạnh hoàng hôn phủ xuống vạn vật thì thôi, không hiểu có đúng như vậy không?
 
Điểm đặc biệt khó thấy nơi những con vật bốn chân chuyên ăn cỏ là hà mã cái có thể sinh con trong lúc đang lặn sâu dưới nước, cũng như vừa bơi vừa cho con bú. Ra khỏi lòng mẹ, hà mã con nặng non một tấn và bơi được ngay, rồi sau đó mới biết đi.
 
Thợ săn hoặc thổ dân nơi chúng sinh sống là kẻ thù duy nhất đối với hà mã. Mỗi khi gặp họ, chúng đều lẩn trốn để khỏi bị sát hại. Chỉ những lúc nguy biến, lo sợ, tức giận hay đau đớn, toàn thân hà mã mới tiết ra một loại mồ hôi đỏ như máu nhưng không phải là máu. Thấy vậy, đối thủ của chúng phải cẩn thận, không thì mất mạng như chơi. Dù hiền lành, nhút nhát thật đấy, nhưng khi bị vây khốn hà mã tỏ ra hung dữ vô cùng, chúng há hốc mồm đỏ chót, chìa sáu răng nanh nhọn hoắt, cùng hai chiếc ngà mọc dài theo hàm cứng bên dưới ra đe dọa. Nếu cùng quá, hà mã liều chết mở đường chạy trốn bằng cách phóng lên bờ nhằm vào một đối thủ để tấn công. Nhà thám hiểm Samuel Baker từng chứng kiến cảnh đoàn người ù té bỏ chạy trối chết vì bị hà mã rượt theo sát nút, vì có biết đâu con vật thân hình đồ sộ như hà mã lại dư khả năng chạy nhanh với tốc độ ba chục dặm một giờ. Chắc chắn bất cứ kẻ nào lờ đờ, chậm chạp sẽ không thoát khỏi bị hà mã cắn chết nếu chẳng may gặp chúng bất ngờ. Bởi vậy, để tránh nguy hiểm thợ săn thường giăng bẫy nếu muốn bắt sống để bán cho các vườn bách thú. Với thổ dân Phi Châu và Ấn Độ họ dùng cung, tên, lao, giáo tẩm thuốc độc bắn hà mã từ xa chứ ít dám lại gần.
 
Hà mã bị giết hại chỉ vì bộ da rất dầy - dầy gần một phân - dùng để bao bọc mộc, khiên, còn thịt dành làm thức ăn, riêng cặp ngà quý hơn cả ngà voi, được chế biến thành đồ trang sức.
 
Hiện nay loài này cũng được bảo vệ rất gắt.
 
 
ĐẶNG HOÀNG        
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 73, ra ngày 14-1-1973) 
 

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

Phục Thù


Hôm ấy, đến giờ toán. Thầy gọi bốn người lên bảng và đọc đầu đề. Thầy có lối dạy rất đặc biệt là cho bốn người, hai trai, hai gái đứng cách khoảng nhau mà làm. Và cứ hai người về nhất thì được nhéo tai hai người còn lại. Do đó học sinh rất hăng hái học tập và ganh  đua để được cái hân hạnh nhéo tai đối thủ.
 
Trong bốn người lên bảng hôm đó gồm có tôi, Dũng và hai cô kẹp tóc. Vì mải mê với "Anh hùng xạ điêu" nên tôi làm không được bài toán thầy ra và kết quả là tôi bị nhỏ kẹp tóc xoắn một cái vào lỗ tai đau điếng. Mặt nhỏ vênh vênh tự đắc mỉm cười khi nhéo tai tôi xong. Lúc đó, tôi "quê một cục". Giận tím ruột mà chẳng làm gì được. Và tôi hẹn với lòng là sẽ trả mối thù này. Con trai bị con gái nhéo tai nhục quá! Cũng may lúc đó Dũng cũng được  nhéo tai một nhỏ gỡ gạc phần nào (?) Nhưng riêng tôi thì sùng lắm.
 
Bắt đầu từ tối hôm sau, tôi dẹp "Anh hùng xạ điêu" qua một bên, tôi lôi tất cả các sách toán ra làm. Bài nào không hiểu tôi nhờ anh tôi giảng, và mong có ngày phục hận.
 
Nhưng mỗi lần tôi được thầy kêu lên bảng thì tôi không gặp "cựu thù". Nhưng tôi cũng cố gắng làm cho nhanh để được nhéo tai đối thủ.
 
Kể từ ngày tôi bị nhéo tai cho đến một hôm tôi ngồi kiểm điểm lại thì thấy mình đã nhéo tai được hơn mười người. Nhưng không có "kẻ thù" trong danh sách. Tôi tức lắm và lý do đó làm tôi cố gắng miệt mài với cuốn toán pháp dày cộm.
 
"Nước chảy đá mòn". Việc gì đến cũng phải đến và tôi đã gặp lại "cựu thù". Nhìn con nhỏ trên bảng mà "lửa thù" của tôi sôi lên đến ngàn độ. Khi thầy vừa đọc dứt đầu đề là tôi hý hoáy làm ngay. Không biết tại sao lúc đó tôi làm lẹ vô cùng, cả lớp nhìn tôi kinh ngạc. Hôm đó con nhỏ kẹp tóc lại về chót. Tôi thắc mắc: "Tại sao nó học giỏi thế kia mà về chót nhỉ? Kệ, mình cứ nhéo tai đã". Khi được thầy ra lệnh nhéo tai, tôi hùng hổ lại xoắn một cái thật mạnh vào tai cô bé khiến cô ta la lên "Ui da" thật lớn. Lúc đó cả lớp cười như ong vỡ tổ. Nhìn kỹ đôi mắt của cô bé tôi thấy hai hàng lệ lăn dài xuống má. Và tay phải của cô bé mang một băng tang. Nhưng tôi vẫn mặc kệ và về chỗ cũ. Cô bé về chỗ mình mà gục mặt xuống bàn nức nở. Lúc đó thầy rầy "Sao trò nhéo "nhẹ" thế". Cả lớp lại cười.
 
Về chỗ, tôi hỏi Dũng là người cạnh nhà của nhỏ kẹp tóc:
 
- Ê Dũng! Nhỏ ấy tên gì, tại sao cô bé lại mang băng tang?
 
- Nó tên Dạ Lan, tội nghiệp, ba nó chết vì trận An Lộc vừa rồi.
 
Một niềm hối hận dâng lên trong người tôi: "Thì ra Dạ Lan có tang mới quên học bài chứ thường ngày cô bé học chăm lắm cơ mà. Mình hối hận quá. Làm sao bây giờ?" Ý nghĩ đó làm tôi coi buổi học hôm đó dài thật dài và tôi quyết định xin lỗi cô bé.
 
Chuông tan học vừa reo. Theo thường lệ nữ sinh về trước nam sinh. Khi tôi ra khỏi cổng thì Dạ Lan đã đi cách tôi hơn mười gốc cây cổ thụ. Niềm hối hận miên man, tôi đi như chạy, cổ họng tôi khô lại. Mùi thơm của hoa cúc cũng chưa xóa tan niềm hối hận của tôi. Và tôi đã bắt kịp Dạ Lan. Tôi nhỏ nhẹ:
 
- Dạ Lan ơi! Cho tôi nói cái này...
 
- Không có Lan gì hết á. Nhéo người ta đau thấy mồ.
 
- Tôi đâu có biết, vì nhà Dạ Lan có tang nên Dạ Lan quên học bài, chứ đáng lẽ ra Dạ Lan nhéo tai tôi mới phải.
 
- Thế sao anh nhéo tôi sao lại mạnh thế?
 
Tôi liền thuật lại mối thù của cho tôi Dạ Lan nghe và kết luận:
 
- Tôi có lỗi với Dạ Lan nhiều lắm, xin Dạ Lan thứ lỗi cho tôi.
 
- Không có thứ tha gì hết. Không ngờ một chuyện quá nhỏ nhặt như thế mà anh để tâm thù oán.
 
- Tôi đã nói hết lời mà Dạ Lan không nghe. Thôi thì Dạ Lan nhéo tai tôi đi. Tôi chịu nè.
 
- Nói vậy chớ tôi không nhéo tai anh đâu. Thôi tôi bỏ qua hết đó. Nhưng nhớ từ nay đừng để tâm đến vụ đó nghe. À mà anh tên gì? Tôi nghe mang máng anh tên Long phải không? Mà họ gì?
 
- Tôi tên Nguyễn Phước Dũng Long. À có hàng xí muội kìa. Nhân dịp này tôi xin đãi Dạ Lan một chầu để tạ tội.
 
- Cũng được, chúng ta đi.
 
Xa xa, mặt trời đã lên cao. Mọi vật như đón mừng niềm vui của tôi.
 
 
THẢO CÒM       
 
(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 73, ra ngày 14-1-1973) 
 

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Sương Tím

Tranh minh họa: Nguyễn Khắc Tài

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nẻo về sương xuống chiều nay
Xa xa trời tím chân mây hôn hoàng
Gió chiều hiu hắt lang thang
Gió lay lắt đỉnh cây ngàn lá xanh
 
Thuyền ai neo đậu bến đình
Như chờ đợi gót lênh đênh giang đầu
Sông buồn nước biếc trôi mau
Sóng cuồn cuộn cuốn về đâu trong chiều
 
Ráng hoàng hôn nhuộm đìu hiu
Đường quanh co tím tiêu điều sương giăng
Cánh diều phất phới xa gần
Chim chiều không tổ, buồn dâng ngập hồn
 
Bóng dừa rũ tóc cô thôn
Dáng chiều lướt thướt đầu non não nề
Màn sương giăng tím nẻo quê
Ánh đèn vàng vọt lối về bơ vơ

                                              Thơ Thơ 
                                   (Bút nhóm Hoa Nắng)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>