Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Chiến Thắng Trong Phòng Khách

 Trần tướng công sắp chết. Món ám khí mà Lâm Hổ tên cướp rừng khét tiếng dùng thật là lợi hại: nó đã xuyên thủng Hộ kính tâm, đâm thẳng vào cuống tim Ngài ; những chỗ món ám khi xuyên qua, thịt, da, xương rã ra như bột, mầu xám như tro. Thật là một thứ khí giới ghê gớm, lạ lùng, đáng sợ, một thứ khí giới mà không ai hiểu hắn đã chế biến cách nào, với vật liệu gì.

Vậy mà Ngài chẳng hề tỏ vẻ bận tâm về tính mệnh Ngài. Điều Ngài canh cánh bên lòng là: Ngài chết đi thì quân của Lâm Hổ càng được dịp khinh thường quân sĩ triều đình. Nằm lặng trên giường bệnh, Ngài suy nghĩ cách nào để giấu kín cái chết của mình mà Ngài biết rằng sắp đến. Vả chăng, Ngài còn tiên đoán rằng nếu quân sĩ hay tin dữ này, chắc chắn họ sẽ ngã lòng hơn.

Vị phó tướng họ Lê, và người vệ sĩ đồng tính với Trần tướng quân đều một lòng nài nỉ xin được gấp băng rừng về kinh đô rước quan Ngự Y của Hoàng Đế đến để tìm phương cứu cấp cho Ngài, song Trần tướng quân lắc đầu, một mực từ chối, mà rằng:

- Vô ích, ta biết mệnh ta. Ta không còn sống lâu đâu. Không khéo, trong lúc hai ngươi chưa đến kinh thành thì ta đã tắt thở rồi, việc quân vắng hai người lại càng thêm rối. Hãy nghe ta!

Trần tướng quân là một người dũng lược, nhiều nghị lực và can đảm. Song vì phải đóng quân ở một nơi hiểm trở lâu ngày, lại có tuổi mà còn bị thương nặng trong cuộc giao tranh, nên bệnh tình thập phần nguy hiểm. Tuy nhiên, trước sự lo lắng của thuộc hạ, người vẫn tỏ ra điềm tĩnh. Ngài nói tiếp sau khi ngừng lại để thở, bằng một giọng khó khăn và mệt nhọc:

- Sau khi ta tắt thở rồi, các ngươi phải hết sức kín đáo, đừng cho tin này lộ ra ngoài. Chờ đêm khuya, mang xác ta ra vùi ở ven rừng chớ mang tận thung lũng và nhất là đừng bày nghi lễ rườm rà mà binh sĩ và quân thù biết được. Sau đó, Phó tướng hãy dùng lời lẽ ôn tồn, phủ dụ tên tướng giặc ta bắt được hôm kia, rồi thả nó về...

Vệ sĩ họ Trần gầm lên, đôi mày dựng ngược:

- Bẩm, tướng quân tha tội chết, con không thể nào... chính mắt con trông thấy tên khốn phóng ám khí, giết trộm tướng công. Phải chi hắn đường đường chính chính ra mặt giao tranh với tướng công... Không! Tha làm sao được...

- Phải nghe ta, đó là một lệnh! Nếu ngươi giết hắn mà ta sống được thì ta chẳng ngăn cản làm gì, đằng này...

Vệ sĩ họ Trần cúi đầu. Lê Phó tướng nói:

- Tôi xin tuân lệnh Ngài, có điều tôi không hiểu tại sao Ngài lại có ý muốn tha tên giặc lợi hại ấy?

- Bọn chúng là hạng người đa sát, nhưng không phải hoàn toàn vô lương. Nếu ta dùng đức mà cảm hóa chúng, chắc chúng hồi tâm. Ta ngần này tuổi, đã nhiều lần vào sinh ra tử, ta chán cảnh chém giết dã man quá rồi. Tiếc thay! Ta không còn sống được để... Nhưng thôi, ta tin ở tài của Phó tường, hãy thay ta trong việc cầm quân và nếu có thể, tránh đổ máu... Ta đã xông pha trong rừng gươm biển giáo quá nửa đời người, ta biết chắc chắn một điều này: chinh chiến là tàn khốc, là phi nhân, là bi thảm. Người ta phải giết cho kỳ được đối thủ, bằng bất cứ phương tiện gì. Vậy hai người chớ căm phẫn làm chi.

Giọng Ngài thấp xuống rồi im bặt. Trần tướng quân cố chống cự với cơn đau. Nét mặt Ngài biểu lộ một cố gắng ghê gớm, làm cho hai người thân tín phải đau xót quay đầu không dám nhìn cảnh ấy.

Vài phút sau, hai người quay lại, Trần tướng quân đưa mắt ra hiệu cho hai người cúi đầu gần mình đoạn thì thào:

- Hãy nhớ, cố tránh... Thôi! Vĩnh biệt các người. Hãy nhớ làm y lời ta, thế là thương, kính ta đó, nhé?

Trong nháy mắt, Ngài tắt thở. Toàn thân thâm tím rất mau. Hai người thân tín nhất của Ngài vừa kinh hoàng, vừa đau xót đến lặng người đi. Nhưng họ đều không dám khóc, bởi họ còn nhiều việc phải làm giữa lúc này. "Điều thứ nhất là lặng lẽ, âm thầm, lén lút mai táng Trần tướng công, đúng theo lời trăn trối cuối cùng của Ngài. Còn mọi việc thì hẵng gác lại, ngày mai sẽ tính". Lê Phó tướng thì thầm với người bên cạnh bằng một giọng điềm tĩnh khác thường.

*

Trời nắng to. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Nhưng tất cả đều phải cố gắng chỉnh tề từ hàng ngũ cho đến quân dụng, quân trang, y như họ sắp dự một cuộc diễn binh trong ngày quốc lễ, hay là có quốc khách đến thăm. Từ góc sân cho đến xó bếp, từ chỗ ngủ cho đến nơi ăn, nhất nhất đều phải gọn gàng sạch sẽ. Các mũi giáo, thanh gươm được chùi bóng lộn. Riêng chỗ tiếp khách ở Đại sảnh lại càng đặc biệt.

Đỉnh trầm cũng như các món binh khí cặm thẳng hàng san sát ở hai chiếc giá gỗ bên hai góc tường đều sáng quắc, sáng đến cái độ hai anh binh sĩ tre trẻ vốn ưa làm dáng được cắt hầu hạ trong Đại sảnh thích quá, cứ dừng lại ngắm bóng mình trong đó, cười khung khúc với nhau hoài.

Mấy bức rèm bằng nhiễu cũ mèm, đầy bụi bám cũng được thay vào bằng một loạt nhung xanh thẫm, thứ mầu xanh cám dỗ của Đại dương, làm cho hai anh lại tiêng tiếc khi nhìn ngắm, vì chợt nhớ lại mẹ mình đã cản ngăn, không cho được vào Thủy quân như lòng hằng ao ước.

Tận trong cùng, Quân kỳ bằng nhung vàng, viền lụa tím, chính giữa thêu một hình chim Đại bàng đang soãi cánh. Phía phải lồng trong khung kính trong suốt không một gợn bụi, tấm lụa bạch nổi bật bốn chữ đen "TẬN TRUNG BÁO QUỐC" do chính Hoàng Đế tặng Trần tướng công trong dịp Ngài đại thắng quân Chiêm.

Nhưng đáng để ý nhất là một bức tranh treo bên trái, một bức tranh với nét bút trẻ trung, tươi mát làm ấm, dịu cả lòng người khi nhìn ngắm. Trên nền vóc ngà, một chú gà sống nom như thật đang vươn cổ và một góc tùng xanh biếc đang tắm trong mưa. Bên dưới một hàng chữ nhỏ, nét rắn rỏi, đại ý: "Mùa đông rét buốt, tùng bách vẫn xanh. Mưa gió tối tăm, gà sống vẫn gáy".

Vừa thu dọn, tên lính trẻ vừa gợi chuyện:

- Tớ không ngờ Trần tướng quân lại văn võ kiêm toàn thế. Anh trông, nét vẽ thua gì những họa sĩ tài danh?

- Ừ, nhỉ!

- Nghe đâu người còn vẽ nhiều bức lắm cơ, vẽ tranh là thú giải trí duy nhất của người lúc rỗi rãi đấy...

- Thế à? Hay nhỉ!

- Mà người rất thẳng tính, không phải giống như những quan lại ở kinh đâu. Vào chầu, có gì trái tai, chướng mắt là người phản đối liền.

- Ghê nhỉ!

- Tội nghiệp! Mấy hôm nay người mệt nặng, chắc tại vết thương nó hành...

- Thế à?

- Chỉ tại thằng giặc khốn kiếp nó bắn trộm người, ấy thế mà người lại không cho giết phăng nó đi, lại cứ tỏ ý khoan hồng muốn tha kia, kia chứ.

- Thế ư?

- Ơ hay, cái nhà anh này, nói chuyện với anh chán bỏ xừ đi. Anh không có được một câu, một lời cho ra hồn. Này, tớ hỏi thật: Anh không biết nói gì khác hơn mấy tiếng: "Ghê nhỉ" "Thế ư?" với lại "Hay nhỉ?" "Ừ nhỉ" hay sao?

Người lính trẻ cau mày hỏi bạn, bạn anh ôn tồn:

- Sao lại không? Nhưng từ nãy giờ anh có cho tôi nói đâu? Anh nói, anh nói, anh nói mãi kia mà... Anh có cho tôi góp ý đâu?

- Ừ nhỉ, tớ quên khuấy đi chứ. Nào, bây giờ đến lượt anh. Anh trình bày ý kiến đi! Nói chuyện đi! Tôi nghe đây!

- Tôi biết trình bày thế nào, cái gì bây giờ?

Người lính trẻ khoa tay và đưa mắt ra chung quanh một lượt:

- Thiếu gì chuyện nói, chẳng hạn chuyện cái ông phó tướng kỳ quặc nhà mình đây này: trong lúc chủ tướng đang ốm, nằm liệt mà ông ta hành chúng mình thu dọn trang trí như thể sắp đón Hoàng thượng đến đây không bằng. Chả lẽ ông ta sung sướng thấy Trần tướng quân ốm nặng ư? Lại chấp chới hi vọng được thay chắc? Còn lâu...

- Chớ nói nhảm, chúng ta thì biết gì những chuyện quân cơ?

- Nhưng tôi thấy tất cả những trang trí, sắp đặt suốt hai hôm nay, không kỳ quặc bằng chuyện ông ta bắt hai đứa mình ra bờ suối nhặt sỏi...

- Nhặt sỏi? Để làm gì thế?

- Nào bố ai biết được, mà lại còn dặn chúng ta nhặt xong phải kỳ cọ, rửa ráy cho sạch sẽ nữa kia.

- Lẩn thẩn nhỉ?

- Thế mới ngộ, mà chưa hết đâu, rửa xong lại cho vào cái dĩa đựng hoa quả bằng bạc kia kìa.

- Úi trời ơi! Tôi hết tin anh. Anh là chúa vẽ sự...

- Vẽ sự! (anh lính trẻ cáu sườn lên, gắt bạn) rồi anh hãy cứ giương đôi mắt ốc nhồi của anh ra mà trông, hãy cứ làm y như tôi rồi khắc biết tôi có vẽ sự hay không.

*

Tên tướng giặc được mở trói và điệu đến trước mặt Lê Phó tướng ở Đại sảnh. Hắn nhìn lên, chiếc ghế giữa dành cho Trần tướng quân vẫn bỏ trống. Lê phó tướng dáng trầm ngâm, ngồi ở chiếc ghế nhỏ, đặt chếch bên tay phải. Giữa hai người, khoảng cách là một tấm da hổ lót trên nền nhà. Trên chiếc bàn (bằng thứ gỗ quí có khảm xà cừ ở rìa bàn và bốn chân) đặt một bộ ấm tách mầu đất nung và hai chiếc dĩa bạc có chân, thứ dĩa người ta vẫn dùng đựng hoa quả đặt trên bàn thờ gia tiên trong các đại gia, một chiếc đựng đầy quả rừng và chiếc nữa đựng toàn là sỏi (đá cuội).

Một dĩa bạc khác, nhỏ phân nửa hai chiếc dĩa đựng hoa quả và đá cuội, đựng mươi miếng trầu đã têm xong, và cũng đâu ngần ấy miếng cau tươi bổ sẵn, vỏ xanh ngăn ngắt và ruột đỏ như gạch tôm, trông ngon cả mắt. Nghiên son đặc gật và đỏ chói khiêm tốn trong cùng bên cạnh ống gỗ tiện đựng hai chiếc bút lông, mỗi chiếc một mầu mực và cuốn niên lịch đang mở ngỏ, sát bên tay Phó tướng họ Lê. Chừng như người vừa buông sách xuống vì sự có mặt của tên tướng giặc khét tiếng miền rừng?

Họ Lê vẫn giữ nét ung dung hòa nhã trong khi tên tướng giặc trái lại: hết sức nóng nảy và hung hãn. Hắn nhổ một bãi nước bọt ngay trên tấm thảm da hổ dưới chân, hằn học nói:

- Tên kia, mi muốn gì ta?

- Chào Lâm Hổ Tướng! Ta ao ước được nói chuyện với nhau một cách đứng đắn và ôn hòa. Đây không phải chiến trường và chúng ta không phải là trẻ con...

Ý chừng họ Lê muốn ám chỉ đến thái độ bất nhã của tên tướng giặc? Lâm Hổ hơi ngượng, và vì ngượng hắn càng hung hãn hơn:

- Ta không quen nói chuyện ôn hòa. Lâm Hổ này chỉ quen chiến đấu trên lưng ngựa. Nay mi bắt được ta thì hãy giết phăng đi, ta chán ghét cái trò giả dối ôn hòa của người Kinh đô, của dân thành phố... Ta thà chết, không chịu nhục đâu, đừng mong lung lạc... đừng mong dùng mồi danh lợi cám dỗ được ta.

Đôi lông mày dựng ngược, bộ râu quai nón đen cậy, đen kịt, chia chỉa ra trước như những chiếc lông của một con nhím lúc đánh hơi thấy kẻ thù ; đôi mắt ốc nhồi ngầu đỏ, lồ lộ, môi mím chặt, hai cánh tay gân guốc tưởng chừng như có thể bóp nát cả những thứ binh khí cặm trên giá gỗ ; nom Lâm Hổ thật xứng với hỗn danh mà người miền rừng xưng tụng.

Tuy nhiên, Lê phó tướng không chút phật ý, vẫn một vẻ ung dung, vẫn một phong thái của con người đầy tự tin, người cất giọng:

- Không, Lâm Hổ tướng lầm rồi. Ta vâng lệnh Trần Đại tướng phóng thích người chứ không phải là dụ hàng. Hãy ngồi xuống...

- Phóng thích? Hơ?

Giọng Lâm Hổ lạc đi vì kinh ngạc. Hắn vừa nói vừa gieo mình xuống ghế. Vẫn tự nhiên, Lê phó tướng tiếp:

- Phải, ta không chối cãi với người rằng người Kinh giả dối, mưu mô, lật lọng, nhưng ta và Trần tướng công nhất là Trần tướng công của ta thì... không có thói ấy. Người hãy tin ta, ta xin lấy danh dự một võ tướng mà thề rằng: người có thể yên tâm trở về an toàn, không có chuyện...

Một chuỗi cười lanh lảnh vang dội tận bên ngoài, đến nỗi mấy tên lính gác giật mình, tiếng cười của một kẻ quen ngang dọc tung hoành và coi thường luật pháp làm cho Lê phó tướng cau mày, song trong một thoáng người đã lấy lại phong thái cũ. Lê nghĩ thầm: với hạng người này khó nói chuyện lễ, trung, tín, nghĩa... nhưng không sao, ta quyết không phụ lòng tin của Trần tướng công. Ta sẽ thắng hắn, không bằng gươm giáo mà bằng cách khác. Ta sẽ thắng hắn, rồi xem!

- Pha trà, bay!

Giọng Lê phó tướng dõng dạc, tự nhiên như chưa từng chịu điều khó chịu, chưa từng phật ý tự nãy giờ. Thái độ đó làm Lâm Hổ hơi chùn, hắn liếc quanh một cái, lẩm bẩm "quân khốn định giở trò gì đây kia chứ? Hừ, hãy cứ giở, Lâm Hổ này đâu có ngán ai".

Hai tách trà vừa được chuyên ra, hương thơm ngát. Lê ân cần:

- Mời Lâm Hổ tướng dùng tạm với ta một chén trà, rồi hãy bàn chuyện, chẳng muộn gì.

Lâm nghi ngờ, do dự... Lê Phó tướng chừng hiểu ý, vội vàng đổi cốc trà phần mình cho hắn và phần hắn cho mình, giọng dịu và trầm hơn:

- Ta biết, ta biết, người từng bị lừa gạt nhiều phen. Nhưng ta không bao giờ dối gạt người. Hãy cho phép ta chứng tỏ điều ấy.

Và trước con mắt nửa ngạc nhiên nửa sợ hãi, của Lâm Hổ, Lê nâng chén trà tận môi uống một hơi dài. Lâm Hổ như bị cái đức độ của họ Lê cảm hóa cũng nâng chén trà uống cạn.

Lê phó tướng ôn tồn nói:

- Rất tiếc Trần tướng công mệt nhiều nên không thể trò chuyện với người lúc chia tay. Tôi vâng lệnh trên trả lại tự do cho Lâm Hổ tướng. Không một điều kiện nào hết, tướng công tôi chỉ ao ước rằng khi gặp lại người, đôi bên có thể trở thành đôi bạn vong niên, chứ không phải trên lưng ngựa và binh khí trên tay nữa... Chỉ thế thôi.

Lâm Hổ bàng hoàng đổi sắc, không hiểu vì cảm động hay mừng rỡ, có lẽ cả hai, tuy hắn cố giấu nhưng một chút thay đổi cỏn con trên bộ mặt chai lỳ sương nắng kia không thể nào lọt qua khỏi đôi mắt tinh anh của họ Lê.
 
Song rồi Lâm Hổ lầm lì trở lại ngay làm Lê phó tướng cảm thấy chuyện khắc phục được hắn không dễ dàng như mình nghĩ. Đôi bên đều lặng lẽ quan sát nhau một cách thầm kín...
 
- Thế nào? Người vẫn không tin? Kể ra, người không đáng trách. Nhưng thôi, hãy để thời gian chứng tỏ mọi điều. Bây giờ, mời người hãy dùng chút trái cây.
 
Dứt lời, Lê phó tướng đưa mắt cho tên quân hầu, lập tức tên này bước đến, cung kính trao con dao nhọn cho họ Lê bằng cả hai tay. Lê đón lấy và ung dung đưa sang cho Lâm Hổ.
 
Tên cướp rừng khét tiếng tưởng như mình nằm mơ, đã mở trói rồi lại đưa dao cho hắn? Hắn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, chẳng còn đủ tinh quái sáng suốt để xét đoán hành động của người đối diện. Hắn không biết làm gì khác hơn là đón lấy con dao.
 

Im lặng trôi qua. Hắn vẫn nhìn chằm chằm vào mặt họ Lê. Lê thư thả cho tay vào dĩa sỏi trên bàn, nhón một viên bỏ vào miệng, nhai nghe rau ráu giữa đôi mắt kinh hoàng tột độ của Lâm Hổ.
 
Hắn sững sờ, thảng thốt, hai tay bưng lấy trán, môi mím chặt thêm, đôi mày rậm nhíu lại, giao nhau như không còn khoảng cách ở đầu mày nữa. Quả nhiên, lần này hắn hoàn toàn khiếp phục con người võ tướng mà đầy vẻ thư sinh trước mặt mình. Họ Lê thấy rõ phản ứng đó mà vẫn vờ như không để ý, nhã nhặn nói:
 
- Mong Lâm Hổ tướng tha lỗi cho, tôi không dám mời người dùng cuội mà chỉ dám mời trái cây là vì... (lại cười khiêm tốn ra tuồng không tiện nói) là vì...

- Vì ông cho là răng tôi không chắc bằng răng ông chứ gì? Sao không nói thẳng đi?

Đây là lần thứ nhất trong đời, tên tướng giặc rừng khét tiếng gọi người khác bằng ông. Lê cười mỉm, đón lời:

- Ấy chết, tôi đâu dám... thế? Chẳng qua là vì tôi nghĩ thứ cuội xoàng nhặt ở bờ suối, dù đã rửa sạch, đâu phải là thứ mời khách quí của Trần tướng công tôi? Thú thật với người, tôi hay buồn miệng, mà nhai trầu mãi đắng quánh cả lưỡi đi, nên...

- Ông tài thật, nhưng tôi đây cũng là kẻ chưa từng biết thua ai, nếu ông đã có thể nhai nuốt được đá cuội, tôi cũng xin nếm thử xem sao, chẳng lẽ người rừng lưỡi quen nếm vỏ cây thay muối, răng thường nhai xương dã thú thay cơm mà lại thua người Kinh vốn quen dùng thịt hầm, quả chín hay sao?

- Ấy chết, tôi đâu dám ngăn người, chỉ sợ mời như thế thì tỏ ra khiếm nhã đó thôi, chứ tôi nào dám nghĩ rằng răng người không chắc và không...

Dứt lời, Lê phó tướng một tay nâng dĩa cuội đầy vun có ngọn, tay kia nhón ngay một viên cuội nhẵn bóng trao cho Lâm Hổ. Bằng tay trái còn lại (vì tay phải đang vướng con dao) Lâm Hổ đón lấy viên cuội cho vào mồm, ấn mạnh hai hàm răng bén, chắc, nhọn của mình vào viên cuội, khá mạnh.

Một tiếng "Á" rồi tiếp theo một tiếng gầm "Hự" phát ra, Lâm nghe chối cả quai hàm, ê tận các chân răng bộ răng mà hắn từng tự phụ là nhá vụn cả thịt lẫn xương thú rừng săn được, chỉ đốt qua loa trên lửa ngọn, chín có mỗi lớp da ngoài. Cáu giận đột ngột, quên cả giữ gìn ý tứ, Lâm Hổ phồng mồm phun mạnh một cái, viên cuội tròn nhẵn phụt ra, lăn xuống mấy bậc thềm nghe cong cóc, cong cóc, một âm thanh ròn rã, vui vui.

Khi viên cuội ngừng lăn, Lâm Hổ cũng vừa nhận thấy sự giận dữ vô cớ vô lý và thái độ bất nhả của mình.

Hắn nhìn quanh: những tên quân hầu đã biến mất không còn một bóng nào, ngay cả các tên gác ngày đêm túc trực bên ngoài.

Như vâng theo một sai khiến huyền bí ngoài ý muốn, Lâm Hổ cúi đầu trước Lê phó tướng, (ngay trên bãi nước bọt hắn nhổ xuống lúc mới vào để tỏ sự khinh bỉ họ Lê) giọng lễ phép bất ngờ:

- Kẻ hèn này kính mong được Ngài tha cho tội xúc phạm. Quả là kẻ hèn ngu này không có mắt để nhìn rõ Ngài sớm hơn, Lâm Hổ xin thề tuân theo ý muốn của Ngài cho đến hơi thở cuối...

- Không, tôi đâu dám đòi hỏi chi khó ở người. Chỉ ao ước từ nay người đừng bao giờ gây hấn, làm khổ quan quân ở triều đình và dân chúng mà thôi.

Lê phó tướng dịu giọng nói và cúi đỡ Lâm Hổ đứng lên.

Lâm Hổ trở về rừng ba hôm thì Lê phó tướng cũng thu thập binh sĩ về kinh.

Không ai hiểu nguyên cớ nào Lâm Hổ lại thần phục họ Lê một cách dễ dàng và chóng vánh đến như vậy.

Phó tướng rất hài lòng, song người không khỏi bùi ngùi khi ghìm cương ngựa ngang cụm rừng thưa được san bằng như một bãi tập. Ngay triền dốc, một khóm trúc được lệnh Phó tướng: không chặt quang như những loài cây khác, cành lá xanh tươi rập rờn trước nắng. Khi có kẻ tò mò hỏi nhau, câu hỏi lọt đến tai người, người kêu lại giải thích rằng "Trúc là loài cây quân tử, chỉ kém cây Tùng, nên ta giữ lại để vừa ý Trần tướng công" Trần tướng công đâu? Binh sĩ bây giờ nhao nhao lên vì sự vắng mặt này, thì ra mải say sưa với chuyện Lâm Hổ bị khắc phục, rút quân sau khi được tha nên họ quên phắt Trần chủ súy.

Lần này thấy không cần giấu nữa, Lê phó tướng chỉ tay lên khóm trúc nói với ba quân:

- Trần tướng công đã vĩnh viễn yên nghỉ nơi đây. Ta tuân lệnh người giữ kín điều ấy. Nhưng đến nay thì...

Nhiều tiếng kêu tiếc thương nổi lên một loạt. Và mọi người có ý phàn nàn về cái chết không có nấm mồ của người võ tướng mà họ một lòng quí trọng. Lê ôn tồn cất giọng:

- Ta hết sức cảm kích tấm lòng của các ngươi đối với Trần chủ soái, nhưng Trần chủ soái thường bảo ta rằng "lúc sống phải sống cho ra người hữu ích, còn khi chết đi thì thân xác vùi nông, sâu, nghi lễ rườm ra hay đơn giản đối với người đều không quan trọng". Nhất là sau khi người bị trọng thương, tuy ta bắt được tướng giặc nhưng quân ta bị vây hãm giữa rừng sâu, binh sĩ thì xa gia đình và cực nhọc quá lâu, người xót thương lắm, không muốn đày đọa anh em vào vòng máu lửa mãi ; tính mệnh người lại bị đe dọa, cho nên người ra lệnh cho ta phải tìm cách chấm dứt chuyện binh đao. Ta cúi vâng người mà lòng bời rối. Ngay khi người tắt thở, chuyện đầu tiên ta làm theo lời trăn trối là bí mật an táng người, lặng lẽ, im lìm không được cho ba quân hay biết. Thứ đến là tìm cách thuyết phục Lâm Hổ... Ta đã suy nghĩ nhiều ngày, nhiều đêm mà không có cách gì... vì ta biết Lâm Hổ là người đa sát, hiếu chiến nên đã có lúc muốn trái lời Trần tướng công giết quách hắn đi, nhưng rồi ta lại không làm thế. Vì ta biết giết một Lâm Hổ sẽ còn nhiều Lâm Hổ khác, chưa kể bọn thuộc hạ đang vây ta, biết Lâm Hổ chết, chúng sẽ đâm liều... cho nên sau cùng... ta dùng một mẹo nhỏ, không ngờ lại thành công.

- Ui chao! tên cận vệ cười rúc rích Cái lúc mà hắn cúi đầu trước mặt Lê phó tướng trông mới nhũn nhặn làm sao, chúng tôi được lệnh phải lánh mặt, nhưng vẫn nấp nhìn...

- Cũng chưa bằng lúc hắn nhá viên cuội, buồn cười hết sức...

- Mà làm sao phó tướng tài thế nhỉ? Cuội mà nhai côm cốp, côm cốp nghe cứ y như là cơm cháy trong chảo của anh Hỏa đầu quân mà chúng tôi thường xin, mỗi lần xuống bếp ấy thôi! Tôi thì tôi cho là Lâm Hổ có mọc mười cái đầu cũng phải khiếp phục ấy chứ...

- Thì đã hẳn...

- Ta cũng tiết lộ bí mật đó ra luôn...

Có tiếng thì thào: "Nữa, sao nhiều bí mật thế? Cái ông tướng nho sinh này".

Lê phó tướng cười bao dung trước những lời xầm xì đó, giọng vui vẻ, cởi mở:

- Có gì đâu, trong lúc các ngươi sắp cuội lên dĩa cho ta, chờ các ngươi ra ngoài, ta trộn lẫn vào đó vài viên đường phèn, và khi thấy không thể dùng lời ôn hòa lề độ mà thuyết phục được hắn, ta phải lòe hắn bằng cách nhai cuội giả đấy thôi, tài cán chi đâu.

Một tràng tiếng reo tở mở nổi lên, cả đoàn quân chỉnh tề hàng lối bỗng lao xao, nhấp nha, nhấp nhổm y như những lượn sóng vì vừa biết được một điều kỳ thú.

Tên lính trẻ lấc cấc nói to:

- Dù là phó tướng đã dùng mưu đi nữa, vẫn dáng phục như thường vì dễ gì nghĩ ra được một mưu thần tình như vậy, phải không?

Mọi người đều đồng ý. Tiếng reo lại vang dội khu rừng, lan rộng khắp các vòm cây.

- Thôi, ta lên đường kẻo muộn.

Tiếng dạ ran nổi lên và đoàn binh sĩ nối chân nhau len lỏi băng rừng tuôn xuống thung lũng xanh rờn, đi về hướng mặt trời đang ngả bóng.

Quân kỳ phần phật tung bay, vàng sẫm thêm dưới ánh nắng rực rỡ của một ngày trọng hạ. Khúc quân hành trổi lên, nhịp nhàng và hùng tráng, vươn cao, tỏa rộng cả một vùng. Khúc quân hành có nhiều tiếng đôi: Thanh Bình được lặp đi lặp lại trong câu hát. Trên những nét mặt chai sạm vì phong sương, dạn dày vì chiến đấu, Lê phó tướng bắt gặp được vẻ hy vọng lóe sáng trong những đôi mắt và những nụ cười như đọng mãi ở vành môi.

Bất giác, người tướng trẻ lẩm bẩm những điều hằng ôm ấp và chưa từng nói ra thành tiếng:

- Mong rằng ta sẽ mãi mãi được chứng kiến cảnh đẹp hôm nay.


MINH QUÂN     

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 89, ra ngày 15-4-1968)
 

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

Ăn Chịu Thử Một Lần

 

 Trời rét như cắt, rét căm căm. Có lẽ chưa năm nào Huế rét tợn như năm nay. Tâm run lập cập, thu hai tay vào túi áo cho đỡ rét, nhưng vô ích. Nó phải rướn người lên, lấy gân, thở thật mạnh thì mới nghe bớt lạnh, nhưng cứ hễ quên đi một chút, thở bình thường, không rướn người lên, không lấy gân tức thì cơn rét gia tăng khủng khiếp.

Thuở bé, Tâm nghe bà ngoại kể chuyện rằng các xứ bên Tây phương vào mùa đông còn rét hơn xứ mình nhiều : mặt nước sông đông lại cứng như nước đá, người ta có thể chạy băng qua sông khỏi cần thuyền, đò chi cả. Tâm cho là thật thích thú khi được băng ngang như thế. Nhưng giờ đây, chỉ nghĩ đến nó đã rùng mình, vì nó đã nếm, không phải qua loa, sơ sịa mà là nếm kỹ, mùi lạnh của những ngày đông.

Nói như thế, không có nghĩa là nay Tâm đã lớn lao chi cho lắm. Nó mới chín tuổi đầu. Nó không ngu đần quá mức, song quả thật nó kém lanh lợi so với các trẻ cùng lứa tuổi. Tâm bị cả nhà ghét bỏ (nói cho đúng thì cả đại gia đình ghét bỏ, trừ có mỗi bà ngoại mà thôi, song nay bà ngoại không còn nữa, bà mất rồi) chỉ vì một tội không do nó làm ra : nó không được xinh đẹp đã đành, nó lại còn đen cậy, đen kịt, tóc quăn mắt lồi, môi thì dầy, mũi lại tẹt. Nom nó, người ta nghĩ rằng Tạo Hóa chơi khăm, ở hình thù đứa trẻ cái gì cũng già tay. Chắc lúc sáng tạo giống dòng nhà nó – người da đen đầu tiên trên quả đất – Tạo Hóa cố ý làm nổi bật cái xấu lên, cũng như Ngài làm nổi bật cái đẹp của giống dân da vàng, da trắng, nhất là da trắng vậy !

Người ta cứ nghĩ bên Tây bên Mỹ mới có nạn kỳ thị da mầu. Không ! Người ta lầm to, ở đây cũng có, có điều ít người biết đó thôi : bằng cớ là Tâm bị đối xử tàn tệ độc ác chỉ vì mầu da của nó.

Tâm không biết mặt mũi cha nó ra sao, còn mẹ nó, nó chỉ nhớ mang máng thôi, vì từ khi lên bốn nó đã mất mẹ, mất biệt, không tin tức.

Cũng không ai nói rõ cho nó biết nguồn gốc nó. Nó chỉ mang máng hiểu rằng nó ra đời trong một đại gia xứ Huế, mẹ nó là con gái út của đại gia này. Các cậu, các dì nó đều mang những chức tước to lớn và chừng như để xứng đáng với những chức tước đó, người nào cũng khệnh khà khệnh khạng, hết sức quan liêu kiểu cách trong sự giao tiếp với bên ngoài cũng như lúc đối xử với nhau trong gia đình.

Trước năm lên bốn, Tâm không hề nếm mùi bị hắt hủi, bạc đãi vì bên cạnh nó có bà ngoại. Bà ngoại hiện thân của một bà tiên nhu hậu lúc nào cũng hết lòng bên vực đứa cháu bất hạnh của mình.

Lúc ấy, Tâm còn bé lắm, song nó đã biết tránh những tia nhìn sắc, bỏng của các cậu các dì mỗi lần chạm mặt. Tâm vẫn thường nghe – mà nó không hề để ý mấy người này đề nghị bà nên mang nó gửi vào viện mồ côi cho khỏi nhục nhã, vướng bận, khó coi, cho khỏi mang tiếng, khỏi bị người ta dị nghị nọ kia... Song trước sau bà ngoại vẫn cương quyết không nghe theo. Bà nói:

- Đừng xui bậy tao, vô ích. Tao già rồi, tao không ngu hơn tụi bây đâu. Nó có tội lỗi gì? Sao lại tính chuyện đầy đoạ nó? Nhà mình nghèo túng gì mà không cưu mang nổi một đứa bé bằng cái hạt mít thế này? Nó đã không cha, lại mất mẹ, tụi bây còn lòng dạ nào ...

Và bà ngừng lại thình lình, tấm tức khóc, khóc dai dẳng không thôi. Tâm thấy bà khóc, nó thương lắm, nó ôm chặt bà, như cố an ủi, dỗ dành bà để bà nguôi. Một lát, bà nghẹn ngào nói với Tâm:

- Bà thương cháu lắm, nhưng bà đã già rồi, nay mai bà chết, không biết cháu sẽ ra sao?

- Cháu chết theo bà!

Tâm hăng hái nói.

Ngoài bà ngoại, còn có vú già là biết thương Tâm. Nhưng vú già bận việc, không có thì giờ đâu mà săn sóc nó.

Thế rồi, ngày bà  lo ngại đã đến : bà lâm bệnh. Và cơn bệnh gia tăng lên mỗi ngày, sức khoẻ bà hao mòn theo. Cho đến một hôm, bà tắt thở.

Tâm còn bé quá, chưa biết đau buồn là gì, nó chỉ ngạc nhiên khi thấy cả nhà tụm lại quanh bà, mà bà thì không cử động, nói năng chi, cứ y như là ngủ. Họ lăng xăng may sắm quần áo mới cho bà, nâng bà ra khỏi giường tắm táp như là săn sóc một em bé và sau cùng, họ đặt bà vào trong một cái rương to, bên ngoài sơn đỏ chói.

Tận lúc đó, con bé mới đâm hoảng lên, xán lại gần áo quan bà, hét dựng, phản đối:

- Không! Mấy người không được bỏ bà vô đó, bà của Tâm! Để bà ngủ trên giường kia!

Tức thì, nó bị ngay một tát tai đánh bốp vào giữa mặt làm nó tối tăm mặt mũi, oà ra khóc. Cậu Phủ
tức là cậu cả làm quan Phủ nghiêm giọng truyền:

- Bây đâu, đem con khốn xuống nhà ngay! 

Dì Cử, chị kế mẹ Tâm có chồng là Cử Nhân quắc mắt, thêm:

- Câm miệng! Mi mà còn làm ồn lên thì biết...

- Hu hu, con muốn thấy bà, xin dì cho con được thấy bà, con không khóc nữa!

Dì Cử vẫn không nao núng, giọng dì lạnh băng:

- Câm! Tao biểu mi câm ngay!

Trong lúc Tâm còn ngơ ngác chưa hiểu mô tê gì thì một giọng khác, đanh ác hơn, gằn từng tiếng.

- Thấy bà hả? Đừng hòng! Từ rày không khi mô mi thấy bà nữa con mọi đen tê. Bà chết rồi, con ngốc!

Tâm lặng người đi. Bà chết rồi? Nghĩa là bà sẽ mất biệt như mẹ nó? Trời ơi! Rồi đây ai bênh vực nó? Ai săn sóc nó? Tâm sợ hãi cho đến nỗi ráo cả nước mắt, riu ríu đi theo người đàn ông mà cậu Phủ du nó lại lúc vừa rồi. Tâm không biết đó là ai, nó chưa hề thấy mặt nhưng trông bộ dạng thật hung tợn, làm nó càng hãi. Hắn lôi Tâm đi xềnh xệch. Xuống đến nhà ngang, hắn giao Tâm cho vú già, dặn:

- Giữ kỹ hắn đó nghe? Đừng cho hắn sổng ra, quan quở chừ, nghe!

*

Ngày tháng trôi qua. Tâm hứng chịu nhiều khổ sở, đau đớn... Vú già không có uy quyền như bà ngoại nên không thể bênh vực nó hiệu quả. Vú chỉ biết khóc mỗi khi thấy nó khóc, và pha nước muối xoa cho nó mỗi khi nó bị đòn sưng mặt, bầm da.

Tâm nhớ bà tha thiết, nó thầm ao ước giá như bà trở về cùng nó thì nó có bị đòn, bị mắng, nó cũng cam lòng ; nhưng điều ao ước viển vông đó không bao giờ trở thành sự thật.

Cậu Phủ của nó đã hết làm quan. Cậu về hưu non, về nhà, (cái nhà năm gian rộng thênh thang trước đây chỉ mình Tâm, bà và vú già ở mà thôi) cùng với vợ con.

Cậu bảo rằng cậu đã chán hết mọi sự đời, chỉ muốn yên thân vui thú điền viên. Cậu chăm chút kỹ lưỡng từng cành hoa, cái lá. Sáng sớm, Tâm ra bắt sâu, bón phân, trong lúc cậu mợ và các tiểu thơ, công tử còn vùi mình trong chăn ấm, hoặc đang ngồi nhấm nháp những ngụm trà thơm bốc khói trước lò sưởi rực lửa hồng!

Tâm xuýt xoa vì rét, co ro, cóng róng như con gà mắc mưa, trông thật thảm hại. Nó thu một tay vào túi áo, còn tay kia thì vạch lá bắt sâu. Thỉnh thoáng nó ngừng tay, thở mạnh, há miệng to cho hơi ấm bay ra, giơ tay đón bắt làn hơi ấy và xát mạnh hai tay vào nhau cho đỡ cóng. Nó vẫn không chừa thói ao ước vớ vẩn. Có lần nó ước biến thành cái cây để hứng sương, gội mưa mà không rét, lại được bàn tay người chăm sóc. (bấy giờ nó hết ao ước được thấy mặt bà rồi).

Tâm vừa làm việc vừa lắng tai nghe những mẩu chuyện rời rạc trong nhà vọng ra. Nó làm việc lơ đãng thật. Nhưng làm sao nó chăm chú nổi? Trong nhà có trà nóng, có lò sưởi và tiếng cười đùa của bọn trẻ lớn hơn nó và bằng cỡ nó cứ như chọc vào màng tai nó kia thôi!

Tâm nghe giọng mợ lanh lảnh:
  
- Năm ni răng mà lạnh ghê! Chưa đến tiết Đại Hàn mà lạnh thế ni...

Giọng cậu khàn khàn, đùng đục:

- Linh, coi mược thêm áo ấm vô, đừng có khinh thường, bị cảm hàn chừ!

- Ăn thua chi mô, ba! Con Tâm hắn đứng ngoài kia, có răng mô! Con ...

Tức thì cậu ngắt lời con trai, giọng ông giận dữ khác thường:

- Quân ngu! Mi mà lại đi so bì với con mọi đen nớ, hử?

Tiếng mợ bênh con:

- Thôi! Có đáng chi mô mà ông nổi nóng lên mắng con dữ rứa cho nó tủi?

Và mợ đổ tất cả lên đầu Tâm:

- Thiệt tôi khổ quá! Cái nhà ni sinh chuyện luôn vì chứa con mọi đen trong nhà. Làm ăn lụn bại, con cái bị la rầy ... Tống đầu hắn đi mô thì tống cho rảnh mắt. Chịu hết nổi... chịu hết nổi rồi!

Mấy lời mợ như ngọn đuốc châm vào đống rơm khô : cơn giận của cậu bùng lên, cậu hét toáng:

- Việc chi đến bà mà nay đòi tống, mai đòi đuổi? Nuôi hắn tốn kém lắm răng? Hắn ăn cơm thừa cơm cặn, hắn không ăn thì cũng đến đổ cho chó ăn chớ chi đó mà tiếc, mà kể lể?

Tâm nghe những lời cậu bênh vực mình, vừa xót xa vừa cảm động. Thì ra, trong cuộc đời côi cút bất hạnh của nó cũng còn có một người đoái tưởng,  xót
thương. Tâm cảm thấy sung sướng cho đến nỗi trong một phút nó quên cả lạnh! Thì ra lâu nay nó lầm, nó cứ tưởng cậu cũng như mọi người...

Đột nhiên, tiếng mợ nó the thé chì chiết:

- Không tốn kém bao nhiêu! Tôi ăn từ đường hương hoả nhà ngang, dãy dọc chi mô? Nhiều lắm răng? Ông nói mà không rờ sau ót... Cơm cao gạo kém, mỗi thứ mỗi tiền, ông giao cho tôi mỗi tháng bạc muôn, bạc ức chắc? Nì, tôi nói cho ông biết ...

Giọng mợ nhỏ dần, rít qua hai hàm răng đen bóng và khít rịt, Tâm không nghe rõ nữa. Nó thở dài, bâng khuâng nhớ đến bà. Dù sao, Tâm nghĩ rằng mình cũng được cậu bênh vực cho ít tiếng, thế cũng quí rồi, Tâm không dám mơ ước hơn.

Nỗi sung sướng vì được bênh vực làm con bé khốn khổ bước chệnh choạng, nó cảm thấy nó nhẹ tênh... Tiếng cậu cất lên:

- Thôi! Đừng nói lắm rát tai. Ta không bênh vực chi hắn mô, đừng nhiều chuyện. Bà ưng tống hắn đi mô thì cứ việc. Có giỏi cứ tống đi, coi! Miễn thuê cho tôi một đứa siêng năng giỏi giắn như rứa đặng thay vô là được, một đứa cho lanh chân lẹ miệng, chớ không phải con bếp chằn tinh, nấu canh bỏ sâu trong nồi đâu. Đừng dài lời. Con nhỏ suốt ngày quay như cái vụ : bửa củi, tưới cây, vo gạo, xách nước, mua cao lâu cho mẹ, mua bún bò, bánh ướt cho con. Một buổi sáng mà chạy mua năm bảy món ăn, người ni, món ni, người khác, món khác. Đời chừ chớ phải thuở trước mô ... Bạc ngàn chưa chắc thuê được như rứa. Đứa mô mà ở được nhà ni, e rằng phải có ba đầu sáu tay mới bưa nổi với mẹ con bà.

Mợ hét:

- Nuôi mà không cho sai à? Rứa nuôi để chi? Để thờ à? Có phải chỉ để bắt sâu và tưới cây cho ông không thì cho biết thử coi?

Cuộc đấu khẩu giữa hai người chưa chấm dứt ngang đó song Tâm nản, hết tò mò, hết muốn nghe. Nó muốn biết rõ là ban nãy nó lầm : nó như từ tầng cao rơi tuột xuống vực thẳm sau khi nghe những lời phân bua rành rẽ của cậu. Nó muốn khóc, song nước mắt nó như khô cạn từ lâu. Nó bật lên thành tiếng:

- Mẹ ơi! Bà ơi! Không ai thương con hết!

Tâm không bao giờ kêu cha. 

*

Đến tuổi nó, đáng ra phải được cắp sách đến trường. Nhưng không ai nghĩ đến việc khai tâm mở trí cho một con mọi đen như nó cả. Tâm cũng không lấy làm lạ, nó chỉ hơi tiêng tiếc mỗi khi nó vớ được cuốn sách
bất kể sách gì, sách của ai đâu đó, đang mải mê lật xem thì bị ngay một anh hay một chị con của cậu nó xông lại giằng ra khỏi tay, nói mỉa:

- Thôi! Mọi đen mà cũng bày đặt đọc sách!

Tâm còn ngơ ngác, ngỡ là nó bị trừng phạt về cái lỗi dám phạm thượng mó đôi bàn tay đen đủi bẩn thỉu vào sách của họ, thì ngạc nhiên làm sao : họ vứt ra xa, chứ không phải giằng lại để cất. Tâm không tiếc nữa, nó tủi thân thấm thía.

Tâm lờ mờ hiểu rằng hạng như nó thì chỉ được ăn cơm thừa, canh cặn, thứ chỉ để dành cho chó. Song sự thực còn tệ hơn, nó còn thua con chó nhà cậu : vì mỗi lần có khách lạ vào nhà, cậu mang con chó khoe, chứ nó, tuyệt nhiên không. Nó là cái gai, là con vật bẩn thỉu xấu xí ... bằng cớ là nó không được pha nước trà cho khách, không được chường mặt lên nhà trên bao giờ!

Mỗi năm mỗi tuổi, nỗi khổ nhục chồng chất, tăng trưởng theo năm tháng. Vú già không chịu nổi thói cư xử tệ ác của cậu mợ nó, xin thôi. Tâm ước gì mình cũng dễ dàng xin thôi như một kẻ tôi tớ vậy! Vú già trước khi đi, kêu nó ra chuồng heo, giúi vào tay nó hai tờ giấy 10 đồng mới toanh, đỏ chói, nghẹn giọng mà nói với Tâm:

- Này Tâm! Con gắng mà siêng năng kẻo bị đòn khổ thân, nghe chưa ? Vú về quê ...

- Rồi chừng nào vú ra ?

Tâm hốt hoảng hỏi. Vú buồn rầu:

- Chắc không ...

Nhưng thấy con bé rơm rớm nước mắt vú chữa lại:

- Chắc lâu lắm ...

- Vậy mà vú nói vú thương con! Ai cũng bỏ con, đi hết ...

- Vú thương con lắm chớ, phải chi cậu mợ cho phép, vú đem con về quê liền. Con ưng ở với vú không? Nhà vú nghèo khổ, mà ... mà điều vú thương con, dầu bữa cơm bữa khoai...

- Con không sợ nghèo khổ. Con ưng ở với vú hơn, sao vú không xin...

Vú già lấy tay bưng miệng đứa trẻ lại, giọng lo ngại:

- Chết! Con đừng nói dại, ai nghe được thì khổ thân. Ráng chịu khổ ít lâu. Mai sau con lớn Trời Phật thương, con sẽ được sung sướng...

- Trời Phật không thương con đâu, con biết! 

Giọng hờn dỗi Tâm ngắt lời vú già. Vú gắt:

- Nói bậy! Ai nói với con là Trời Phật không thương con? Đừng nói bậy con Tâm! Trời Phật công minh lắm... Con phải...

Từ nhà trên có tiếng mợ quát lên the thé:

- Con mọi đen lủi đi mô rồi?

- Nó ra ngoài chuồng heo nói chuyện với vú già đó, mạ nờ!

- Chuyện chi lâu lắc rứa? Tâm tỉ chuyện chi rứa? Nói trộm nói xấu chi tau?

- Thôi! để vú đi! Đừng có bịn rịn vú thêm buồn! Cất hai chục ni để dành mua chè đậu ván ăn nghe?

- Con không thèm ăn chè, con ưng đi theo vú ...

Tâm giữ chặt áo vú, song vú già nhẹ nhàng gỡ tay Tâm ra, nước mắt ròng ròng lăn dài trên đôi má nhăn nheo, vú đi thẳng, không quay lại. Tâm nức lên, oà khóc, quên cả bị mợ rầy...

*

Nhờ hai chục bạc Vú già cho, Tâm được hưởng cái ngọt ngào, bùi ngậy và thơm qua những chén chè đậu ván của dì Bình.

Nó tiện tặn, không dám ăn đều mỗi ngày, cứ dăm ba ngày mới lẻn ra ngõ, đón dì Bình đi ngang, mua một chén.

Tâm rất yên lòng thưởng thức món quà quí giá, vì vào giờ ấy, cậu mợ đã yên giấc nghỉ trưa. Chị bếp cũng nằm khoèo trên bộ ván giữa nhà ngang, đánh một giấc.

Nhưng hai chục bạc to lớn đó vẫn chưa hẳn là cái kho vô tận, cho đến một hôm kia, Tâm ăn đến đồng bạc cuối cùng. Nó nhai thật kỹ, hay nói đúng hơn, nó không nhai, nó ngậm trong miệng chờ cho nước bọt thấm qua hạt đậu ván bùi ngậy và hạt đậu tan ra, lẫn trong những hạt nếp nhừ bấn, bấy giờ nó mới nuốt đi. Chờ một lúc dì Bình mải cúi xuống thò cái vá đồng sáng loáng vét những hạt đậu bám quanh xoong chè, Tâm thè lưỡi liếm quanh lòng chén, thật kỹ, thật sạch, và nó chắc lưỡi thèm thuồng. Tâm nghĩ thầm một cách hối tiếc:

"Phải chi hôm kia đừng ăn, để bữa ni ăn một bữa cho đã thèm rồi nhịn cũng sướng!"

Dì Bình tuy không thấy Tâm liếm chén chè, nhưng đến khi nhận chén, sắp nhúng vào chậu nước mang theo rửa qua loa bỗng dì ngừng lại kêu to:

- Tâm! Bộ mi liếm răng sao mà chén chè sạch dữ ri?

Tâm bẽn lẽn không dám nhận mà cũng không chối, cắm đầu chạy thẳng vô nhà.

Tâm vốn ghét những khi nhà có việc. Nó đã bận luôn tay, mà mỗi khi nhà có việc nó lại càng khổ thân hơn : dậy từ khi gà gáy đâu vài lần, và mãi tới khuya lắc, khuya lơ mới được phép đặt lưng xuống ngủ.

Nhưng hơn nửa tháng nay nó cứ ngong ngóng trông cho nhà có việc (nghĩa là có chuyện cúng kính) đặng mình được dịp vét nồi... chè. Thường sau khi múc cúng xong, chị bếp ưu tiên việc vét nồi, song dù vét kỹ đến mấy cũng còn sót chút đỉnh. Bằng giọng hách dịch của bọn đầy tớ nhà sang, chị kênh kiệu bảo Tâm:

- Con tê! Vô vét nồi đi tề! Mau lên rồi lấy xơ mướp mà chùi sạch cho tau đặng chiều ni tau nấu cơm. Sướng không? Tau để phần cho mi đó, con yêu nợ!

Tâm cười toét miệng, bày cả mấy cái răng sún, đón nồi chè không như đón của quí!

Vậy mà nửa tháng nay nó trông đợi hoài công. Chưa tới kỳ giỗ chạp, không có vía vang gì hết, nên việc cúng kiếng không đến. Tâm thèm chè ghê gớm.

Để đỡ thèm, mỗi bận mợ hay các anh chị sai ra phố mua sắm gì, nó nấn ná chờ đến khi dì Bình gánh chè đi ngang qua mới đi mua, nếu liệu việc không gấp. Đi ngang gánh chè dì Bình, Tâm trùng trình đứng lại, gặp lúc dì đang mở xoong chè múc cho khách hàng thì nó len lén phồng mũi hít lia lịa, dáng bộ trông thật đáng thương.

Có khi, bỗng dưng một ý nghĩ khùng khùng đến với nó : nó ước trở thành cái xoong đựng chè cho sướng! 

*

Một bữa, Tâm tần ngần đứng nhìn thực khách bỗng nó để ý thấy con Lìn (con bà Tàu bán cao lâu) ngồi ăn chè một cách ngon lành, ăn xong nó đứng lên không xỉa tiền ra trả cho dì Bình như thói quen trước nay và như mọi khách hàng khác mà dõng dạc nói:

- Ăn chịu một bữa, dì Bình!

Tâm ngạc nhiên hơn, khi nó thấy dì Bình cười toe toét:

- Được! Muốn ăn mấy thì ăn, không can chi!

Ăn mấy thì ăn không can chi! Ăn mấy thì ăn không can chi! Suốt ngày, suốt đêm lúc làm việc, lúc ăn cơm cho chí tận lúc ngủ câu đó cứ vang vang trong đầu nó, láy đi, láy lại như một điệp khúc không ngừng!

Chà! Cái dì Bình bán chè coi vậy mà tử tế biết chừng nào! Nếu dì đã tử tế, dễ dãi với con Lìn đến mức đó thì chắc dì cũng không hẹp bụng chi đối với Tâm ...

Tâm cứ vương vấn ý nghĩ : "ăn chịu chè của dì Bình một bữa. Hừ! Mình mà ăn chịu thì mình ăn hai ba chén cho đã thèm, ăn chi một chén mất công ..."

Song Tâm chỉ hăng hái, quyết liệt trong đêm tối, trong lúc nằm ngủ hay trong khi quơ củi, vo gạo, chớ mỗi lần gặp dì Bình gánh chè ngang qua tầm mắt, quyết định tiêu tán mất. Nó sợ quá : ngộ dì ấy trở mặt giở chứng níu áo đòi tiền thì có mà chết gấp! Tâm không dám. Chớ sao! Ai cấm dì tử tế với con Lìn mà không tử tế với Tâm? Tâm, một con bé mồ côi, nghèo khổ, đen thui, đen thủi thế này, này...

Gần hai tháng trời trôi qua, sự thèm khát càng nung nấu, thôi thúc trong lòng nó. Nó vẫn không tiến tới quyết định được, nó do dự, chần chờ. Nó đâm giận mình, có gì khó khăn đâu : chỉ việc ngồi xuống, điềm nhiên biểu dì Bình múc chè cho ăn, ăn xong, đứng dậy dõng dạc nói:

- Ăn chịu một bữa, dì Bình!

Thế là chu! Có gì là khó đâu, mà nó sợ kia chứ? Sao nó không dám thực hành chứ?

Một đêm kia nằm mơ, nó thấy nó làm được điều nó muốn, không vấp chút trở ngại nào cả. Mọi chuyện êm xuôi hết. Và nó còn nhớ khi nó đứng lên, lấy lai áo lau miệng nói mấy tiếng "ăn chịu một bữa dì Bình" thì dì ấy không chỉ cười toe toét và chỉ nói: "Được, muốn ăn mấy thì ăn, không can chi" mà còn khuyến khích nó ăn thêm bằng giọng ngọt ngào:

- Ăn nữa đi, Tâm! Tau thương mi lắm, Tâm ơi!

Rồi kỳ diệu thay : sau câu ấy, tức thì dì biến thành bà ngoại. Tâm nghĩ : "phải rồi! Không phải dì Bình bán chè, mà bà ngoại, nên bà ngoại mới thương mình cho ăn thả cửa". Nó kêu lên : "Ngoại ơi" rồi sà tới ôm chặt ngoại nhưng ngoại xô nó ra, gánh gánh chè lên. Tâm khóc ngất ...

Tỉnh giấc, Tâm ngơ ngẩn hồi lâu. Suốt ngày hôm đó, Tâm như người bị ma đốt hồn
– lời mợ nó – Song nó không để ý chi đến điều bị mắng mỏ, nặng nhẹ. Nó lẩm bẩm:  

- Mình phải ăn chè. Mình cứ ăn chịu là xong! Con Lìn nó ăn được, mình ăn được! Phải ăn!...
 
Xế trưa hôm ấy, Tâm chờ cho mợ vào phòng là phóng tuốt ra ngõ đón gánh chè dì Bình. Gớm! Con bé mới sốt ruột làm sao chứ! Ngóng hoài không thấy. Để đỡ sốt ruột, Tâm tự hỏi mình: "lạ kỳ, sao người lớn không ăn chịu kìa?" và nó tự trả lời một cách thoả đáng "Chắc người lớn không ăn chịu được, dì Bình không bán, chỉ có con nít mới được phép ăn chịu" Nó thêm: "Người lớn con nít gì cũng ăn chịu thì dì Bình làm sao có tiền?" Tâm cười toét một mình, bằng lòng sự thông minh của nó lắm. Vậy mà cậu mợ và mấy anh chị nó cứ chê nó là ngu, là đồ mọi đen!

Từ đằng xa, dì Bình gánh chè thong thả đi tới phía nó. Trống ngực Tâm đánh thình thình. Nó hốt hoảng, cảm thấy can đảm hầu tiêu tán hết. Nó quay đầu lại tính rút lui nếu ngay lúc đó mà con Lìn và hai người đàn bà nữa không vẫy gánh chè của dì Bình về phía họ. Nhờ mấy người đó, Tâm thấy can đảm bỗng được phục hồi. Nó đĩnh đạc tới gần gánh chè, chờ đợi.

Bọn khách hàng cười nói ba hoa song Tâm không nghe chi cả, trong đầu nó kế hoạch gần như đảo lộn. Nó thấy ghét mình, giận mình quá đỗi. May sao dì Bình hất hàm về phía nó, mời:

- Ăn chè không? Ăn đi Tâm!

Tâm sà ngay xuống, gật đầu, giọng chắc nịch không khác gì những lúc hai chục bạc mới hao hụt vài đồng:

- Múc cho em một đồng đi!
Dì Bình!
Dì Bình lẳng lặng múc chè trao cho nó. Tâm đón lấy, đảo mắt nhìn quanh trước khi múc muỗng thứ nhất cho vào miệng. Chao ơi là ngọt, là bùi! Tâm ăn rất dè xẻn, nhon nhón từng hạt đậu, chỉ nơm nớp sợ hết. Chờ cho mấy người kia đứng dậy quay lưng nó mới đưa trả chén không, bụng còn thèm thèm nhưng tự nhủ: "để lần khác, ăn nhiều sợ lần khác dì Bình không bán."

Tâm sắp sửa nói "Ăn chịu một ..." nhưng nó chưa kịp mở miệng thì dì Bình đã chìa tay, giục:

- Trả tiền đây, Tâm! Mau! Tau còn đi bán kẻo chiều, trời mưa.

Hoảng hốt, Tâm lắp bắp:

- Dạ, em không... có tiền... em... em...

Dì Bình cau mặt, trừng mắt, gằn giọng nạt dồn:

- Không có tiền? Hử? Không có tiền sao dám ăn? Tính quịt phải không?

- Dạ em ăn chịu... một bữa...

- Ăn chịu? Nói ngon không? Nì! Tau nói thiệt, không có tiền thì đừng có liều, ăn ẩu. Muốn xin phải nói trước, con mọi đen! Mi tưởng tau quên hử? Có hai ba mạng chớ phải hai ba chục người ăn răng mà quên? Trả tiền mau! Không tau dói mợ mi ra chừ đây!

Tâm run như cái giẻ phơi trước gió:

- Em lạy dì, em không có tiền, dì đừng dói mợ em...

- Không có tiền thì cởi áo ra thế vô! Quân điêu! Tau không giỡn ví mi! Cởi áo ra...

- Em có một cái áo đây thôi, cởi ra lạnh chết, tội nghiệp em! Em lạy dì! Ví lại, em cởi thế cho dì, mợ em thấy em ở trần, mợ em...

- Mược kệ mi! Tau không cần biết... đồ gian giảo, điêu toa! Mi có trả tiền không thì nói?

Bỗng dưng, dì Bình thấy con bé sao mà dễ ghét quá chừng đi : môi thì dày, đúng là môi miệng quân tham ăn tham uống, mắt thì lồi thấy mà gớm ghiếc, da mặt thì đen kậy, đen kịt như quỷ sứ hiện hình (dù là dì chưa từng thấy quỷ sứ bao giờ). Mà ghét nhất là hắn đã lập tâm, tính ăn quịt... hèn chi khi hồi hắn không ăn liền, chờ cho mấy người tê ăn xong... quân gớm thiệt! Quân ni không tha được, phải trị... trị...

Tiếng dì Bình càng phút càng to, dấm dẳng, ráo riết. Tâm lạy lục, van xin vô ích. Những tiếng đó vang lên tận nhà trong. Lũ trẻ con cậu ùa ra, đứng xem như xem trò xiếc. Một đứa phóc vào mách mẹ liền. Mợ Tâm vừa quấn vội mớ tóc dài, vừa hỏi chõ ra:

- Chi rứa bây? Con Tâm tê?

Trong lúc hai chân bà không ngừng bước ra ngõ. Tâm đứng chết sững, nước mắt nhòe nhoẹt. Dì Bình được thể, cất giọng ơn nghĩa:

- Dạ, bẩm bà, bà nghĩ ai chịu nổi chưa : thà hắn xin tui một chén tui không tiếc chi, đằng ni hắn phỉnh tui... cha sanh mẹ đẻ tới chừ, tui chưa từng thấy con ai chừng nớ mà điêu rứa...

Không cần hỏi ất giáp chi, mợ Tâm sấn lại, túm áo con bé lôi tuồn tuột vào nhà. 
 

Con mọi đen bị một trận đòn mê tơi, đáng đích, nhiều hơn, dữ hơn bất cứ trận đòn nào từ trước đến nay. Ban đầu nó còn kêu ca, van lạy, toan phân trần nhưng không ai nghe nó cả : cả các anh, các chị, cả cậu và cả chị Bếp. Đứng ngoài, chị ta còn phụ hoạ thêm:

- Con ni tệ thiệt! Lần mô nhà cúng con cũng cho hắn vét nồi chớ con có rớ tới mô!

Sau, nó im lặng chịu trận. Không phải nó mặt sứa gan lim như mợ vẫn bảo mà vì nó cạn hơi, mỏn sức đi rồi.

- Thôi! quân nớ có đập như đập bị bông, hắn có biết đau đớn chi mô mà đập cho mỏi tay. Đập rứa bưa rồi! Đi lên, kẻo tối lại mất công xức dầu khuynh diệp, mất công sắp nhỏ bóp tay!

Cậu nói vọng xuống. Mợ buông tay, du con mọi đen vô một xó, rửa tay, đi lên.

Anh Hoài hỏi chị Cúc:

- Tau đố mi tại sao con Tâm hắn dám làm chuyện động trời rứa?

- Tại cơ thể hắn cần chất đường.

- Bông! Tại răng cần chất đường?

- Tại vì hắn hay dậy sớm ra sân bắt sâu cây cảnh cho ba, chất đường thêm nhiệt lượng cho cơ thể, chống lại cái lạnh, ví lại...

- Tầm bậy rồi! Mi nói rứa mà vô thi là zê-rô cho coi! Chất béo tức là chất li-pit mới gây...

- Thôi! Ồn ào quá, buổi trưa cho cha bây nghỉ một chút. Hết chuyện nọ đến chuyện tê, rần rần cả ngày.

Người cha gắt hai con. Bà mẹ sừng sộ, gây liền:

- Ông nói ai rần rần? Lại binh con mọi đen phải không? Muốn đóng trang thờ hắn phải không?

- Ai dũ bà đóng trang thờ hắn? Ăn nói chi mà hàm hồ hàm chứa...

Tức thì bà lồng lên, nhiếc nhóng chồng đủ thứ. Hết chuyện con mọi đen mợ xoay qua chuyện khác. Giọng đay nghiến mợ nói:

- Chỉ biết ăn ví lại ăn thôi! Hết bánh sen tán đến bánh đậu xanh khô, bánh kẹp chưa hết đã đòi bánh ga-tô, bánh thuẫn. Khi mô mà cái thẩu bánh hơi vơi vơi là kiếm chuyện. Ăn như tằm ăn lên...

- Nói rứa mà không sợ người khuất mặt khuất mày hai bên vai vác ghi chép à? Cả một lũ con bà cũng ăn chớ một mình tôi ăn mô? Hễ bưng cái thẩu ra là đứa ni một cái, đứa tê hai cái, có trưa mô tôi uống nước trà, ăn bánh ngọt mà khỏi con bà dự vô? Tôi ăn chi nhiều nhặn của bà mà bà kể lể? Rứa chớ hồi tôi tại chức, tiền vô như nước, một bước xe, hai bước xe, kẻ hầu người hạ răng bà không kêu ca giùm chút? Ai vô hưởng? Cậu mạ tôi có đội mồ lên hưởng mô, mô nà?... Tôi...

Tuy cậu từng hét ra lửa, quát ra bạc nhưng trong phạm vi gia đình cậu không bao giờ qua mặt nội tướng nổi. Mợ trả đũa:

- À! Rứa là tự miệng ông nói ra đó nghe? Bây chừ tôi hiểu lòng dạ ông rồi đó! Ông không muốn cho con ăn, ưng để chúng ăn lường ăn quịt, hay hơn phải không ?

Mợ vô tình nhắc lại tội lỗi cháu cậu, tưởng cậu sẽ ngán mợ, ai ngờ quá giận vì bị vợ cho là mình ham ăn với con, cậu phát khùng lên, cậu kể phăng ra:

- Tại ai? Tại răng đến nỗi hắn phải ăn lường, ăn quịt? Ngày mô mà con bà không ăn của ngọt? Mà có khi mô bà thí cho hắn một rẻo bánh không? Nì, bà trả lời cho xuôi coi?

- Trời ơi! Ông binh con mọi đen dữ, hỉ? Tôi giao nhà cửa lại cho cậu cháu ông, mẹ con tôi đi chừ đây! Tôi không ham đâu...

Cậu ngắt lời mợ, đanh thép:

- Đừng có ồn, thiên hạ người ta cười cho thúi óc. Tui hỏi bà từ con bếp, vú già cho chí bọn tôi tớ trước ni, có đứa mô dễ sai, dễ khiến, làm luôn tay luôn chưn như hắn chưa? Bà thí cho hắn mấy trự bạc công? Có tấm áo mô lành không? Vừa vừa chớ! Còn lưu cái đức
lại cho con chớ! Ăn ở chi mà cạn tàu ráo máng, trời mô mà dung? Hừ! Đừng có nói tôi bênh! Không ai thương yêu gì thứ đó, cái chi cũng phải phải, phân phân chớ...

Mợ nghẹn họng. Mợ lảm nhảm vài câu chiếu lệ rồi thôi. Hai bên hưu chiến.
 
Không ai rỗi hơi tìm hiểu nguyên do nào khiến một con bé nhút nhát lại cả gan như vậy.

Sự thật thì Tâm không hiểu rằng ăn chịu nghĩa là ăn mà không trả tiền ngay, nhưng vẫn phải trả vào ngày khác. Hoặc muốn văn chương thì nói thế này : "Đó là một hình thức vay mượn, tuy không bằng hiện kim". Nó ngỡ rằng khi một đứa trẻ không có tiền mà muốn ăn quà thì cứ ăn, miễn ăn xong, nhớ nói "ăn chịu" và phải nhớ nói trước chớ để lâu như nó, người bán hàng sẽ đòi tiền và lúc đó thì vô phương cứu vãn!

Nó ngu ư? Không đâu : rõ ràng nó nghe con Lìn nói:

"Ăn chịu một bữa, dì Bình!" Thế thôi, chớ trước sau có nghe con Lìn nói "mai mốt trả tiền" đâu mà biết? Nếu con Lìn có nói thêm mấy tiếng sau thì có cho nó vàng khối, nó cũng không dám liều lĩnh vậy. Thật đáng thương cho cái đầu óc tối tăm như màu da của con bé! Tận đến lúc bị trận đòn nhừ tử Tâm vẫn còn băn khoăn về tội trạng mình. Nó tự hỏi : "Hay là bởi nó đen đủi xấu xí, nên dì Bình không bằng lòng cho nó được ăn chịu?". Thế thôi!
 
 
MINH QUÂN        

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 117, ra ngày 1-11-1969)
 

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Nên Tránh Những Lời Hợm Hĩnh

 

Câu chuyện chị kể cho các em nghe hôm nay chắc không có gì mới lạ, chỉ là chuyện chúng ta thường gặp hàng ngày. Nhưng kể lại ở đây, chị muốn các em coi xong rồi thì sẽ suy nghĩ và nếu em nào lỡ mắc phải cái tật khoe khoang hợm hĩnh thì sẽ soi gương để mà nhận bóng, nhận cái bóng không duyên dáng chút nào để mà ngậm ngùi.

Chính mắt chị đã thấy một bà sang trọng, tay đeo đầy kim cương chỉ vào đống thịt bò mà bảo:

- Bán cho tôi hai ký thịt cho chó này đi!

Chị sửng sốt nhìn vào cái đống thịt mà bà bảo là "thịt cho chó ăn". Thì ra đó là những miếng thịt bạc nhạc, cắt vụn, mà nhiều gia đình bà con chúng ta ngày nay không thể mua nổi vì ngân quỹ chỉ cho phép ăn rau với tương, cà.

Liền sau đó, chị thấy một bà khác cũng chỉ vào đống thịt đó mà nói rành rẽ:

- Ông vui lòng bán cho tôi hai trăm grammes thịt này để gia đình tôi ăn.

Các em thân mến, sự khoe khoang hợm hĩnh của bà khách sang trọng tới trước không hề làm cho ai kính phục, mà chỉ khiến cho bà trở nên lố bịch trước mặt mọi người, chắc các em đã thấy rồi chứ.

Đi chợ, chị thường gặp những câu chuyện đại khái:

- Bao nhiêu tiền bó "rau heo" này?

- Mớ "cá mèo" này bao nhiêu?

Những lời nói đó chỉ để ngụ ý rằng mình là người sang trọng, không thèm ăn những đồ tầm thường, mà chỉ mua để cho heo, cho mèo ăn. Đó là điều sai lầm hết sức. Ngoại trừ đồ ăn dành riêng cho heo như bèo, như cám v.v... không bao giờ chúng ta được chỉ vào những món mà người thường ăn để mà mệnh danh là "rau heo", "cá mèo" v.v... dù cho rau đó, cá đó ta mua về cho heo, cho mèo ăn thật.

Một hôm chị đứng mua đồ tạp hóa, thấy cô bé con bà chủ từ trong nhà ngúng nguẩy chạy ra trách mẹ:

- Má sao ưa cá quá vậy? Bữa nào cũng cá! Thấy ghê! Ăn gì nổi!

Ánh mắt bà mẹ chợt tối lại. Chị hiểu bà muốn nói gì. Bà mẹ đó đã quá thương con, nên không nỡ nói thẳng cho cô rõ sự thiếu hiểu biết của cô trước nỗi khó khăn chung của gia đình. Bà mua cá hoài không phải vì bà ưa. Chỉ là do vấn đề tài chính, thịt giá trên một ngàn đồng một ký trong khi cá chỉ có mấy trăm bạc một ký mà thôi. Thời buổi thắt lưng buộc bụng còn có cá mà ăn là quí quá rồi!

Tuổi trẻ bồng bột nhiều khi gây nên tội lỗi mà không hề biết. Cô bé kể trên không hiểu rằng đã làm cho mẹ cô buồn biết bao!

Các em thân mến, trong cuốn "Xã giao hằng ngày", tác giả Nguyễn Cung Vũ đã khuyên chúng ta không nên nói những câu sống sượng như:

- Không thèm! Không chịu! Đâu có! Kệ! Chi? Khỏi! v.v...

Tác giả dặn dò rất đúng. Hơn thế nữa, chúng ta nên tránh những câu có ý khinh thị người khác, hoặc tự đề cao mình như:

- Phở ở tiệm đó tôi ăn không nổi!

Có người ăn được sao mình lại ăn không nổi? Chỉ là tiệm đó nấu phở không ngon thôi chứ.

Hoặc:

- Thứ gạo này nuốt không vô!

Điều đó rất sai lầm. Gạo nào nấu lên chúng ta cũng nuốt được, chỉ không được ngon như gạo khác chẳng hạn mà thôi. Ấy là chưa kể nếu gặp lúc đói kém, gạo gì cũng không có, thì có củ chuối mà nuốt cho đỡ đói cũng tốt.

Có một bà kia muốn tỏ cho ông tài xế tắc xi biết nhà bà sang trọng, có xe hơi tốt, đi êm ru, mới than thở:

- Tôi quen dùng xe nhà, bữa nay đi taxi chóng mặt quá.

Ông tài xế bực mình hỏi lại:

- Vậy chứ xe nhà của bà là xe thổ mộ hay sao mà đi xe hơi bà lại chóng mặt?

Ấy đó! Sự khoe khoang hợm hĩnh không gây được cảm tình nơi người đối thoại mà chỉ làm cho người ta khó chịu với cái sự trưởng giả học làm sang kệch cỡm của mình mà thôi, phải không các em?


Chị ĐỖ PHƯƠNG KHANH     

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 130, ra ngày 1-10-1974)
 
oncopy="return false" onpaste="return false" oncut="return false"> /body>